Khi chiếc Jeep lao như điên trên đường phố, Tremaine kỹ lưỡng ngó mặt những người ngồi trong từng chiếc xe chúng vượt qua.
- Vận may khốn kiếp. Rayfield rền rĩ - Chúng ta bỏ lỡ chỉ vì có mấy phút.
Tremaine lờ đi và dán mắt nhìn vào chiếc xe chạy phía trước. Xe chúng bắt đầu vượt qua đúng lúc chiếc đèn trần trong xe kia bật sáng, chiếu rõ người lái xe và người khách ngồi bên cạnh. Người khách đang mở một chiếc bản đồ.
Tremaine chăm chú nhìn vào bên trong xe rồi bỗng đạp phanh, lái vọt chiếc Jeep sang bên trái rồi đâm ngang ra giữa đường. Chiếc xe nảy lên và lọt bánh sau xuống một rãnh cỏ ven đường. Bánh xe xoay tít cho tới khi chạm được lại mặt đường nhựa và chúng quay ngược trở lại phía văn phòng của Rider.
Rayfield túm lấy vai Tremaine.
- Anh làm cái trò quái gì thế ?
- Chúng ta bị chúng lừa rồi. Thằng ranh và con bé ấy. Câu chuyện của chúng chỉ là chuyện nhảm nhí.
- Làm sao anh biết ?
- Đèn trong phòng tắm.
- Đèn ? Thì sao ?
- Nó không được bật. Con chó cái ngồi trong bóng tối ở đó. Tôi chợt nhận ra khi nhìn thấy đèn trần xe khi nãy bật lên. Khi nó ở trong đó, không hề có ánh sáng nào lọt ra khỏi khe cửa. Lúc nó mở cửa, nó cũng không chạm tay vào công tắc vì trong đó tối sẵn rồi. Nó không hề ngồi nhà tiêu. Nó chỉ đứng trong bóng tối đen như mực trong đó. Thử đoán xem tại sao ?
Mặt Rayfield tái nhợt.
- Vì anh em thằng Harms cũng ở trong đó. Khi nhìn thẳng con đường trước mặt, hắn nghĩ ra một điều nữa - Thằng đó nói tên là John Michaels. Có thể là John Fiske ?
- Và con đó là Sara Evans. Tôi cũng đang nghĩ đây. Anh nên gọi điện cho họ biết đi.
Rayfield cầm điện thoại lên.
- Chúng ta sẽ không đuổi được chúng nữa đâu.
- Phải được.
- Làm thế quái nào được ?
Tremaine đã sử dụng ba mươi năm quân ngũ để giảng và đào tạo về những gì phe đối địch sẽ làm trong những chuỗi sự kiện cụ thể.
- Fiske nói rằng nó nhìn thấy chúng vào một chiếc ôtô con. Ngược lại của ôtô con là xe tải. Nó nói đó là một chiếc xe cổ. Ngược lại là một chiếc xe tải mới. Nó nói chúng đi về hướng bắc, vì thế chúng ta sẽ đi về hướng nam. Mới chỉ có năm phút. Rồi sẽ tóm được chúng.
- Hy vọng là anh đúng. Nhưng nếu đúng là chúng đến văn phòng của Rider thì... Rayfield ngừng lời và căng thẳng nhìn ra ngoài cửa sổ.
Tremaine nhìn sang.
- Thì điều đó có nghĩa là hai anh em Harms không chạy trốn. Có nghĩa là chúng đang tìm kiếm cái ở đó Rider có. Và chắc chắn đó đếch phải là tin tốt lành cho chúng ta. Hắn hất đầu về phía điện thoại - Gọi đi. Chúng ta sẽ chăm sóc cho Harms và anh nó. Họ sẽ phải giải quyết Fiske và đứa con gái đó.
***
Vì tính chất nghiêm trọng của vụ án, FBI cho phép sử dụng phòng thí nghiệm của mình để phân tích viên đạn tìm được trong con hẻm. Việc so sánh với những mẫu mô lấy từ thi thể của Michael Fiske đã kết luận đó chính là viên đạn xuyên qua não anh. Đó là một viên đạn cỡ 9mm của loại súng điển hình thường được trang bị cho lực lượng cảnh sát.
Với những thông tin này, nhân viên mật vụ McKenna ngồi trước màn hình máy tính tại tòa nhà Hoover và đánh máy một yêu cầu khẩn cấp tới cảnh sát bang Virginia. Ông ta nhận được câu trả lời sau vài phút. John Fiske có một khẩu SIG-Sauer 9mm đăng ký tên anh ta, giữ lại từ hồi còn làm cảnh sát. Vài phút sau đó, McKenna đã lên ôtô. Hai giờ sau, ông ta rời khỏi đường số 95 và hướng về các dãy phố tối đen vào trung tâm Richmond. Chiếc xe của ông ta kêu ầm ầm khi đi trên những con đường già cỗi không bằng phẳng của Shockoe Slip. Ông ta đỗ lại ở một khu vực tách biệt gần một ga tàu hỏa cũ.
Mười phút sau đó, McKenna đứng trong văn phòng của John Fiske sau khi dễ dàng mở khóa cánh cửa tòa nhà và cánh cửa vào văn phòng luật sư. Ông ta nhìn quanh không gian tối om bằng một chiếc đèn pin nhỏ. McKenna quyết định lục soát văn phòng của Fiske thay vì căn hộ của anh ta. Chỉ mất hai phút, ông ta đã tìm ra. Khẩu súng lục 9mm khá nhẹ và chắc chắn. Đeo găng cao su, McKenna cầm nó một lúc rồi đút vào túi áo.
Ông ta đưa đèn pin soi quanh phần còn lại của văn phòng. Ánh đèn chiếu tới một thứ khiến McKenna bước về phía giá sách. Ông ta cầm khung ảnh lên. Tấm kính bên ngoài bắt ánh sáng chói khiến McKenna phải cầm khung ảnh tới bên cửa sổ để nhìn dưới ánh trăng.
Anh em Fiske rất giống nhau và đang đứng cạnh nhau trong ảnh. Michael Fiske cao hơn và đẹp trai hơn anh mình, nhưng ánh lửa trong mắt John Fiske cháy sáng mãnh liệt hơn. John đang mặc đồng phục cảnh sát. Như vậy, tấm ảnh được chụp một thời gian trước. Trong bộ đồng phục này, John đã nhìn thấy nhiều thứ trong cuộc đời, cũng giống như những gì McKenna được biết khi làm việc cho FBI. Đôi khi, những kinh nghiệm sống ấy làm cho mắt người ta có lửa như thế. Hoặc cũng có thể dập tắt lửa trong mắt một cách nghiệt ngã.
Ông ta đặt tấm ảnh trở lại chỗ cũ và rời khỏi văn phòng. Năm phút sau, chiếc xe của nhân viên mật vụ FBI lại hướng về phía bắc. Hai giờ sau đó, tại nhà ông ta ở vùng ngoại ô giàu có của Virginia, McKenna ngồi trong phòng làm việc nhỏ và vừa nhấp bia vừa hút thuốc lá. Ông ta cầm khẩu súng lục vừa lấy được của Fiske. Khẩu súng được giữ gìn rất cẩn thận. Fiske đã lựa chọn khá chuẩn. Khi làm cảnh sát, anh ta phải dựa vào khẩu súng này để sống sót. Nhiều năm trước, cảnh sát không phải dùng tới súng. Nhưng điều này đã thay đổi.
McKenna biết Fiske đã giết một người đàn ông bằng khẩu súng này. Bắn một phát súng và cướp đi mạng sống của một người. McKenna hiểu rõ sự phức tạp của cuộc hành trình chỉ kéo dài trong khoảng thời gian vài giây này của viên đạn. Sức nóng của kim loại và mùi thuốc súng buồn nôn. Không giống trong phim ảnh, viên đạn sẽ không đẩy người ta văng lùi lại vài fít. Người ta sẽ ngã ngay tại chỗ bị dính đạn, phân và nước tiểu vãi ra quần rồi đổ vật xuống mặt đất mà không kêu được lấy một lời. McKenna cũng đã từng giết một người. Điều đó xảy ra nhanh và ông ta không làm chủ được bản thân, ông ta nhìn thấy đôi mắt phồng lên, người gập lại. Sau đó, McKenna quay lại chỗ ông ta đứng bắn và phát hiện thấy hai lỗ đạn găm trên bức tường hai phía quanh chỗ ông ta đứng. Người đàn ông đã chết cũng đã bắn. Thật kỳ diệu khi hai viên đạn chỉ đi sượt sang hai bên của người nhân viên FBI. Sau đó, McKenna mới biết rằng mắt anh ta có tật khiến thị lực của anh ta không được chuẩn. McKenna tiếp tục sống, sống để chăm sóc vợ và con của anh ta vì người đàn ông đã chết còn có một đứa con được giám hộ.
Ông ta đặt khẩu súng xuống và quay lại với thực tại. Kẻ chỉ điểm cho ông ta tại văn phòng thư ký đã được thưởng. Ngày mai, cả Fiske lẫn Evans sẽ phải trả lời những câu hỏi hóc búa. Ông ta sẽ nắm lấy Chandler trước, đặt tất cả sự thật trước mắt ông ta và để cho ông thám tử thích gây gổ làm nhiệm vụ của mình. McKenna đứng dậy và đi quanh phòng. Trên tường treo những bức ảnh được đóng khung của ông ta chụp chung với nhiều nhân vật quan trọng. Được sắp xếp cẩn thận trên một chiếc bàn kê cạnh tường là rất nhiều phần thưởng và bằng khen McKenna nhận được do tài năng và lòng can đảm khi phục vụ FBI. Ông ta có một nghề nghiệp dài lâu và hữu ích trong lĩnh vực thực thi luật pháp, nhưng điều đó không thể đền bù cho một sự kiện xảy ra từ lâu khiến ông ta thấy vô cùng hổ thẹn. Nó xảy ra từ nhiều năm về trước và bây giờ những ký ức rõ ràng nhất vẫn bám chặt lấy McKenna. Những gì ông ta làm trước đây chính là lý do khiến ngày nay, McKenna buộc phải dựng chuyện để khép John Fiske vào một tội ác.
McKenna rút một điếu thuốc và âm thầm đi quanh nhà. Vợ ông ta đã đi ngủ từ lâu. Hai đứa con đã trưởng thành và sống tự lập. Cuộc sống gia đình của McKenna có thể coi là thành công về mặt tài chính, mặc dù các nhân viên FBI không bao giờ kiếm được những món tiền lớn, trừ phi họ từ bỏ phù hiệu của mình. Nhưng vợ ông ta, đối tác của một công ty luật ở Washington Dc thì kiếm được. Và do vậy, ngôi nhà thật rộng với những đồ đạc đắt tiền. McKenna quay lại nhìn về phía phòng làm việc. Danh vọng xuất sắc của ông ta được khắc dấu ngăn nắp trên chiếc bàn đó và tồn tại vĩnh cửu trên những bức ảnh đó. McKenna hít một hơi dài khi bóng trăng bao trùm ông ta. Sự ăn năn, hối lỗi là một trách nhiệm suốt đời.
***
Chiếc máy bay chạm xuống mặt đất và chạy trên đường băng trước khi dừng lại. Máy bay lên thẳng thương mại và các máy bay tư nhân khác thường không được hạ cánh tại sân bay Quốc gia sau mười giờ đêm vì lý do hạn chế tiếng ồn, nhưng chiếc máy bay nhỏ Fiske và Sara đang thuê có thể cất cánh và hạ cánh gần như bất cứ lúc nào nó muốn. Vài phút sau, hai người tiến tới bãi đỗ xe của sân bay.
- Chúng ta bay cả một chặng đường tới đó, suýt nữa bị sát hại và quay trở lại tay không. Sara càu nhàu - Một ý tưởng tuyệt vời của em.
- Nghĩ thế là em lầm. Fiske nói.
Họ tìm tới chiếc xe và chui vào.
- Vậy chúng ta được những gì ? Sara hỏi.
- Khá nhiều. Một là, chúng ta được trực tiếp đối mặt với Rufus Harms. Anh nghĩ là anh ta nói thật, dù cho sự thật có thế nào.
- Anh không thể chắc chắn được.
- Sara, anh ta đã đến văn phòng của Rider khi lẽ ra phải cố hết sức trốn chạy khỏi đất nước này. Anh ta đến để lấy lại đơn kháng án đã viết. Tại sao lại làm thế nếu anh ta không tin chắc đó là sự thực ?
- Em không biết nữa. Sara thừa nhận - Nếu đó là đơn anh ta viết, tại sao không viết lại ?
- Rider còn gửi cả tài liệu riêng của ông ấy cùng nữa. Em đã nhìn thấy trong cặp của em trai anh. Bây giờ Rider đã chết và tài liệu đó là cái Harms không thể làm lại. Anh ta cũng còn nhắc đến một thứ do Quân đội gửi cho. Một bức thư. Có lẽ anh ta cho rằng bức thư đó có giá trị nên đến để lấy lại cả hai.
- Nghe có lý hơn rồi.
- Hai tên người của Quân đội khi đó đang trong cơn khát máu tận lùng. Chúng không đến đó tìm Rufus Harms. Chúng đến để lục soát văn phòng của Rider.
- Sao anh biết ?
- Chúng thậm chí còn không buồn hỏi chúng ta xem có kẻ nào khả nghi hoặc giống Rufus hay không nữa. Anh phải tự đưa ra thông tin đó. Chúng không tới một cách chính thức. Giữa đêm, với súng máy. Chúng không phải là quân cảnh. Bọn chúng có quân hàm khá cao, nhìn vào tuổi tác và thái độ thì biết. Đột nhập vào văn phòng thường dân với súng máy giữa đêm không phải là cách Quân đội thực thi nhiệm vụ.
- Có lẽ anh đúng.
- Vì vậy, anh nghĩ có lẽ đơn tố cáo đó có cái gì liên quan tới cá nhân chúng.
- Nhưng thậm chí chúng ta còn không biết chúng là ai
- Có chứ. Rufus đã nói ra tên chúng khi ở văn phòng Rider. Tremaine, Vic Tremaine, còn tên kia là Rayfield. Chúng là người của Quân đội, nghĩa là chúng phải có mối liên hệ nào đó với Fort Jackson. Rufus nói chúng đã từng làm gì đó đối với anh ta. Anh chắc chắn anh ta có ý nhắc tới trại giam hồi trước.
- John, kể cả khi họ thúc giục hoặc thậm chí là ra lệnh cho Rufus Harms giết cô bé đó vì một lý do khốn kiếp nào đó thì cao nhất cũng chỉ có thể buộc họ tội đồng phạm thôi. Và sau tận ngần ấy năm ? Anh biết thừa rằng nếu đó là tất cả những gì Harms có thì nghĩa là anh ấy không có gì hết.
- Vấn đề ở chỗ chúng ta không biết hết về các sự kiện thực tế xảy ra hồi trước. Nếu có người vào gặp Harms trong trại giam vào đêm cô bé đó bị giết thì phải có hồ sơ lưu về việc đó.
Sara nhìn một cách nghi ngờ.
- Lưu sau hai mươi lăm năm ?
- Và còn lá thư của Quân đội Harms nhắc đến nữa. Không hiểu Quân độỉ gửi thư gì cho một tù nhân của chính họ nhỉ ?
- Anh có nghĩ chính bức thư là cái đã khơi nguồn câu chuyện lên không ?
- Bức thư đó có thể có những thông tin trước kia Harms không biết tới. Mặc dù vậy, anh không biết đó có thể là thông tin gì hoặc tại sao trước đây anh ta lại không biết.
- Chờ một chút. Nếu Tremaine và Rayfield tới từ Fort Jackson, tại sao họ lại để cho bức thư đó đến tay Harms ? Nhà tù không kiểm duyệt thư từ của tù nhân sao ?
- Hoặc có thể lá thư đó không được gửi tới nhà tù. Có vẻ Josh Harms biết tất cả. Có lẽ anh ta nhận được thư, kết nối các sự kiện với nhau và cho Rufus biết.
- Và sau đó có thể Rufus giả vờ đau tim để được đưa tới bệnh viện gần nhất và đó chính là nơi Josh giải thoát cho anh ta ?
- Nghe được đấy.
- Ước gì chúng ta biết chuyện gì đã xảy ra ở Fort Jackson hôm đó. Theo những gì Rufus và Josh nói thì việc em trai anh tới nhà từ gặp Rufus đã khá rõ ràng.
- Sao ta không gọi thử hoặc đến nhà tù ? Nếu thế chúng ta sẽ biết có phải Michael đã đến đó hay không.
Fiske lắc đầu.
- Nếu hai kẻ đó là người của nhà tù, chúng sẽ tìm cách che đậy, có thể chuyển những người nhìn thấy Mike rời khỏi Fort Jackson. Và chúng ta cũng không thể đến gặp Chandler vì chúng ta biết nói gì ? Hai thằng cha của Quân đội đang tìm kiếm tù nhân vừa trốn thoát khỏi sự canh giữ của họ. Thế thì sao ?
- Nếu Rayfield và Tremaine làm việc ở Fort Jackson thì đúng là Michael đã tự bước chân vào hang hùm rồi. Ngay cả khi hai anh em anh không thân thiết với nhau, em cũng vẫn rất ngạc nhiên khi anh ấy không gọi cho anh tìm kiếm sự giúp đỡ. Nếu thế có lẽ anh ấy vẫn còn sống.
Fiske lạnh người trước câu nói của Sara và nhắm nghiền mắt lại. Anh không nói gì nữa.
✦ ✦ ✦
Khi tới được ngôi nhà của Sara, Fiske đi thẳng tới tủ lạnh lấy ra một lon bia.
- Em có thuốc lá không ?
Sara nhướn mày.
- Em cứ nghĩ anh không hút thuốc.
- Nhiều năm rồi không hút. Nhưng lúc này anh thưc sự thèm một điếu.
- Anh may đấy. Sara kéo một chiếc ghế lại gần quầy bếp. Cô tụt đôi giày gót thấp và trèo lên mặt ghế - Em phát hiện ra là nếu em giấu thuốc ở một nơi khó lấy, em sẽ bớt thèm hơn. Có lẽ em có tính lười.
Fiske nhìn Sara đứng bằng đầu ngón chân và đưa một tay với lên ngăn tủ cao nhất, ngón tay của bàn tay kia bíu chặt lấy cạnh tủ.
- Sara, xuống đi, để anh lấy cho. Em đang tự giết mình đấy.
- Em tóm được ngay thôi mà, John. Chỉ ở quanh chỗ này thôi. Cô căng người ra hết mức và Fiske thấy mình đang chăm chú nhìn vào đùi trên của cô lộ ra khi váy bị kéo lên theo sức căng cơ thể. Người Sara hơi run rẩy và đung đưa nên anh đưa tay giữ cô ở chỗ eo. Phía sau đùi phải của Sara là một vết chàm nhỏ gần giống một hình tam giác và có màu đỏ sẫm. Nó như nở ra, co lại theo những nỗ lực của cô. Fỉske đưa mắt nhìn xuống bàn chân Sara khi anh tiếp tục giữ cô, bàn tay đặt nhẹ lên phần hông mềm mại của Sara. Ngón chân cô dài và không xếp gọn vào nhau, như thể Sara rất hay đi chân trần. Fiske quay đi chỗ khác.
- Đây rồi. Sara cầm một gói thuốc trong tay - Camels được không ?
- Anh không quan tâm lắm, miễn là đốt cháy được một đầu. Fiske giúp cô tụt xuống khỏi ghế, cầm lấy gói thuốc rồi nhìn Sara.
- Em hút không ? Em là người lấy được nó xuống.
Sara gật đầu. Fiske lấy một điếu cho cô. Họ châm thuốc rồi Sara lấy thêm một lon bia. Hai người đi ra mảnh sân nhỏ phía sau nhà, nơi họ có thể nhìn thấy dòng sông và ngồi xuống một chiếc ghế gỗ đã phai màu.
- Em lựa chọn nhà khá lắm. Fiske nhận xét.
- Lần đầu nhìn thấy, em đã như thấy mình có thể sống mãi mãi ở đây. Cô thu chân vào và khẽ gẩy điếu thuốc vào chấn song rồi nhìn theo tàn thuốc bị cuốn đi theo gió. Cô xoay cổ cho đỡ mỏi và uống một ngụm bia.
- Em bốc đồng thế.
Sara đặt lon bia xuống và ngắm khuôn mặt Fiske.
- Chưa bao giờ anh cảm thấy thế về một điều gì đó ?
Fiske ngẫm nghĩ một lát.
- Không hẳn. Vậy cái gì tiếp nối sau đó ? Chồng, con cái ? Hay chỉ hoàn toàn là con đường công danh sự nghiệp ? Anh rít một hơi thuốc ngắn và chờ đợi câu trả lời của cô.
Sara uống một hớp bia khác và nhìn chuỗi ánh sáng do đèn xe ôtô tạo thành trên cầu Woodrow Wilson ở phía xa. Sau đó cô đứng dậy.
- Anh có muốn đi thuyền không ?
Fiske ngẩng lên nhìn cô ngạc nhiên.
- Bây giờ hơi muộn rồi.
- Không muộn hơn chuyến đi lần trước của chúng ta. Em có giấy phép và có đèn thuyền. Chúng ta sẽ làm một vòng chậm chậm rồi quay về. Trước khi Fiske kịp trả lời, Sara biến mất vào trong nhà. Hai phút sau, cô quay trở ra với quần bò cộc, áo không tay và giày bệt, tóc buộc gọn phía sau.
Fiske nhìn xuống quần áo và giầy của mình.
- Anh không mang quần áo bơi thuyền theo.
- Không sao cả. Em mới là người lái thuyền. Sara đã uống hết hai lon. Họ đi xuống chỗ cầu tàu. Độ ẩm rất cao và mồ hôi Fiske túa ra khi giúp Sara chuẩn bị buồm. Khi đứng trên mũi tàu sắp xếp các thiết bị phục vụ buồm, Fiske trượt chân và suýt ngã xuống nước.
- Nếu anh ngã xuống sông Potomac, chúng ta sẽ chẳng cần tới trăng nữa, tự anh sẽ tỏa sáng. Sara nói và cười to.
Nước lặng, không có gió thổi tới từ bờ, vì thế Sara khởi động máy phụ và họ chạy máy ra giữa sông, nơi cánh buồm đón được làn gió và căng lên bởi không khí ấm áp. Họ di chuyển chậm rãi theo những hình ôvan trong một giờ đồng hồ. Thuyền có đèn, trăng đang ở tuần thứ ba trong tháng và trên sông không hề có tàu thuyền nào khác.
Fiske thử điều khiển bánh lái và Sara hướng dẫn anh cho tới khi anh cảm thấy hoàn toàn làm chủ. Mỗi khi họ đổi hướng chạy theo hướng gió khác khiến cánh buồm chính lắc đều rồi xẹp xuống, Fiske cúi nhanh xuống và Sara nâng chiếc sào căng buồm lên cho tới khi tấm vải bạt lại căng gió trở lại và đẩy họ đi tiếp.
Cô nhìn anh và mỉm cười.
- Thật tuyệt vời khi tóm được một thứ không trông thấy nhưng đầy sức mạnh và buộc nó phải làm theo mệnh lệnh của mình, phải không ? Cách nói đầy nữ tính của Sara khiến anh cũng mỉm cười theo. Họ uống bia, mỗi người hút thêm một điếu thuốc sau khi cố gắng hết sức mới châm được lửa dưới làn gió thổi mạnh. Họ nói chuyện về những điều không liên quan tới những sự kiện hiện tại và cảm thấy nhẹ người khi được làm điều đó, cho dù chỉ trong thời gian ngắn ngủi.
- Anh có một nụ cười rất dễ chịu. Sara nhận xét - Anh nên cười thường xuyên hơn.
Đến khi họ hướng thuyền quay lại, ngón tay cái của Fiske đã có một vết rộp do giữ chặt dây sào căng buồm.
Họ neo thuyền vào bến và cuộn buồm lại. Sara đi về phía ngôi nhà và quay trở lại sau khi lấy thêm bia cùng một túi khoai tây chiên.
- Không nên để mọi người nghĩ rằng em không cho khách tới nhà ăn gì.
Họ ngồi trên thuyền uống bia và ăn dần khoai tây chiên. Gió bắt đầu thổi mạnh và nhiệt độ hạ xuống đột ngột khi một cơn bão muộn trong đêm tràn tới. Họ ngồi nhìn những đám mây chuyển dần thành màu đen từ rìa ngoài và những tia chớp bắt đầu xuất hiện ở đường chân trời. Mặc áo không tay nên Sara rùng mình một chút vì hơi lạnh. Fiske đưa tay ôm lấy cô. Sara dựa vào người anh. Một vài giọt mưa rơi xuống và Sara bật dậy. Với sự trợ giúp của Fiske, cô kéo các tấm vải nhựa ra và phủ vào những ngăn không có nắp che của chiếc thuyền.
- Tốt hơn cả là chúng ta vào trong nhà. Cô nói.
Họ đi về phía ngôi nhà, cuối cùng thì chạy khi mưa bắt đầu đổ xuống như thác.
- Ngày mai sẽ là một ngày dài. Sara nói khi nhìn vào chiếc đồng hồ trong phòng bếp, thấm nhẹ mái tóc ướt bằng một chiếc khăn giấy.
- Nhất là khi đêm trước lại không ngủ, Fiske nói thêm và ngáp. Họ tắt đèn và đi lên gác.
Sara chúc anh ngủ ngon và đi vào phòng mình. Fiske đứng ngoài cửa ra vào và nhìn theo khi thấy Sara mở cửa sổ đón gió thổi vào cùng vài giọt nước mưa. Một tia chớp lóe sáng trên bầu trời rồi tiếp đất ở một nơi nào đó. Kèm theo là một tiếng sấm xé tai. Quá nhiều quyền lực, Fiske thầm nghĩ. Anh đi theo hành lang vào một phòng ngủ khác và cởi quần áo. Anh ngồi trên giường, mặc quần cộc và áo phông, lắng nghe tiếng mưa. Căn phòng này ngột ngạt nhưng anh không ra mở cửa sổ. Ngôi nhà quá cũ để lắp đặt hệ thống làm thoáng khí trung tâm và cũng không có máy điều hòa nhiệt độ. Rõ ràng, Sara thích sự mát lạnh do gió thổi từ sông đưa lại. Chiếc đồng hồ treo trên bức tường đối diện cứ tích tắc theo từng giây trôi qua. Anh thấy mình đang đo mạch của mình theo nó. Tim anh đang đập thình thịch, hàng galông máu đang bơm mạnh trong đó.
Fiske mặc quần dài, đứng dậy và ra ngoài hành lang. Phòng của Sara đã tối nhưng cửa vẫn mở. Rèm cửa tung lên rồi hạ xuống theo nhịp gió. Fiske đứng ở cửa ra vào và nhìn Sara khi đó đang nằm trên giường với một tấm chăn mỏng đắp trên người.
Cô đang nhìn anh khi anh nhìn cô. Có phải Sara đang đợi anh không ? Để cho anh tự đến với cô lần này ? Fiske ngập ngừng đi vào trong phòng, như thể đây là lần đầu tiên anh vào phòng ngủ của một phụ nữ. Sara không cựa quậy và cũng không nói gì, không khuyến khích cũng không phản đối.
Fiske nằm xuống cạnh cô và lập tức Sara xích lại nằm sát vào anh, như không muốn cho anh cơ hội quyết định lại và lẩn trốn cô nữa. Sara không mặc quần áo. Người cô ấm áp, làn da mịn màng, ngực mềm mại và ấm nồng. Mùi không khí từ bên ngoài ùa vào thấm đẫm người họ. Tóc Sara rối tung và buông trên khuôn mặt. Môi cô mím vào rồi lại mở ra. Ngón tay cô nhẹ nhàng vuốt ve khắp người Fiske. Họ cùng cởi quần dài của anh và vứt nó trên sàn nhà.
Họ hôn nhau, mới đầu nhẹ nhàng, sau đó sâu hơn.
Sara chuyển động để cởi áo phông của anh ra, để cọ xát thân thể với ngực và bụng anh. Fiske đẩy tay Sara rồi kéo áo xuống. Khi mưa đập xuống mái nhà và sượt mạnh bên ngoài lớp kính cửa sổ, Fiske cởi bỏ quần lót, nhấc người và nằm lên trên người Sara.
***
Sara tỉnh dậy sớm khi tia sáng đầu tiên của ánh nắng mặt trời mới chỉ kịp buông trên thành cửa sổ. Cơn bão mang tới những làn không khí mát lạnh tuyệt diệu và chỉ một giờ nữa, bầu trời đang có màu hồng và xám sẽ chuyển hoàn toàn sang màu xanh da trời sâu thẳm. Cô quờ tay sang chạm vào người Fiske nhưng chỉ thấy một khoảng trống bên cạnh. Sara vội nhỏm dậy nhìn quanh. Cuốn chiếc chăn mỏng quanh người, cô chạy ra ngoài hành lang và kiểm tra phòng ngủ dành cho khách. Trong đó cũng trống không. Buồng tắm cũng vậy. Hoảng hốt, Sara chạy ra đầu cầu thang rồi dừng lại, một nụ cười nở trên gương mặt.
Cô nhìn Fiske khi anh rót một cốc cà phê rồi quay trở lại với những quả trứng đã được đập vào một chiếc bát và cho phomát đã nghiền thành bột vào đó. Sara đứng ở đầu cầu thang và ngửi thấy mùi hành phi trong dầu. Fiske đã mặc quần áo nghiêm chỉnh, tóc còn ướt sau khi tắm. Khi quay lại mở tủ lạnh, anh trông thấy cô.
Sara xiết chặt tấm chăn mỏng quanh người thêm một chút.
- Em cứ tưởng anh đi rồi.
- Anh nghĩ nên để em ngủ thêm. Hôm qua ngủ muộn.
Một đêm tuyệt diệu, Sara muốn nói nhưng không nói được.
- Anh ổn chứ ? Cô cố gắng hỏi thật bình thường, vẫn chưa hiểu hết những thông điệp tế nhị trong lời nói, cử động và nét mặt của Fiske, đặc biệt sau khi họ vừa mới làm tình với nhau. Có phải việc anh chọn trứng thay vì nằm cạnh nhau cho tới khi cả hai cùng thức dậy là một dấu hiệu xấu không ?
- Anh khoẻ, Sara. Fiske mỉm cười như để chứng minh những gì anh vừa nói.
Cô cũng cười với anh.
- Anh đang làm cái gì mà mùi hấp dẫn thế.
- Không có gì đặc biệt. Chỉ là ốp lết thôi.
- Em thường ăn bánh mì khô và uống cà phê. Một sự thay đổi dễ chịu. Em tắm có kịp không ?
- Nhanh lên.
- Không như đêm qua đâu. Sara mỉm cười, nhướn lông mày rồi quay đi. Tấm chăn mỏng phía sau hoàn toàn mở rộng.
Fiske nhìn theo, lại thấy bị kích thích trước tấm thân trần truồng với cái lưng mảnh dẻ đầy gợi tình cùng đôi chân và cặp mông của Sara. Anh ngồi xuống chiếc bàn trong bếp và nhìn quanh không gian ấm cúng. Anh vừa đứng ở mảnh sân sau nhà một lúc và nhìn mặt trời mọc. Bình minh luôn tinh khiết hơn khi ngắm nhìn trên mặt nước, như thể hai yếu tố thiết yếu là nước và lửa đang biểu diễn một màn trình diễn về tinh thần vĩnh cửu của cuộc sống. Anh lại đưa mắt nhìn về phía cầu thang và nghe thấy tiếng vòi hoa sen bắt đầu xối nước. Anh đã ngắm nhìn Sara khi cô ngủ. Bóng tối của màn đêm như một lớp phủ khiến anh thấy như mình thuộc về cô và cô thuộc về anh. Nhưng sau đó, ánh sáng rõ ràng ban ngày lại đã tới. Fiske nhấc cốc cà phê lên miệng rồi lại vội đặt xuống. Nếu anh gọi điện lại ngay thì có lẽ Mike vẫn còn sống. Fiske không bao giờ lẩn tránh được khỏi sự thật đó. Anh sẽ phải sống với nó mãi mãi.