Sự Thật Vụ Mất Tích Nữ Nhà Báo Stephanie Mailer

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 9 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Jesse Rosenberg Thứ Tư Ngày 2 Tháng Bảy Năm 2014 24 Ngày Trước Liên Hoan Sân Khấu

❊ ❊ ❊

Trên quốc lộ 17, cả một hạm đội hàng vài chục xe cấp cứu, xe cứu hỏa, xe cứu thương và xe cảnh sát từ khắp vùng đổ đến, làm tắc nghẽn lối vào hồ Cerfs. Dòng xe lưu thông đã được cảnh sát chuyển hướng khỏi quốc lộ, và các dải băng cách ly đã được giăng ra trong các bãi cỏ xung quanh, từ vạt rừng này sang vạt rừng khác, đằng sau các dải băng là các nhân viên cảnh sát đứng gác, ngăn những người tò mò và đám phóng viên đang đổ tới.

Cách đó vài chục mét, dưới chân một vạt đồi thoai thoải, giữa đám cỏ cao và những bụi cây việt quất, Anna, Derek và tôi cùng với đồn trưởng Gulliver và một nhóm cảnh sát đứng lặng ngắm nghía cảnh tượng thần tiên của một vùng mặt nước mênh mông phủ đầy các loài cây thủy sinh. Ngay giữa hồ, một vệt sẫm màu hiện rõ trên thảm thực vật ấy: một khối da thịt màu trắng. Một xác người bị mắc kẹt giữa đám cây hoa súng.

Ở khoảng cách này, chưa thể nói được đó có phải là Stephanie hay không. Chúng tôi đang chờ các thợ lặn thuộc cảnh sát bang cử đến. Trong lúc chờ đợi, chúng tôi quan sát vùng mặt nước mênh mông, bất lực và lặng lẽ.

Trên một phía bờ đối diện, vì muốn tiếp cận cái xác, các cảnh sát đang lội ì ọp trong bùn.

- Vùng này chưa được rà soát sao? Tôi hỏi đồn trưởng Gulliver.

- Chúng tôi không rà soát đến tận đây. Vùng này hơi khó tiếp cận. Với lại, không thể lái xe trên bờ hồ, toàn là bùn và lau sậy…

Chúng tôi nghe thấy tiếng còi hụ từ xa. Lực lượng chi viện đang đổ tới. Rồi thị trưởng Brown xuất hiện, với sự hộ tống của Montagne, anh ta đã đến tòa thị chính tìm ông ta rồi chở đến đây. Rốt cuộc, các đơn vị thuộc cảnh sát bang cũng đến, và thế là mọi người bắt đầu náo loạn cả lên: các nhân viên cảnh sát và nhân viên cứu hộ mang đến những chiếc xuồng bơm hơi, theo sau họ là các thợ lặn đeo trên người những hộp trang thiết bị nặng nề.

“Chuyện gì đang xảy ra trong thành phố này vậy?” Ông thị trưởng lầm bầm trong lúc đến gặp chúng tôi, vừa đi ông vùa nhìn chăm chăm vào cái vệt sẫm màu nổi lên giữa đám cây hoa súng.

Các thợ lặn nhanh chóng trang bị, những chiếc xuồng bơm hơi được thả xuống nước. Đồn trưởng Gulliver và tôi lên một xuồng. Chúng tôi lao trên mặt hồ, và chiếc xuồng thứ hai chở các thợ lặn nhanh chóng bám theo. Lũ ếch nhái và chim chóc kiếm ăn trên mặt nước đột ngột im bặt, và khi tiếng động cơ xuồng máy tắt, một bầu không khí tĩnh lặng đến đáng sợ bao trùm mặt hồ. Theo đà, những chiếc xuồng rẽ tấm thảm cây hoa súng đang kỳ nở rộ, và nhanh chóng đến ngang tầm cái xác. Các thợ lặn trườn xuống nước và biến mất trong một đám mây bọt khí. Tôi ngồi xổm trên mũi xuồng và cúi người xuống nước để quan sát rõ hơn cái xác vừa được đội quân người nhái gỡ ra. Cuối cùng, khi họ lật được nó lên, tôi bất chợt lùi lại. Khuôn mặt bị nước làm biến dạng vùa quay lên kia đúng là Stephanie Mailer.

Thông tin về việc phát hiện xác Stephanie Mailer chết đuối trong hồ Cerfs lan ra khắp vùng. Những kẻ hiếu kỳ đổ xô đến, túm tụm dọc theo các chòi canh gác của cánh sát. Giới truyền thông địa phương cũng có mặt đông đảo. Toàn bộ lề đường 17 biến thành một hội chợ rộng lớn và ồn ào.

Trên bờ hồ, nơi cái xác đã được đưa lên, bác sĩ pháp y Ranjit Singh đã đưa ra những nhận định đầu tiên trước khi tập hợp chúng tôi, Anna, Derek, thị trưởng Brown, đồn trưởng Gulliver và tôi, để tóm tắt tình hình.

- Tôi nghĩ rằng Stephanie Mailer đã bị bóp cổ, ông bảo với chúng tôi.

Thị trưởng Brown đưa hai tay lên ôm mặt. Bác sĩ pháp y nói tiếp:

- Sẽ phải chờ kết quả phẫu tích để biết chính xác đã xảy ra chuyện gì, nhưng tôi đã quan sát thấy những vết bầm lớn ở vùng cổ cũng như các dấu hiệu tím tái nghiêm trọng. Cô ấy còn có nhiều vết xước trên cánh tay và mặt, cùng những vết trẩy trên khuỷu tay và đầu gối.

- Tại sao chúng ta không phát hiện ra cô ấy từ trước? Gulliver hỏi.

- Phải mất một thời gian thì những cái xác bị nhận chìm mới nổi lên mặt nước. Cứ xét theo tình trạng của thi thể, thì có lẽ cô ấy đã chết từ tám đến chín ngày rồi. Tóm lại là hơn một tuần.

- Như thế là trùng khớp với đêm cô ấy mất tích, Jesse nói. Có lẽ Stephanie đã bị bắt cóc rồi giết chết.

- Lạy Chúa! Thị trưởng Brown thì thầm rồi lùa bàn tay vào mái tóc, đầy vẻ kinh hoàng. Sao có thể như thế được? Kẻ nào có thể làm vậy với cô gái tội nghiệp này?

- Đó là điều chúng ta phải tìm cho ra, Derek trả lời. Ông đang đứng trước một tình huống rất nghiêm trọng, ông thị trưởng ạ. Có một kẻ giết người trong vùng này, có thể là trong thành phố của ông. Chúng ta còn chưa biết gì về động cơ hành động của hắn, và không thể loại trừ giả thuyết là hắn sẽ tiếp tục ra tay. Chừng nào chúng ta chưa bắt được hắn, thì còn phải cẩn trọng gấp đôi. Có thể là cùng với cảnh sát bang thiết lập một kế hoạch an ninh tại địa phương, để hỗ trợ cảnh sát Orphea.

- Một kế hoạch an ninh ư? Brown lo lắng. Đừng nghĩ đến chuyện đó, các anh sẽ làm mọi người phát hoảng mất! Các anh không hiểu đâu, Orphea là một thành phố du lịch ven biển. Chỉ cần lan truyền tin đồn là có một kẻ sát nhân lảng vảng quanh đây, là mùa du lịch sẽ hỏng bét! Các anh có hiểu điều đó có nghĩa là gì với chúng tôi không?

Ông ta liền quay sang đồn trưởng Gulliver và Anna:

- Hai người có thể chặn thông tin này trong bao lâu? Ông ta hỏi họ.

- Tất cả mọi người đều đã biết chuyện, Alan ạ, Gulliver nói với Brown. Tin đồn đã lan ra khắp vùng. Tự ông lên trên kia mà xem, trên lề đường ấy, chẳng khác nào một hội chợ thực thụ!

Đột nhiên, những tiếng kêu gào vang lên cắt ngang câu chuyện của chúng tôi: ông bà Mailer vùa đến nơi. Họ xuất hiện trên bờ hồ. “Stephanie!” Bà Trudy Mailer kinh hoàng kêu lên, ông chồng chạy theo sau. Nhìn thấy họ lao xuống dốc, tôi và Derek vội chạy đến để ngăn họ tiến thêm, tránh cho họ phải nhìn thấy cái xác của cô con gái đang nằm bất động trên bờ hồ, sắp sửa được đưa vào túi đựng tử thi.

“Bà không được nhìn, thưa bà”, tôi thì thầm với bà Trudy Mailer, bà ôm chặt lấy tôi. Bà lại bắt đầu kêu khóc. Chúng tôi đưa ông bà Mailer đến tận một chiếc xe cảnh sát, nơi bác sĩ tâm lý đã sẵn sàng đến gặp họ.

Phải nói chuyện với giới truyền thông. Tôi những muốn để cho ông thị trưởng làm việc đó. Không muốn bỏ lỡ một dịp để xuất hiện trên truyền hình, đồn trưởng Gulliver nài nỉ đi cùng thị trưởng Brown.

Cả hai người họ leo lên đến tận dải băng cách ly của cảnh sát, phía bên kia dải băng các phóng viên từ khắp vùng kéo đến đang sốt ruột chờ đợi. Có các kênh truyền hình địa phương, các phóng viên ảnh, và cả báo viết. Khi thị trưởng Brown và Gulliver đến nơi, một rừng micro và ống kính liền chĩa về phía họ. Lớn tiếng át cả giọng các đồng nghiệp, Michael Bird đặt câu hỏi đầu tiên:

- Có phải Stephanie Mailer bị sát hại không?

Một sự im lặng giá lạnh bao trùm.

- Còn phải đợi các kết quả điều tra, thị trưởng Brown trả lời. Xin các vị đừng kết luận vội vàng. Vào thời điểm thích hợp, chúng tôi sẽ có thông cáo chính thức.

- Nhưng người được tìm thấy trên hồ có đúng là Stephanie Mailer không? Michael vẫn hỏi tiếp.

- Tôi không thể nói thêm gì với các vị được.

- Tất cả chúng tôi đều đã nhìn thấy bố mẹ cô ấy đến đây, thưa thị trưởng, Michael tiếp tục nài nỉ.

- Có vẻ như đúng là Stephanie Mailer, bị lâm vào thế bí, thị trưởng Brown buộc phải khẳng định. Bố mẹ cô ấy còn chưa chính thức nhận dạng.

Lập tức những câu hỏi ồn lên từ tất cả các phóng viên khác đang có mặt, dồn về phía ông. Giọng Michael lại vang lên trong đám đông:

- Vậy là Stephanie đã bị sát hại, ông ta kết luận. Đùng có nói với chúng tôi rằng vụ hỏa hoạn ở căn hộ của cô ấy chỉ là sự trùng hợp. Đang xảy ra chuyện gì ở Orphea này vậy? Các ông đang che giấu dân chúng điều gì, thưa ông thị trưởng?

Cố giữ bình tĩnh, thị trưởng Brown trả lời bằng giọng điềm đạm:

- Tôi hiểu những băn khoăn của các vị, nhưng các vị cần để cho các điều tra viên làm việc của họ. Ngay lúc này tôi sẽ không bình luận gì thêm, tôi không muốn mạo hiểm ngăn trở công việc của cảnh sát.

Rõ ràng là xúc động, thậm chí có phần kích động, Michael tiếp tục hét lên:

- Thưa ông thị trưởng, ông có dự định duy trì lễ ăn mừng ngày 4 tháng Bảy trong khi thành phố của ông đang phải để tang không?

Bị bất ngờ, thị trưởng Brown trả lời sau một thoáng suy nghĩ:

- Ngay lúc này, tôi tuyên bố rằng màn bắn pháo hoa ngày 4 tháng Bảy sẽ bị hủy bỏ.

Âm thanh ồn ào lan ra trong đám phóng viên và những kẻ hiếu kỳ.

Về phần chúng tôi, Anna, Derek và tôi xem xét kiểm tra khu vực bờ hồ, cố gắng tìm hiểu xem làm thế nào mà Stephanie có thể đến được nơi đây. Derek cho rằng đây là một vụ án mạng bột phát.

- Theo ý kiến tôi, anh nói, bất cứ kẻ sát nhân có chút cẩn trọng nào cũng sẽ dằn xác của Stephanie để chắc chắn là nó sẽ không nổi lên trong một thời gian dài. Kẻ làm việc này không dự định giết cô ấy ở đây, cũng không theo cách đó.

Phần lớn bờ hồ Cerfs là không thể tiếp cận được bằng cách đi bộ vì được bao phủ bởi một thảm hoa hồng dại rậm rịt, chẳng khác nào một bức tường thành - cũng chính vì thế mà nơi đây trở thành thiên đường của các loài chim. Trong khu rừng nguyên sinh thực thụ này, có đến vài chục loài chim làm tổ và sống yên bình. Một phần bờ được bao bọc bởi khu rừng thông rậm rạp chạy suốt dọc con đường 17, đến tận đại dương.

Lúc đầu, chúng tôi tưởng rằng chỉ có thể tiếp cận vùng hồ từ phía bờ chúng tôi đã đi đến. Nhưng khi quan sát kỹ địa hình, chúng tôi nhận thấy những đám cỏ cao ở phía bìa rùng mới bị ẹp xuống. Phải rất vất vả chúng tôi mới đến được nơi đó: mặt đất xốp và sình lầy. Chúng tôi liến phát hiện ra một vùng bằng phẳng tiếp giáp với khu rùng, nơi lớp bùn đã bị xáo trộn. Không thể khẳng định chắc chắn, nhưng có thể cho rằng hình như trên đó có những vết chân.

- Đã có chuyện gì đó xảy ra ở địa điểm này, Derek khẳng định. Nhưng tôi không cho rằng Stephanie cũng đi theo con đường chúng ta vừa đi. Lối đó quá gian nan. Theo ý tôi, cách duy nhất để đến chỗ bờ hồ này…

- Là đi ngang qua khu rừng? Anna gợi ý.

- Chính xác là thế.

Với sự trợ giúp của một nhóm cảnh sát Orphea, chúng tôi bắt đầu rà soát vạt rừng thật tỉ mỉ. Chúng tôi phát hiện ra những cành cây bị bẻ gãy, và những dấu vết cho thấy từng có người đi qua. Một mảnh vải mắc vào một bụi cây.

- Đây có thể là một mảnh áo thun mà Stephanie đã mặc hôm thứ Hai, tôi nói với Anna và Derek, đồng thời nhặt mảnh vải lên bằng bàn tay đeo găng cao su.

Như tôi đã nhìn thấy trên hồ, Stephanie chỉ có một bên giày. Ở chân phải. Chúng tôi tìm thấy chiếc giày còn lại trong khu rùng, nó bị mắc đằng sau một gốc cây.

- Vậy là cô ấy đã chạy trong rừng, Derek kết luận, cô ấy đã tìm cách thoát khỏi kẻ nào đó. Nếu không, cô ấy đã có thời gian xỏ lại giày.

- Và có lẽ kẻ truy đuổi đã bắt được cô ấy bên bờ hồ, sau đó dìm cô ấy xuống nước, Anna bổ sung.

- Có lẽ cô nói đúng, Anna ạ, Derek gật đầu. Nhưng liệu có phải cô ấy đã chạy từ bãi biển đến đây không?

Từ nơi này đến bãi biển cách nhau chừng năm dặm.

Lần theo dấu vết ngang khu rừng, chúng tôi ra đến đường. Cách các chốt chặn của cảnh sát chừng hai trăm mét.

- Có lẽ cô ấy vào rừng bằng lối này, Derek nói.

Tại vị trí đó, chúng tôi nhận thấy trên vệ đường có các vết bánh xe, đậm nhạt khác nhau. Vậy là kẻ kia truy đuổi Stephanie bằng xe hơi.

Cùng lúc đó, tại New York

Trong văn phòng tòa soạn Tạp chí văn chương New York, qua cửa sổ phòng làm việc, Meta Ostrovski ngắm một con nhím đang nhảy qua bãi cỏ trong một công viên nhỏ. Bằng thứ tiếng Pháp gần như hoàn hảo, ông trả lời một cuộc phỏng vấn qua điện thoại của một tạp chí tri thức bí ẩn của Pháp, họ tò mò muốn biết quan điểm của ông về cách cảm nhận văn chương châu Âu tại Mỹ.

- Đương nhiên rồi! Ostrovski thốt lên đầy thích thú. Sở dĩ ngày nay tôi là một trong những nhà phê bình lỗi lạc nhất trên thế giới, thì là bởi tôi đã không nhân nhượng suốt ba mươi năm nay. Kỷ luật và một trí tuệ cương quyết, đó chính là bí mật của tôi. Nhất là không bao giờ được yêu! Yêu là yếu đuối!

- Tuy nhiên, nữ phóng viên ở đầu dây đằng kia phản bác, một vài người độc miệng lại khẳng định rằng các nhà phê bình văn học chính là các nhà văn thất bại…

- Nói vớ vẩn, bạn thân mến ạ, Ostrovski vừa đáp lại vừa cười gằn. Tôi chưa từng, xin nói rõ là chưa từng, gặp một nhà phê bình nào lại muốn viết lách cả. Các nhà phê bình vượt lên trên điều đó. Viết lách là một nghệ thuật tầm thường. Viết lách là sắp đặt các từ ngữ để chúng tạo thành câu. Ngay cả một con khỉ mà được dạy dỗ chút ít cũng có thể làm việc đó!

- Vậy vai trò của nhà phê bình là gì?

- Thiết lập lại sự thật. Giúp cho công chúng phân loại cái gì là hay và cái gì là vô giá trị. Cô biết đấy, chỉ một phần rất nhỏ trong dân số là có thể tự mình hiểu được điều gì là hay. Đáng buồn thay, bởi vì ngày nay tất cả mọi người đều muốn cho ý kiến về tất cả mọi chuyện, và chúng ta đã chứng kiến những thứ hoàn toàn vô giá trị được tâng bốc đến mây xanh, nên chúng tôi, những nhà phê bình, buộc phải lập lại đôi chút trật tự trong cái mớ lộn xộn này. Chúng tôi là những cảnh sát bảo vệ sự thật của trí tuệ. Thế thôi.

Cuộc phỏng vấn kết thúc, Ostrovski vẫn còn ngồi trầm tư. Ông nói mới giỏi làm sao! Mới hấp dẫn làm sao! Lại còn phép so sánh khỉ với nhà văn nữa chứ, thật là một ý tưởng xuất sắc! Chỉ bằng vài lời, ông đã tóm tắt được cảnh suy tàn của nhân loại. Tự hào biết bao khi có tư duy nhanh nhạy đến thế, khi có bộ não tuyệt vời đến thế!

Một nữ thư ký mệt mỏi đẩy cửa phòng làm việc lộn xộn mà không gõ cửa.

- Gõ cửa trước khi vào, chết tiệt! Ostrovski gầm gừ. Đây là phòng làm việc của một người quan trọng.

Ông ghét người phụ nữ này, ông ngờ rằng bà ta bị mắc chứng trầm cảm.

- Thư từ ngày hôm nay đây, bà ta bảo ông, thậm chí không thèm để ý đến lời chỉ trích của ông.

Bà ta đặt một bức thư lên chồng sách đang chờ được ông đọc.

- Chỉ có mỗi một bức thư thôi sao? Ostrovski hỏi, đầy vẻ thất vọng.

- Chỉ có thế thôi, nữ thư ký vừa trả lời vừa ra khỏi phòng, rồi khép cánh cửa lại sau lưng.

Đáng buồn biết bao, với số lượng thư từ ít ỏi đến thảm hại này! Hồi còn làm ở New York Times, ông từng nhận hàng túi những bức thư cháy bỏng của các độc giả, những người không bỏ sót bất cứ bài phê bình hoặc tiểu luận nào của ông. Nhưng đấy là trước kia; những ngày tháng tươi đẹp đã qua, thời ông còn nắm toàn quyền, thời đã lùi vào quá khứ. Ngày nay, người ta không viết cho ông nữa, không còn ai nhận ra ông trên phố, trong các phòng tổ chức sự kiện nơi dòng khách mời không còn đổ xô đến gặp ông, các tác giả không còn xếp hàng dưới chân tòa nhà nơi ông ở để đưa cho ông cuốn sách của mình, để rồi Chủ nhật tiếp đó lao vào chồng tạp chí văn học những mong đọc được trong đó một bài viết của ông. Đã bao nhiêu sự nghiệp được ông tạo nên bằng những bài phê bình sáng chói, đã bao nhiêu cái tên bị ông phá hủy bằng những câu chữ sát khí đằng đằng! Ông đã ngợi ca tâng bốc, ông đã chà đạp biết bao người. Nhưng đó là trước kia. Ngày nay, người ta không còn sợ ông như người ta từng sợ trong quá khứ. Những bài phê bình của ông chỉ còn thu hút các độc giả của Tạp chí, mặc dù rất nổi tiếng nhưng có lượng người đọc hạn chế hơn rất nhiều.

Sáng hôm đó, khi thức dậy, Ostrovski đã có một dự cảm. Sẽ xảy ra một sự kiện quan trọng giúp sự nghiệp của ông lên đỉnh vinh quang lần nữa. Bây giờ thì ông hiểu rằng đó chính là bức thư này. Bức thư này rất quan trọng. Bản năng không bao giờ đánh lừa ông, người từng có khả năng biết trước rằng cuốn sách này hay hoặc dở chỉ dựa vào ấn tượng khi cầm nó trên tay. Nhưng bức thư này có thể chứa đựng điều gì? Ông không muốn mở nó ra quá sớm. Tại sao lại là một bức thư mà không phải là một cuộc điện thoại? Ông suy nghĩ thật lung: phải chăng là một đạo diễn muốn làm phim về cuộc đời ông? Sau khi quan sát chiếc phong bì tuyệt vời đó thêm một lát nữa, tim đập thình thịch, ông bóc thư và cẩn thận lấy tờ giấy bên trong ra. Ông nhìn luôn vào phần chữ ký: Alan Brown, thị trưởng Orphea.

Kính gửi ông Ostrovski,

Chúng tôi rất hân hạnh được đón tiếp ông đến dự Liên hoan sân khấu toàn quốc lần thứ 21 tại Orphea, thuộc bang. New York, trong năm nay. Danh tiếng của ông trong lĩnh vực phê bình là điều không còn phải bàn cãi, và sự hiện diện của ông tại Liên hoan sân khấu sẽ là niềm vinh hạnh vô cùng lớn đối với chúng tôi. Hai mươi năm trước, ông đã mang lại cho chúng tôi niềm hạnh phúc được đón ông trong buổi diễn mở màn Liên hoan sân khấu. Chúng tôi sẽ rất vui được kỷ niệm Liên hoan lần thứ 20 cùng với ông. Đương nhiên là chúng tôi sẽ chịu trách nhiệm chi trả toàn bộ chuyến đi của ông và sẽ sắp xếp cho ông những điều kiện ăn nghỉ tốt nhất.

Bức thư kết thúc bằng những sáo ngữ quen thuộc. Gắn kèm theo là tờ chương trình của Liên hoan cùng với một tờ rơi quảng cáo của Văn phòng du lịch thành phố.

Bức thư tàn nhẫn này khiến ông thất vọng xiết bao! Một bức thư tàn nhẫn không chút quan trọng được gửi đến bởi tay thị trưởng tàn nhẫn của một thành phố tàn nhẫn ở tít tận nơi khỉ ho cò gáy! Tại sao ông không được mời đến những sự kiện danh giá hơn? Ông ném bức thư vào sọt rác.

Để nghĩ sang chuyện khác, ông quyết định viết bài phê bình mới cho Tạp chí. Như thông lệ trước khi làm việc này, ông nhặt lên bản danh sách mới nhất thống kê lượng sách bán ở New York, lần ngón tay lên đến cuốn sách bán chạy nhất, rồi viết một bài phê bình nghiệt ngã về cuốn tiểu thuyết thảm hại mà ông chưa hề mở ra đó. Công việc của ông bị cắt ngang bởi tiếng chuông máy tính, báo cho ông biết rằng ông vừa nhận được một email. Ostrovski ngước mắt nhìn lên màn hình. Đó là email của Steven Bergdorf, tổng biên tập tờ Tạp chí. Ông tự hỏi Bergdorf muốn gì ở ông: trước đó ông ta đã cố gọi cho ông, nhưng ông lại đang bận trả lời phỏng vấn. Ostrovski mở email:

Meta này, bởi vì ông không thèm trả lời điện thoại, nên tôi viết email để báo cho ông biết rằng ông đã bị sa thải khỏi Tạp chí, việc này có hiệu lực ngay tức thì. Steven Bergdorf.

Ostrovski nhảy bật khỏi ghế bành và lao ra ngoài phòng làm việc, băng qua hành lang rồi đột ngột mở cửa văn phòng của viên tổng biên tập, ông ta đang ngồi bên bàn làm việc của mình.

- ÔNG DÁM LÀM CHUYỆN ĐÓ VỚI TÔI CƠ ĐẤY! Ông hét lên.

- Thôi nào, Ostrovski! Bergdorf ôn tồn nói. Đã hai ngày nay tôi tìm cách nói chuyện với ông.

- Làm sao ông dám đuổi tôi, hả Steven? Ông mất trí rồi chắc? Cả thành phố New York sẽ đóng đinh câu rút ông! Đám đông giận dữ sẽ kéo lê ông ngang qua Manhattan, đến tận Quảng trường Thời đại, ở đó họ sẽ treo ông lên một cây cột đèn, ông hiểu không! Và tôi sẽ chẳng thể làm gì được cho ông. Tôi sẽ bảo họ: “Thôi đi! Hãy để cho người đàn ông khốn khổ này được yên, ông ta không nhận thức được việc mình làm!”, và họ sẽ giận dữ như điên mà trả lời tôi rằng: “Chỉ có cái chết mới có thể trả thù cho việc ông ta dám sỉ nhục Ostrovski vĩ đại.”

Bergdorf chăm chăm nhìn nhà phê bình với vẻ hoài nghi:

- Ông đang đe dọa giết tôi chăng, ông Ostrovski?

- Không hề! Ostrovski tự bào chữa, ngược lại thì có: tôi đang cứu mạng ông chừng nào tôi còn có thể làm được việc đó. Người dân New York yêu mến Ostrovski!

- Thôi ông bạn thân mến ơi, đừng có nói linh tinh nữa! Người dân New York không quan tâm đến ông nhiều hơn chiếc áo sơ mi đầu tiên của họ đâu. Họ không còn biết ông là ai. Ông hoàn toàn hết thời rồi.

- Tôi từng là nhà phê bình đáng sợ nhất trong suốt ba mươi năm qua!

- Đúng là thế, cho nên đã đến lúc phải thay đổi.

- Các độc giả ngưỡng mộ tôi! Tôi là…

- Chúa ở phiên bản tốt đẹp hơn, tổng biên tập ngắt lời Ostrovski. Tôi thuộc câu slogan của ông rồi, Ostrovski ạ. Nhất là ông đã quá già. Hãy buông tay đi thôi. Đã đến lúc nhường chỗ cho thế hệ mới. Tôi rất lấy làm tiếc.

- Chỉ cần biết có tôi trong Nhà hát là các tác giả đã vãi tè ra quần rồi!

- Đúng thế, nhưng đó là trước đây, vào thời kỳ của điện báo và khí cầu có người lái!

Ostrovski cố kiềm chế để không giáng cho ông ta một cái tát vào giữa mặt. Ông không muốn hạ mình đánh đấm. Ông quay gót bỏ đi mà không chào, theo ông đó là sự xúc phạm tồi tệ nhất. Ông quay về phòng làm việc của mình, yêu cầu thư ký mang cho một chiếc thùng các tông và xếp vào đó những kỷ vật quý giá nhất, rồi chuồn khỏi tòa soạn. Suốt cuộc đời mình, ông chưa từng bị sỉ nhục nặng nề đến thế.

Orphea đang sôi sục. Dân chúng náo động trước việc phát hiện ra xác Stephanie và lời tuyên bố của ông thị trưởng về việc hủy bỏ màn bắn pháo hoa vào ngày 4 tháng Bảy. Trong khi Derek và tôi tiếp tục điều tra bên bờ hồ Cerfs, Anna bị gọi đi tăng viện cho tòa thị chính, nơi một cuộc biểu tình vừa bắt đầu. Đằng trước tòa nhà, một nhóm người biểu tình, tất cả đều là các hộ kinh doanh trong thành phố, đã tập trung để đòi giữ lại màn bắn pháo hoa. Họ vừa giương cao các biểu ngữ vùa ra sức than phiền.

- Nếu tối thứ Sáu mà không bắn pháo hoa, thì tôi đến phải đóng cửa hàng vì phá sản mất thôi, một gã nhỏ con hói đầu, chủ của một quầy đồ ăn Mexico phản đối. Hôm ấy là buổi bán hàng chạy nhất mùa của tôi.

- Còn tôi, tôi đã bỏ ra rất nhiều chi phí để thuê một địa điểm trên bến du thuyền và thuê nhân công, một người khác giãi bày. Liệu tòa thị chính có trả lại tiền cho tôi nếu màn bắn pháo hoa bị hủy bỏ không?

- Chuyện xảy ra với cô gái nhà Mailer quả là kinh khủng, nhưng có liên quan gì đến ngày lễ Độc lập đâu? Mỗi năm có hàng ngàn người đổ đến bến du thuyền để xem pháo hoa. Họ đến rất sớm, tranh thủ dạo một vòng quanh các cửa hàng trên phố chính, rồi ăn uống trong các nhà hàng của thành phố. Nếu không có bắn pháo hoa, thì sẽ chẳng có ai đến nữa!

Cuộc biểu tình diễn ra ôn hòa. Anna quyết định đến gặp thị trưởng Brown trong phòng làm việc của ông ở tầng ba. Cô thấy ông đang đứng nhìn ra cửa sổ. Ông vừa chào cô vừa tiếp tục quan sát đám người biểu tình.

- Niềm vui của nghề chính khách, Anna ạ, ông nói với cô. Với vụ án mạng làm rung chuyển cả thành phố này, nếu vẫn duy trì các hoạt động lễ hội thì tôi sẽ là một kẻ vô lương tâm, còn nếu tôi hủy bỏ chúng, thì tôi là kẻ vô ý thức đẩy các hộ kinh doanh đến chỗ lụn bại.

Hai người im lặng một lát. Cuối cùng, Anna tìm cách trấn an, động viên ông thị trưởng đôi chút:

- Ở đây, mọi người rất quý mến ông, Alan ạ…

- Thật đáng buồn, Anna ạ, nguy cơ cao là tôi không tái đắc cử vào tháng Chín này được. Orphea không còn giống như trước đây, và người dân thì đòi thay đổi. Tôi cần một cốc cà phê. Cô có muốn uống cà phê không?

- Rất vui lòng, cô đáp.

Anna nghĩ rằng ông thị trưởng sẽ gọi trợ lý để yêu cầu mang cho ông hai cốc cà phê, nhưng ông lại kéo cô đến cuối hành lang, nơi có một máy bán đồ uống nóng tự động. Ông bỏ một đồng xu vào máy. Một dòng chất lỏng màu đen chảy vào một chiếc cốc giấy.

Alan Brown rất có phong thái, ánh mắt sâu thẳm và vóc dáng của một diễn viên. Lúc nào ông cũng ăn mặc hết sức cầu kỳ chải chuốt, còn mái tóc muối tiêu thì được chải không chê vào đâu được. Xong cốc cà phê thứ nhất, ông đưa cho Anna, rồi lặp lại động tác vừa rồi để mua cốc cà phê cho chính mình.

- Nếu ông không được bầu lại, Anna hỏi ông sau khi nhấp môi vào thứ cà phê tệ hại ấy, liệu mọi chuyện có nghiêm trọng lắm không?

- Anna này, cô có biết điều gì ở cô đã khiến tôi thích thú ngay lần đầu tôi gặp cô trên bến du thuyền, vào mùa hè năm ngoái không?

- Không…

- Chúng ta cùng có những lý tưởng lớn lao, nung nấu những tham vọng giống nhau cho xã hội của chúng ta. Lẽ ra cô có thể có một sự nghiệp cảnh sát rộng mở ở New York. Lẽ ra tôi có thể nhượng bộ tiếng còi hụ của nghề chính khách mà tìm cách được bầu vào Thượng viện hoặc Quốc hội. Nhưng xét cho cùng, chúng ta không nhắm đến những mục đích ấy, bởi vì những gì chúng ta có thể thực hiện ở Orphea, thì chúng ta không bao giờ có thể thực hiện được ở New York, ở Washington hay ở Los Angeles, nghĩa là ý tưởng về một thành phố công bằng, một xã hội vận hành mà không có quá nhiều bất công. Khi thị trưởng Gordon đề nghị tôi làm phó thị trưởng cho ông ấy, vào năm 1992, nơi đây còn chưa có thành tựu gì. Cả thành phố chẳng khác nào một tờ giấy trắng. Tôi đã có thể nhào nặn nó gần như theo đúng những niềm tin của bản thân, luôn cố gắng nghĩ xem điều gì là đúng đắn, điều gì là tốt nhất cho cộng đồng cư dân của chúng ta. Từ khi tôi trở thành thị trưởng, người dân kiếm sống tốt hơn, họ nhìn thấy cuộc sống hằng ngày của mình được cải thiện nhờ vào các dịch vụ có chất lượng tốt hơn, những khoản phúc lợi xã hội cao hơn, trong khi các khoản thuế vẫn không hề tăng.

- Vậy tại sao ông lại cho rằng năm nay các công dân của Orphea sẽ không bầu lại ông?

- Bởi vì thời gian đã trôi đi, và họ đã quên. Gần một thế hệ đã qua từ nhiệm kỳ đầu tiên của tôi. Ngày nay, các mong đợi của dân chúng đã thay đổi, các đòi hỏi cũng thế, bởi tất cả những gì hiện có đều được coi là nghiễm nhiên. Với lại, khi đã trở nên thịnh vượng, Orphea bắt đầu mài giũa mình theo hướng tinh tế, và có cả đống những kẻ tham vọng nhỏ nhen khao khát chút quyền lực cảm thấy mình có thể ngự ở tòa thị chính. Cuộc bầu cử sắp tới có thể đánh dấu kết thúc của thành phố này, nó bị phá hỏng bởi ham muốn quyền lực, nỗi khát khao ích kỷ mong được nắm quyền chi phối người sẽ kế nhiệm tôi.

- Người sẽ kế nhiệm ông ư? Ai vậy?

- Tôi làm sao mà biết được. Anh ta sẽ từ trong rừng chui ra, rồi cô sẽ thấy. Các ứng cử viên tranh chức thị trưởng còn có thể nộp hồ sơ từ giờ đến tận cuối tháng.

Thị trưởng Brown có khả năng đáng ngưỡng mộ trong việc một lần nữa làm chủ tình huống. Anna nhận thấy điều đó khi cùng ông đến nhà bố mẹ của Stephanie tại Sag Harbor vào cuối ngày.

Trước cửa nhà ông bà Mailer, được bảo vệ bằng một dải băng cách ly của cảnh sát, bầu không khí như có tích điện. Một đám người đông nghịt đứng dồn trên phố. Một số là những kẻ hiếu kỳ trước cảnh náo động, những người khác muốn thể hiện sự động viên đối với gia đình. Rất nhiều trong số những người có mặt cầm một ngọn nến. Một bàn thờ đã được lập ra bên chân một cột đèn, xung quanh đó người ta xếp hoa, thú bông cùng những lời nhắn nhủ. Một số người đang hát, số khác thì cầu nguyện, số khác nữa chụp ảnh. Có cả các phóng viên đến từ khắp nơi trong vùng, và xe của các hãng truyền hình địa phương đã chiếm hết một đoạn vỉa hè. Ngay khi thị trưởng Brown xuất hiện, các phóng viên đã đổ dồn về phía ông để hỏi thông tin về việc hủy bỏ màn bắn pháo hoa ngày 4 tháng Bảy. Anna muốn tách họ ra để giúp Brown đi qua mà không phải trả lời, nhưng ông ngăn cô lại. Ông muốn nói với giới truyền thông. Người đàn ông mới đây còn bị dồn vào thế bí trong văn phòng của mình, lúc này đã tràn đầy nghị lực và hoàn toàn tự tin.

“Tôi đã lắng nghe tâm sự lo lắng của những người bán hàng trong thành phố chúng ta, ông tuyên bố. Tôi hoàn toàn chia sẻ với họ, và ý thức rõ rằng việc hủy bỏ các hoạt động lễ hội vào ngày 4 tháng Bảy có thể phá hủy nền kinh tế địa phương, vốn đã rất mong manh. Do đó, sau khi tham khảo ý kiến tại tòa thị chính, tôi quyết định giữ nguyên màn bắn pháo hoa, và dành tặng nó để tưởng nhớ Stephanie Mailer.” Hài lòng trước hiệu ứng vừa tạo ra, thị trưởng không trả lời câu hỏi nào, ông đi tiếp.

Tối đó, sau khi đưa Brown về nhà ông, Anna dừng lại ở bãi đỗ xe trên bến du thuyền, ngay trước biển. Đã 20 giờ. Qua cửa kính xe hạ thấp, hơi ấm ngọt ngào của buổi tối tràn vào trong khoang lái. Cô không muốn ở một mình tại nhà, lại càng không muốn đi ăn tối mà không có ai bên cạnh.

Cô gọi điện cho cô bạn Lauren. Nhưng cô nàng này đang ở New York.

- Tớ không hiểu nổi, Anna ạ, Lauren bảo cô. Khi chúng ta ăn tối cùng nhau, cậu chỉ chờ có cơ hội là chuồn mất, thế mà khi tớ ở New York, cậu lại rủ tớ đi ăn tối?

Anna không có tâm trạng nào để bàn cãi dài dòng. Cô gác máy rồi đi mua một suất ăn mang về tại một quán ăn nhanh trên bến du thuyền. Rồi cô đến phòng làm việc của mình tại sở cảnh sát, vừa ăn vừa ngắm nghía tấm bảng ghi tiến triển vụ điều tra. Đột nhiên, đang nhìn chăm chăm vào cái tên Kirk Harvey viết trên bảng, cô nhớ đến những gì Lewis Erban đã nói hôm qua, về việc viên cựu đồn trưởng bị ép chuyển phòng làm việc xuống tầng hầm. Quả là sở cảnh sát có một tầng hầm được dùng làm nơi chứa đồ, cô liền quyết định xuống đó ngay lập tức. Khi cô đẩy cánh cửa tầng hầm, một cảm giác khó chịu lạ lùng xâm chiếm Anna. Cô hình dung ra Kirk Harvey ở chính nơi này, hai mươi năm trước.

Đèn không còn hoạt động, cô phải chiếu sáng bằng đèn pin bỏ túi. Căn phòng đầy chật những tủ, những bàn ghế long chân và những thùng các tông. Cô rẽ một lối đi trong nghĩa địa đồ cũ này, đến tận một chiếc bàn bằng gỗ sơn, phủ đầy bụi và chồng chất đủ thứ, giữa đống lộn xộn ấy cô nhìn thấy một cái giá vẽ bằng kim loại có khắc tên ĐỒN TRƯỞNG KHARVEY. Là bàn làm việc của ông. Cô mở bốn ngăn kéo ra. Ba ngăn kéo rỗng không, ngăn kéo thứ tư không mở được. Nó bị khóa. Cô lấy một chiếc xà beng trong phòng bên cạnh và tấn công ổ khóa, nó nhanh chóng đầu hàng, ngăn kéo mở bung ra. Bên trong, có một tờ giấy đã ố vàng, trên đó có mấy chữ viết tay:

ĐÊM ĐEN

một tờ giấy đã ố vàng vì thời gian, trên đó có một dòng chữ đánh máy: Nơi đây ĐÊM ĐEN bắt đầu. Chẳng khác nào điểm khởi đầu của một trò chơi săn tìm kho báu. Chi tiết cụ thể duy nhất mà chúng tôi có được là cú điện thoại gọi đi từ nhà hàng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.