Những bậc thang dẫn lên toà nhà của Tòa án tối cao Hoa Kỳ rất rộng và dường như kéo dài vô tận. Bước trên đó chẳng khác nào nặng nhọc trèo lên đỉnh Olympia để thỉnh cầu tiếp kiến thần Dớt. Thực tế thì cũng đúng như thế. Mặt tiền bên trên lối vào chính có khắc dòng chữ thực thi công lý theo luật pháp. Cụm từ này không phải được trích dẫn từ một văn kiện quan trọng hoặc một quy tắc xét xử nào, mà chính là tác phẩm của Cass Gilbert, kiến trúc sư đã thiết kế và xây dựng toà nhà. Tất cả chỉ là vấn đề về mặt không gian: chúng vừa vặn một cách hoàn hảo với khoảng trống mà Gilbert dành cho mục đích ấy.
Toà nhà trang nghiêm này có bốn tầng. Thật trớ trêu làm sao khi vào năm 1929, đúng năm sụp đổ của thị trường chứng khoán dẫn tới cuộc đại suy thoái, Quốc hội lại quyết định dành riêng một khoản vốn khổng lồ để xây dựng toà nhà. Một phần ba của tổng kinh phí chín triệu đôla Mỹ được đem ra để mua đá cẩm thạch. Đá Vermont chính hiệu lát ở mặt ngoài được chuyên chở tới bằng nhiều vô kể các toa xe lửa mui trần; bốn phòng xử án bên trong được lát đệm thêm đá Georgia giả pha lê, còn đá Alabama màu sữa thì được dùng để lát gần như toàn bộ tường và nền nhà của phần nội thất, ngoại trừ ở Đại sảnh. Nền ở đó được lát bằng đá cẩm thạch màu sẫm hơn của Ý, ngoài ra còn có thêm cả đá châu Phi. Các cột đá trong đại sảnh được đúc từ những phiến đá cẩm thạch của Ý, khai thác từ mỏ Montarrenti và vận chuyển bằng tàu biển tới Knoxville, bang Tennessee. Những người công nhân bình thường đã phải lao động vất vả để biến các phiến đá thô ban đầu thành những cột đá có chiều cao ba mươi fút làm cột chịu lực vững chắc cho toà nhà. Kể từ năm 1935, nơi đây đã trở thành nhà với đầy đủ ý nghĩa của từ này cho chín người đàn ông và thêm một người phụ nữ nữa từ năm 1981. Tất cả họ đều thành đạt một cách phi thường. Những người ủng hộ thì cho rằng tòa nhà là một biểu tượng tuyệt vời của phong cách kiến trúc Hy Lạp. Còn những người phản đối lại mỉa mai nóỉ rằng, đây giống như một cung điện được xây dựng nhằm làm thỏa mãn những mong muốn điên rồ của những vị vua chúa chứ không phải là một nơi ban phát công lý đến cho mọi người.
Nhưng từ thời của John Marshall, Tòa án đã trở thành người bảo vệ và người thực thi Hiến pháp. Toà án tối cao có thể bãi bỏ những hành động trái pháp luật của Quốc hội. Chín con người ở đây có thể buộc một vị chủ tịch đương chức phải giao nộp các cuốn băng và các tài liệu cuối cùng sẽ dẫn tới sự thất sủng và buộc phải từ chức của ông ta. Sát cánh cùng quyền lập pháp của Quốc hội và quyền hành pháp của một nhiệm kỳ tổng thống, bộ máy tư pháp Hoa Kỳ, dẫn đầu là Tòa án tối cao, là một cơ quan chính phủ ngang hàng. Và nó đã làm được cái chức năng cầm quyền ấy của mình, vì thông qua tính hiệu lực của các quyết định của mình đối với bất cứ một vấn đề quan trọng nào của đất nước, Tòa án tối cao luôn tự hướng mình và định hướng hoạt động của mình theo nguyện vọng của nhân dân nước Mỹ.
Người đàn ông đứng tuổi đang chậm rãi đi xuống phòng Đại sảnh mang trên mình cái truyền thống vinh dự ấy. Ông là một người cao và to xương, có đôi mắt màu nâu nhạt chẳng cần tới kính vẫn rất tuyệt vời dù đã qua bao thập kỷ nghiên cứu những hàng chữ in nhỏ li ti. Tóc ông đã gần rụng hết, đôi vai trở nên hẹp và còng xuống theo năm tháng, còn chân đi hơi khập khiễng. Tuy thế, Chánh án Harold Ramsey vẫn là một người đầy nghị lực cương cường và sở hữu một trí tuệ không ai sánh bằng. Những điều đó quá đủ để đền bù cho mọi khập khiễng của cơ thể. Ngay cả bước chân của ông dường như cũng mang tính quả quyết đặc biệt của riêng chúng.
Ông là luật gia cao cấp nhất của nước Mỹ và đây là Tòa án của ông, tòa nhà của ông. Các phương tiện truyền thanh từ lâu đã gọi nơi đây là Tòa án Ramsey, cũng giống như họ đã từng gọi nó là Tòa án Warren và hàng loạt tên của những người tiền nhiệm khác. Điều đó giống như một hình thức kế thừa tài sản qua các thời kỳ. Ramsey điều hành tòa án của mình một cách chặt chẽ và nghiêm minh. Mười năm đã trôi qua trong sự đồng lòng của đa số nhân viên Tòa án. Ông yêu thích vòng quay của những vụ giao dịch, thương lượng đằng sau cánh gà Tòa án, nơi mà bất cứ một từ ngữ hoặc một câu nói được thận trọng đưa ra vào một thời điểm nào đó, để tỏ ra chút ít nghiêng về quan điểm của ai đó, đều là nhằm nhận lại một sự ủng hộ trong một dịp khác về sau. Ở đây, ai cũng kiên nhẫn chờ đợi tới khi có một vụ án thích hợp để dùng nó như một phương tiện đạt tới sự thăng tiến, nhiều khi bằng những cách mà các đồng nghiệp không hề ngờ tới. Lựa chọn sao cho đủ năm phiếu thuận để coi như được đa số tán thành nay đã trở thành nỗi ám ảnh thường trực trong Ramsey.
Ông đã đến với Toà án này lúc đầu với tư cách một cộng tác viên và sau đó được nâng lên hàng số một mười năm về trước, về mặt lý thuyết thì ông là một nhân vật ngang hàng trong số những người dẫn đầu, nhưng trên thực tế thì lại là một cái gì đó hơn thế. Ramsey là một người có đức tin mãnh liệt và vô cùng điềm đạm. May mắn cho ông, ông được bổ nhiệm vào Tòa án vào thời kỳ mà quá trình lựa chọn ấy không bị ảnh hưởng bởi những yếu tố chính trị như ngày nay. Không hề có những câu hỏi gây phiền hà về quan điểm của ứng cử viên đối với các vấn đề luật pháp cụ thể như nạo phá thai hay hình phạt tử hình. Cũng chẳng ai đòi hỏi ứng cử viên phải có dáng bộ hoặc cử chỉ thật quả quyết, dứt khoát là những gì mà việc tiến thân chính trị ngày nay đòi hỏi bắt buộc phải có. Thời trước, nếu như Tổng thống bổ nhiệm một ai đó thì chỉ cần một lý lịch tốt theo đúng yêu cầu và không có chuyện xấu xa nào từng xảy ra, người đó sẽ được chấp thuận.
Thượng nghị viện đã hoàn toàn đồng lòng phê chuẩn Ramsey. Thực sự thì họ cũng không có lựa chọn nào khác. Trình độ học vấn và kiến thức luật pháp của ông đứng vào hàng số một. Tất cả các bằng cấp đều xếp hạng cao nhất trong mỗi lớp và đều do nhóm các trường đại học nổi tiếng ở miền Đông nước Mỹ cấp. Thêm nữa, với việc đưa ra học thuyết độc đáo và có ảnh hưởng sâu rộng về xu hướng phát triển của luật pháp, ông đã đoạt được một giải thưởng lớn dành cho chuyên gia pháp lý. Sau đó, ông được bổ nhiệm về Tòa thượng thẩm liên bang rồi chẳng mấy chốc tiến tới chức Chánh án ở đây. Trong suốt thời kỳ Ramsey nắm giữ chức vụ ở Tòa thượng thẩm, Tòa án tối cao chưa bao giờ huỷ bỏ bất cứ một quyết định nào của ông. Trong những năm ấy, Ramsey đã miệt mài xây dựng cho mình những mối quan hệ rộng rãi và làm tất cả những gì cần thiết trong quá trình theo đuổi cái vị trí mà ông đang cố gắng nắm giữ càng chặt càng tốt lúc này.
Ông đã giành được vị trí ấy. Chẳng hề có cái gì được cho không. Đó là một trong những điều ông tin chắc. Nếu làm việc cật lực, người ta sẽ thành công ở nước Mỹ. Không một ai, người nghèo, người giàu hay người của tầng lớp trung lưu được quyền nhận của bố thí. Nước Mỹ là mảnh đất của cơ hội, nhưng người ta phải làm việc để có nó, phải đổ mồ hôi để giành giật được nó, phải hy sinh nhiều thứ để đoạt được nó. Ramsey không thể chịu đựng được những lời bào chữa của mọi người khi bản thân họ không chịu tiến lên phía trước. Ông sinh ra trong cái nghèo thăm thẳm xơ xác với một người cha nát rượu và ngược đãi gia đình. Ramsey cũng không tìm thấy nơi nương tựa ở mẹ mình: cha ông đã đè bẹp mọi bản năng người mẹ ở bà. Ông có một khởi đầu cuộc sống tệ hại không chút hứa hẹn như thế, nhưng hãy thử nhìn vào địa vị của ông bây giờ xem sao. Nếu ông có thể sống sót và thành công trong hoàn cảnh như thế thì những người khác cũng phải làm được như vậy. Còn nếu họ không làm được thì đó là lỗi của họ và ông không chấp nhận một lý do nào khác.
Ông thở dài một hơi mãn nguyện. Lại một nhiệm kỳ nữa ở Tòa án vừa mới bắt đầu. Mọi việc đang diễn ra trôi chảy. Nhưng có một điều cản trở. Sức mạnh của mọi cỗ máy hoàn toàn phụ thuộc vào mắt xích yếu nhất của nó. Mà ông lại có một trong những mắt xích yếu nhất ấy. Thất bại nặng nề tiềm tàng của ông. Có thể là lúc này mọi việc đều ổn cả, nhưng năm năm nữa thì sao ? Tốt hơn cả là nên giải quyết những vấn đề kiểu này càng sớm càng tốt, trước khi chúng kịp bung ra ngoài tầm kiểm soát.
Ông biết cuộc chiến đấu của mình sắp vấp phải một khó khăn, đó là Elizabeth Knight. Cô ta cũng thông minh như ông và có thể cũng cứng rắn như ông. Ông biết điều đó ngay từ ngày việc bổ nhiệm cô được phê chuẩn. Một phụ nữ lịch lãm trong tòa án của một ông già. Ngay từ ngày đầu tiên và cho tới tận bây giờ, ông đã tìm cách tác động tới Knight. Khi cô ta tỏ ra là một người trung lập, ông đã từng sẵn lòng nhượng bộ quan điểm của cô ta, với hy vọng rằng trách nhiệm phảỉ viết bản dự thảo để làm sao nhận được đa số phiếu ủng hộ sẽ làm cho cô ta đứng về cùng phe với ông. Ông đã cố gắng làm cho Knight phải đứng dưới sự bảo hộ của mình rồi dẫn dắt cô ta vượt qua những phức tạp trong công việc ở Tòa án này. Nhưng cô ta vẫn tỏ rõ tính nết độc lập ương bướng của mình.
Ramsey từng biết nhiều Chánh án dần dần trở nên tự mãn, buông lỏng sự đề phòng và kết quả là vị trí lãnh đạo của họ bị những kẻ khác siêng năng hơn, mẫn cán hơn chiếm đoạt. Ramsey quyết không bao giờ để mình rơi vào tình trạng ấy.
***
- Murphy quan tâm đến vụ Chance, Michael Fiske nói với Sara Evans. Họ đang ngồi trong văn phòng của cô trên tầng hai trong tòa nhà Tòa án. Michael, cao sáu fút hai và đẹp trai với dáng phong nhã của một người trước đây từng là vận động viên. Phần lớn các thư ký trước đây, thường chỉ làm một năm ở Tòa án tối cao rồi chuyển tới những vị trí có uy tín trong lĩnh vực hành nghề tư nhân, dịch vụ công cộng hoặc trong giới học viện. Michael gần như là ngoại lệ đầu tiên khi đã làm việc ở đây tới ba năm với tư cách là thư ký cao cấp cho thẩm phán Thomas Murphy, một người theo chủ nghĩa tự do trong Tòa án.
Michael có một trí tuệ đáng ngạc nhiên. Bộ não của anh giống như một cỗ máy phân loại tiền: các dữ liệu được nạp vào đầu anh rồi nhanh chóng được phân loại và sắp đặt vào đúng vị trí cần thiết. Căn cứ theo một thực tế nào đó, anh có thể tưởng tượng trong óc hàng tá những chuỗi sự kiện phức tạp trong tương lai có thể xảy ra rồi lần lượt kiểm nghiệm xem mỗi sự kiện sẽ có tác động thế nào tới các sự kiện khác. Ở Tòa án này, anh sung sướng được dốc hết sức mình cho những vụ án có tầm quan trọng quốc gia, mà đi kèm luôn là nhận và trao những sự đe dọa về mặt tinh thần. Michael nhận thấy rằng, ngay cả trong những cuộc tranh luận cân não ác liệt nhất thì đằng sau những lời tuyên bố mang tính luật pháp đơn thuần vẫn luôn luôn có những cơ hội, những thời điểm của một điều gì đó sâu sắc, bí hiểm hơn thế. Anh thực sự không muốn rời khỏi Tòa án tối cao này. Thế giới ngoài kia chẳng có gì hấp dẫn đối với Michael.
Sara nhìn một cách lo lắng. Trong phiên tòa trước, Murphy đã đề nghị được xét xử vụ của Chance. Mọi người đã tranh luận miệng với nhau và biên bản ghi nhớ của phiên tòa đã được lập. Sara đang ở độ tuổi giữa hai mươi, khoảng hai mươi lăm, tuy mảnh dẻ nhưng cơ thể lại có những đường cong rất tinh tế. Cô có một khuôn mặt dễ chịu với cặp mắt to và xanh. Mái tóc dày màu nâu nhạt thường chuyển sang vàng mỗi khi mùa hè tới, dường như lúc nào cũng có một mùi hương nhẹ nhàng thơm mát. Cô là thư ký cao cấp của thẩm phán Elizabeth Knight.
- Em không hiểu. Em nghĩ là ông ấy muộn mất rồi.
Một con người bé nhỏ chống lại cả một bộ máy công chức lớn.
- Ông ấy cũng là một tín đồ trung thành luôn ủng hộ các tiền lệ.
- Kể cả khi những tiền lệ ấy là sai ?
- Sara, em đang hát theo dàn hợp xướng, nhưng anh nghĩ cũng chẳng sao. Knight sẽ không có nổi năm phiếu thuận nếu không có ông ấy, em cũng biết điều đó. Kể cả khi có ông ấy thì chị ấy có thể cũng không thắng được cơ mà.
- Vậy thì ông ấy muốn gì ?
Đó là cái cách mà sự việc thường vẫn diễn tiến trong cái mạng lưới của những thư ký nổi tiếng. Họ xoay xở ngược xuôi, tranh luận và tìm mọi cách kiếm được phiếu ủng hộ cho thẩm phán của mình, y hệt như những kẻ vụ lợi chính trị trơ trẽn. Các quan tòa không được phép công khai vận động hành lang để nhận phiếu ủng hộ cho việc thêm một đoạn văn nào đó vào quyết định cũng như việc thêm hoặc bớt một khía cạnh cụ thể trong đó. Nhưng thư ký thì được phép làm điều này. Trên thực tế, đa số trong họ lấy làm tự hào khi được tham gia vào quá trình vận động ấy. Nó không khác gì những tin tức không bao giờ hết, thu hút được sự quan tâm tầm cỡ quốc gia trong cột tin tức lượm lặt trên báo chí. Chúng diễn ra dưới sự kiểm soát của những người ở độ tuổi hai mươi lăm.
- Không nhất thiết là ông ấy phải chống lại quan điểm của Knight. Nhưng nếu Knight nhận được năm phiếu ủng hộ trong cuộc họp, quyết định sẽ được rút ra trong phạm vi rất hẹp. Ông ấy sẽ không từ bỏ đâu. Murphy đã từng tham gia Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Ông ấy vô cùng coi trọng vụ này và tin rằng nó xứng đáng được nhận sự quan tâm đặc biệt. Em cần phải biết điều đó khi em làm tổng kết quyết định sơ thảo.
Sara gật đầu tán thành. Lý lịch của các thẩm phán đóng vai trò rất cao trong quá trình ra quyết định của họ, cao hơn mức người ta có thể tin được.
- Cám ơn anh. Nhưng trước hết Knight phải nhận được quyết định để viết đã.
- Tất nhiên chị ấy sẽ nhận được. Em biết là Ramsey sẽ không bỏ phiếu lật đổ Feres và Stanley mà. Chắc chắn Murphy sẽ bỏ phiếu ủng hộ vụ Chance trong cuộc họp. Murphy là cấp phó cao cấp, nên ông ấy sẽ ký quyết định. Nếu Knight nhận được năm phiếu ủng hộ trong cuộc họp thì ông ấy sẽ đứng về phía chị ấy. Nếu chị ấy đưa ra được những điều có giá trị, nghĩa là không chung chung, không dùng từ ngữ đại khái qua loa thì tất cả chúng ta đều ổn cả.
Hoa Kỳ và Chance là một trong những vụ quan trọng nhất trong sổ ghi án của nhiệm kỳ vừa qua. Barbara Chance đã từng là binh nhì trong quân ngũ. Cô đã bị đe doạ, quấy rối và làm cho sợ đến chết khiếp nên phải chấp thuận quan hệ tình dục nhiều lần với vài nam đồng nghiệp cấp trên. Vụ án đã được xét xử ở nhiều cấp khác nhau trong nội bộ quân đội và kết quả là một trong số những kẻ đó đã bị đưa ra tòa án quân sự và bị bỏ tù. Tuy nhiên, Barbara Chance không cảm thấy hài lòng. Sau khi ra khỏi quân ngũ, cô đã kiện Quân đội ra tòa vì những tổn thương gây ra cho mình và cho rằng Quân đội đã dung túng cho sự tồn tại của một môi trường xấu nguy hại cho cô và các nữ đồng nghiệp của mình.
Vụ án được xem xét một cách chậm chạp đúng theo các trình tự pháp lý và Chance cứ mất dần cơ hội. Làm bộc lộ đủ nhiều các lỗ hổng của luật pháp nên cuối cùng, vụ án rơi tõm xuống như một con cá ngừ lớn nằm chình ình trước lối vào của tòa nhà.
Trớ trêu thay khi luật pháp hiện tại cho rằng Chance không có cơ hội thắng kiện. Quân đội chính thức được miễn khỏi các vụ kiện tụng liên quan tới người của họ vì bất kỳ thiệt hại nào do họ gây ra, bất chấp nguyên nhân của tội lỗi. Nhưng thẩm phán có thể thay đổi những gì luật pháp quy định. Knight và Sara Evans đang cố gắng hết sức mình sau cánh gà để làm được điều đó. Sự ủng hộ của Thomas Murphy là tối cần thiết cho kế hoạch này của họ. Có lẽ Murphy sẽ không ủng hộ việc huỷ bỏ hoàn toàn quyền miễn trừ của quân đội, nhưng ít nhất vụ của Chance có thể thụi một lỗ hổng vào bức tường bất khả đánh bại của quân đội Hoa Kỳ.
Dường như còn quá sớm để bàn bạc về giải pháp cho một vụ án vẫn còn chưa được đem ra xét xử, nhưng đối với nhiều thẩm phán và trong nhiều vụ, việc tranh luận miệng là điều cần thiết. Trong thời gian nó được truyền đi truyền lại, phần lớn thẩm phán đã tự đưa ra quyết định trong đầu. Giai đoạn tranh luận này trong quá trình xét xử một vụ án là cái gì đó hơn cả một cơ hội để các thẩm phán thể hiện vai trò của mình và những mối quan tâm của họ tới các đồng nghiệp, thường thì bằng cách sử dụng những biện pháp cực đoan. Chúng cũng na ná như những thủ đoạn đe doạ về mặt tinh thần, như thể nói rằng: "Nếu anh có ý định như thế thì hãy cứ đợi xem điều gì sẽ xảy ra, bạn của tôi ạ !".
Michael đứng nhìn Sara. Hình như Sara đã ký nhận làm thêm một nhiệm kỳ nữa cho Tòa án. Lớn lên từ một trang trại nhỏ ở nam Carolina và tốt nghiệp ở trường đại học Stanford, giống như tất cả các thư ký ở đây, một tương lai nghề nghiệp tuyệt vời đang chờ đón cô khi nào cô rời khỏi Tòa án. Lý lịch ghi rõ từng làm thư ký ở Tòa án tối cao là một chiếc chìa khóa vàng bước vào bất cứ nơi đâu một luật sư mong muốn. Điều đó đôi khi tác động theo chiều hướng xấu tới một số thư ký, khiến cho họ tự thổi phồng bản thân trong khi tài năng thực sự của họ không hề đạt được đến thế. Mặc dù vậy, Michael và Sara vẫn giữ nguyên được bản chất như họ từng có. Bên cạnh sự thông minh của cô thì một lý do khiến Michael một tuần trước đã hỏi cô một câu rất quan trọng, chính là vì sự xinh đẹp và cá tính biết cân nhắc đầy thú vị của cô. Một câu hỏi mà anh mong muốn nhận được câu trả lời càng sớm càng tốt. Có thể là lúc này. Chưa bao giờ anh là người đàn ông đủ kiên nhẫn.
Sara ngẩng lên nhìn anh chờ đợi.
- Em đã nghĩ tới câu hỏi của anh chưa ?
Cô biết đã đến lúc anh hỏi cô điều đó. Cô đã cố né tránh nó nhiều lần.
- Đó là tất cả những gì em đã và đang nghĩ đến.
- Người ta nói rằng nếu nghĩ về điều gì đó quá lâu thì đó là dấu hiệu xấu. Anh nói một cách vui vẻ nhưng rõ là sự hài hước ấy có vẻ hơi phải cố gắng.
- Michael, em rất quý anh.
- Quý ư ? Trời ơi, lại một dấu hiệu xấu nữa. Mặt anh bỗng nóng bừng.
Cô lắc đầu.
- Em rất tiếc.
Michael nhún vai.
- Cũng không tiếc nổi bằng nửa anh đâu. Từ trước tới nay chưa bao giờ anh cầu hôn ai ngoài em.
- Anh cũng là người đầu tiên hỏi em. Và em có thể nói với anh rằng em vô cùng hãnh diện vì điều đó. Anh đã giành được vị trí đó trong em.
- Trừ một thứ. Michael nhìn xuống hai bàn tay hơi run run của mình. Đột nhiên anh cảm thấy làn da như dán chặt vào cơ thể. Anh tôn trọng quyết định của em. Anh cũng không thuộc số người cho rằng người ta có thể dần dần yêu được ai đó. Tình yêu hoặc là có sẵn, hoặc là sẽ không bao giờ đến.
- Rồi anh sẽ gặp được người khác, Michael. Và đó sẽ là một cô gái hết sức may mắn. Sara cảm thấy lúng túng. Nhưng em hy vọng rằng chuyện này không làm em mất đi người bạn tốt nhất của mình ở Tòa án này.
- Chắc chắn là mất. Michael giơ hai tay lên khi cô có ý định phản đối. Anh đùa thôi mà. Rồi anh thở dài. Anh không muốn em có cảm giác anh tự cao tự đại nhưng đây là lần đầu tiên có người thực sự đánh hỏng một kế hoạch của anh đấy.
- Ước gì cuộc sống của em cũng được dễ dàng như thế. Sara mỉm cười.
- Không, em đừng ước thế. Như thế lại càng làm cho việc chấp nhận thất bại trở nên khó khăn hơn. Michael quay người đi ra phía cửa. Chúng ta vẫn là bạn bè với nhau, Sara, ở bên em anh luôn thấy vô cùng vui vẻ. Anh không ngốc đến mức để mất điều đó đâu. Và rồi em cũng sẽ tìm thấy một người, anh ta cũng sẽ là người đàn ông cực kỳ may mắn. Anh không nhìn cô khi nói thêm. Tiện thể anh muốn hỏi, em đã tìm được người ấy chưa ?
Sara nói nhỏ.
- Sao anh hỏi thể ?
- Cứ gọi đó là giác quan thứ sáu đi. Mất mát dễ chấp nhận hơn nếu ta biết được vì ai ta mất.
- Em chưa có ai cả. Cô vội trả lời.
Trông Michael có vẻ không tin.
- Nói chuyện với em sau nhé.
Sara nhìn theo đầy lo lắng.
***
- Tôi nhớ lại những năm đầu của mình ở Tòa án này. Ramsey nhìn ra ngoài cửa sổ, một nụ cười nở trên khuôn mặt.
Ông đang ngồi đối diện với Elizabeth Knight, cộng tác viên cao cấp nhất của Tòa án. Elizabeth Knight đang ở độ tuổi gần năm mươi, chiều cao trung bình, cơ thể mảnh dẻ với mái tóc đen dài búi sau gáy. Khuôn mặt bà có góc cạnh, làn da chưa hề có một nếp nhăn, như thể không bao giờ bà phải ra ngoài trời. Knight nhanh chóng tạo được thanh danh là một người chất vấn miệng giỏi nhất trong các cuộc tranh luận và là một trong số những thẩm phán chăm chỉ làm việc nhất.
- Tôi chắc là ký ức đó vẫn còn rất sống động. Knight ngả người ra ghế khi bà kiểm tra lại lịch làm việc còn lại trong ngày của mình.
- Nó cũng giống như một quá trình học hỏi.
Bà chăm chú nhìn ông. Lúc này Ramsey đang quay lại nhìn thẳng vào Knight, hai bàn tay to lớn ôm lấy sau đầu.
- Tôi phải mất tới năm năm chỉ để tìm hiểu mọi chuyện. Ramsey tiếp tục.
Knight cố gắng không cười.
- Thôi nào Harold, ông quá khiêm tốn. Tôi đảm bảo là ông đã có mọi thứ được tìm hiểu kỹ càng trước khi bước qua cánh cửa tòa nhà này.
- Tôi nói nghiêm túc đấy, làm được việc đó phải mất nhiều thời gian. Tôi có thể kể cho cô nghe nên làm việc cùng ai để đạt được điều đó. Pelix Abemathy, ông già Tom Parks. Tôn trọng kinh nghiệm của người khác là điều không đáng phải xấu hổ đâu. Đó là quá trình học hỏi mà tất cả chúng ta, ai cũng phải trải qua. Mặc dù đương nhiên là cô tiến nhanh hơn tất cả mọi người - ông thêm vào - Nhưng ở đây, sự kiên nhẫn là một đức tính tốt vô cùng cần thiết. Cô mới chỉ ở đây có ba năm. Còn tôi thì coi nơi đây như nhà của mình đã hơn hai chục năm qua. Hy vọng là cô hiểu ý tôi.
Knight mỉm cười.
- Tôi hiểu là ông đang lo sợ rằng tôi sẽ để ngỏ khả năng ghi vụ Hoa Kỳ và Chance vào sổ ghi án cho tới cuối nhiệm kỳ cuối cùng.
Ramsey đứng thẳng dậy.
- Đừng tin vào những gì cô nghe ngóng được xung quanh ở đây.
- Ngược lại, tôi lại thấy rằng hệ thống thông tin của đám thư ký là chính xác tuyệt đối.
Ramsey lại ngồi xuống.
- Tôi phải thừa nhận rằng tôi thấy hơi ngạc nhiên về điều đó. Vụ án này chẳng còn vấn đề gì liên quan tới luật pháp đòi hỏi chúng ta phải can thiệp vào. Cô có cần tôi nói rõ thêm không ? - Ông vung hai tay lên cao.
- Đó là theo quan điểm của ông ?
Một nét thoảng giãn ra trên mặt Ramsey.
- Đó là theo quan điểm của Tòa án tối cao này trong suốt năm mươi năm qua. Tất cả những gì tôi yêu cầu là cô nên chấp thuận những tiền lệ đã có ở Tòa án này như nó xúng đáng được hưởng.
- Ông sẽ không tìm thấy một ai khác coi trọng Tòa án này hơn tôi đâu.
- Tôi rất mừng khi nghe cô nói thế.
- Và tôi cũng sẽ rất sung sướng nếu được trao đổi suy nghĩ với ông thêm về vụ Chance sau khi chúng ta kết thúc buổi tranh luận miệng.
Ramsey nhìn Knight một cách chán chường.
- Sẽ là một cuộc thảo luận ngắn khi chẳng cần phải tốn nhiều thời gian cho việc nói có hoặc không. Nói thẳng với cô, đến cuối ngày hôm nay, tôi sẽ có năm phiếu ủng hộ, còn cô thì không đâu.
- Tôi đã thuyết phục được ba thẩm phán khác bỏ phiếu đồng ý xử vụ án.
Trông Ramsey như thể ông chực phá lên cười.
- Cô sẽ nhanh chóng hiểu được sự khác biệt giữa bỏ phiếu xét xử với bỏ phiếu quyết định khác nhau lớn như thế nào. Tôi yên tâm tin rằng tôi sẽ có đa số về phía mình.
Knight lịch sự mỉm cười.
- Sự tự tin của ông rất truyền cảm. Đó là cái tôi có thể học được.
Ramsey đứng dậy chuẩn bị rời di.
- Vậy thì cô hãy nghe tiếp bài học này: Sai một li đi một dặm. Những gì tôi có là sự nắm giữ chức vụ ở đây gần một đời người rồi. Còn tất cả những gì cô có chỉ là thanh danh của cô mà thôi. Một khi đã mất, nó sẽ không bao giờ quay lại nữa. Ramsey tiến về phía cửa ra vào - Chúc cô một ngày tốt đẹp, Beth. Ông nói trước khi bước đi hẳn.