JESSE ROSENBERG Thứ Bảy ngày 2 tháng Tám năm 2014 7 ngày sau đêm biểu diễn khai mạc

Sự Thật Vụ Mất Tích Nữ Nhà Báo Stephanie Mailer

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 77 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
4 - 4
Vụ Mất Tích Của Stephanie Mailer Thứ Bảy Ngày 2 Tháng Tám - Thứ Hai Ngày 4 Tháng Tám Năm 2014

❊ ❊ ❊

Ostrovski chính là kẻ thứ ba đáng sợ kia chăng? Chúng tôi đã mất dấu ông ta từ hôm qua. Chúng tôi chỉ biết rằng ông ta đã quay trở về New York: các camera an ninh của Sở cảnh sát New York đã ghi hình ông ta ngồi trong xe hơi, chạy qua cầu Manhattan Bridge. Nhưng ông ta không quay về nhà. Căn hộ của ông ta vắng vẻ. Điện thoại di động của ông ta bị tắt, nên không thể nào định vị được, và toàn bộ người thân của ông ta chỉ bao gồm một người chị gái già nua, cả bà ta cũng mất tăm mất tích không thể nào liên lạc được. Derek và tôi liền lập chốt mai phục đằng trước tòa nhà của ông ta suốt gần hai mươi tư giờ qua. Đó là tất cả những gì chúng tôi có thể làm lúc này.

Toàn bộ các manh mối đều dẫn đến Ostrovski: ông ta chính là nhân tình của Meghan Padalin từ tháng Một đến tháng Sáu năm 1994. Khách sạn Bông hồng phương Bắc đã xác nhận với chúng tôi rằng ông ta thường xuyên nghỉ lại trong vùng suốt quý đó. Năm ấy, ông ta chỉ đến Hamptons vào dịp Liên hoan sân khấu ở Orphea. Ông ta đã ở đó suốt nhiều tháng. Chắc chắn là vì Meghan. Như vậy, ông ta không chịu nổi việc cô ấy rời bỏ ông ta. Ông ta đã giết chết cô ấy vào đêm biểu diễn khai mạc, cùng với gia đình nhà Gordon, những nhân chứng bất hạnh của vụ sát hại. Ông ta có đủ thời gian để đi bộ từ Nhà hát lớn đến hiện trường rồi quay trở lại Nhà hát, có mặt trong khán phòng khi vở diễn bắt đầu. Sau đó, ông ta vẫn có thể đưa ý kiến nhận xét về vở diễn trên các báo, để tất cả mọi người biết rằng tối đó ông ta ở Nhà hát lớn. Một bằng chứng ngoại phạm hoàn hảo.

Trước đó một chút trong ngày, Anna đã đến cho Miranda Bird xem một bức ảnh chụp Ostrovski, với hy vọng cô này sẽ nhận ra ông ta, nhưng Miranda không tỏ ra chắc chắn chút nào:

- Rất có thể là ông ta, Miranda nói, nhưng hai mươi năm sau thì khó mà khẳng định được.

- Cô có chắc chắn là gã đàn ông kia có hình xăm không? Anna hỏi. Bởi vì Ostrovski không hề có hình xăm nào.

- Tôi cũng không biết nữa, Miranda thú nhận. Có lẽ tôi nhớ nhầm chăng?

Trong lúc chúng tôi truy đuổi Ostrovski ở New York, thì tại Orphea, trong phòng tài liệu lưu trữ của Thời báo Orphea, Anna cùng với Kirk Harvey và Michael Bird tổng hợp lại toàn bộ các dữ liệu trong hồ sơ điều tra. Ba người họ muốn đảm bảo rằng họ không bỏ sót bất cứ điều gì. Họ mệt nhoài, đói meo. Họ gần như không ăn gì trong suốt cả ngày, ngoại trừ mấy cái kẹo và mấy thanh sô cô la mà Michael đều đặn đi lấy trong ngăn kéo bàn làm việc của ông, nơi ông chất đầy những thứ đó.

Kirk không rời mắt khỏi bức tường dán đầy những ghi chú, những hình ảnh và bài báo cắt ra. Cuối cùng, ông nói với Anna:

- Tại sao tên của người phụ nữ có thể nhận diện kẻ sát nhân lại không xuất hiện? Ở đây, giữa các nhân chứng chỉ ghi: “người phụ nữ ở nhà nghỉ trên đường 16”. Những người khác thì có nêu tên.

- Đúng là như thế, đến lượt Michael nhận xét. Cô ta tên là gì nhỉ? Thông tin đó có thể rất quan trọng đấy.

- Chính Jesse là người làm việc đó, Anna trả lời. Phải hỏi anh ấy. Dù sao cô ta cũng không nhớ gì hết. Chúng ta đừng mất thời gian với việc này nữa.

Nhưng Kirk không chịu từ bỏ.

- Tôi đã xem trong hồ sơ của cảnh sát bang năm 1994: nhân chứng này không xuất hiện. Vậy là một nhân tố mới chăng?

- Chúng ta sẽ phải hỏi Jesse, Anna nhắc lại.

Bởi vì Kirk vẫn kiên trì gặng hỏi, Anna đành ý tứ nhờ Michael lấy giúp vài thanh sô cô la, ông này liền đi ngay. Cô nhân dịp đó để nhanh chóng tóm tắt tình hình với Kirk, với hy vọng ông sẽ hiểu rằng nhất định không được nhắc đến nhân chứng đó trước mặt Michael nữa.

- Ôi, lạy Chúa, Kirk thì thầm, tôi không thể nào tin nổi: vợ của Michael từng nằm trong số gái điếm làm việc cho Jeremiah Fold sao?

- Im miệng ngay đi, Kirk! Anna ra lệnh cho ông. Đừng nói gì đến chuyện đó nữa! Ông mà để lộ ra, tôi thề là sẽ bắn ông đấy.

Anna lập tức cảm thấy hối tiếc vì đã nói với Kirk chuyện đó. Cô linh cảm rằng ông sẽ buột miệng để lộ ra. Michael quay trở vào phòng, mang theo một túi kẹo.

- Nhân chứng đó sao rồi? ông hỏi.

- Chúng tôi đã chuyển sang mục tiếp theo, Anna mỉm cười với ông. Chúng tôi đang nói đến Ostrovski.

- Tôi không thể hình dung được rằng Ostrovski lại có thể sát hại cả một gia đình, Michael liền nói.

- Ồ, ông biết không, không nên tin vào vẻ bề ngoài đâu, Kirk nhận xét. Đôi khi ta tưởng đã hiểu rõ mọi người, thế rồi lại phát hiện ra những bí mật đáng ngạc nhiên về họ đấy.

- Có gì quan trọng đâu, Anna xen vào và giận dữ nhìn Kirk, chúng ta sẽ biết rõ mọi chuyện một khi Jesse và Derek bắt được Ostrovski thôi.

- Có tin tức gì của họ không? Michael hỏi.

- Chẳng có tin tức gì.

20 giờ 30 phút tại New York, đằng trước tòa nhà nơi Ostrovski sinh sống.

Derek và tôi đang sắp sửa từ bỏ chốt mai phục thì nhìn thấy Ostrovski xuất hiện trên vỉa hè, ông ta ung dung tiến bước. Chúng tôi lao bổ ra khỏi xe, súng lăm lăm trên tay, và ập đến tóm cổ ông ta.

- Anh điên hay sao thế hả Jesse, Ostrovski rên rỉ, trong khi tôi ép ông ta vào tường để lồng chiếc còng vào cổ tay ông ta.

- Chúng tôi biết hết rồi, Ostrovski ạ! Tôi kêu lên. Chấm hết rồi!

- Các anh biết chuyện gì?

- Ông đã giết Meghan Padalin và gia đình Gordon. Cùng với Stephanie Mailer và Cody Illinois.

- Cái gì? Ostrovski gào lên. Nhưng các anh điên thật rồi!

Một nhóm người hiếu kỳ dần hình thành quanh chúng tôi. Một số người giơ điện thoại di động lên để quay phim.

- Cứu tôi với! Ostrovski hét bảo họ, hai gã này không phải cảnh sát đâu! Chúng là hai thằng điên!

Chúng tôi buộc phải xuất trình thẻ cảnh sát với đám đông để xác minh thân phận, rồi lôi Ostrovski vào bên trong tòa nhà để được yên tĩnh.

- Tôi rất muốn các anh giải thích cho tôi biết con ruồi nào đã cắn các anh, mà khiến các anh nghĩ rằng tôi giết hại những con người tội nghiệp ấy, Ostrovski đòi hỏi.

- Chúng tôi đã nhìn thấy bức tường trong phòng khách sạn ông thuê, Ostrovski ạ, cùng với các bài báo cắt ra và ảnh Meghan.

- Bằng chứng cho thấy tôi không giết ai hết! Suốt hai mươi năm nay tôi vẫn cố gắng tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra.

- Hoặc giả ông vẫn tìm cách xóa dấu vết suốt hai mươi năm nay, Derek đáp trả. Chính vì thế mà ông đã thuê Stephanie, đúng không? Ông muốn biết xem liệu người ta có thể lần ra ông không, và bởi vì cô ấy sắp làm được điều đó, ông đã giết cô ấy.

- Không đâu, không hề! Tôi chỉ cố làm công việc mà lẽ ra các anh phải làm vào năm 1994!

- Đừng có coi chúng tôi là hai gã ngốc. Ông từng là tay sai của Jeremiah Fold! Chính vì thế mà ông yêu cầu thị trưởng Gordon loại bỏ hắn giúp ông.

- Tôi chẳng là tay sai của ai cả! Ostrovski phản đối.

- Đừng có nói lằng nhằng nữa, Derek nói. Tại sao ông lại đột ngột rời khỏi Orphea như thế nếu không có gì phải tự trách mình?

- Chị gái tôi bị đứt mạch máu não hôm qua. Bà ấy phải mổ cấp cứu. Tôi muốn ở bên giường bệnh của bà ấy. Tôi đã ở đó một đêm một ngày. Bà ấy là người thân duy nhất còn lại của tôi.

- Bệnh viện nào?

- New York Presbyterian.

Derek liên lạc với bệnh viện để kiểm tra. Những lời khẳng định của Ostrovski hoàn toàn chính xác: ông ta không nói dối chúng tôi. Tôi lập tức tháo còng tay cho ông ta, rồi hỏi:

- Vậy tại sao vụ án này lại ám ảnh ông đến thế?

- Bởi vì tôi yêu Meghan, mẹ kiếp! Ostrovski hét lên. Chuyện đó khó hiểu đến thế hay sao? Tôi yêu cô ấy, và người ta đã giằng cô ấy khỏi tay tôi! Các anh không thể biết mất tình yêu của đời mình là như thế nào đâu!

Tôi chăm chú nhìn ông ta một lát. Đôi mắt ông ta ánh lên nỗi buồn khủng khiếp. Cuối cùng, tôi nói:

- Thậm chí tôi còn quá hiểu điều đó.

Ostrovski được loại khỏi danh sách tình nghi. Chúng tôi đã để mất một khoảng thời gian cũng như một lượng sức lực quý giá: chúng tôi chỉ còn lại hai mươi tư giờ để kết thúc vụ điều tra. Nếu từ giờ đến thứ Hai chúng tôi không giao nộp được thủ phạm cho thiếu tá McKenna, sự nghiệp cảnh sát của chúng tôi sẽ chấm dứt.

Chúng tôi chỉ còn hai khả năng: Ron Gulliver và Steven Bergdorf. Bởi vì đang ở New York, chúng tôi quyết định bắt đầu từ Steven Bergdorf. Rất nhiều yếu tố khả nghi: ông ta là cựu tổng biên tập của Thời báo Orphea, từng là ông chủ của Stephanie, và đã rời khỏi Orphea ngay sau ngày xảy ra vụ án mạng giết chết bốn người, sau khi đột ngột quay trở lại để tham gia vở kịch được cho là sẽ tiết lộ tên của thủ phạm. Chúng tôi đến căn hộ của ông ta ở Brooklyn. Chúng tôi gõ cửa hồi lâu. Không có ai. Đúng lúc chúng tôi sắp phá cửa, thì người hàng xóm đối diện xuất hiện và nói với chúng tôi:

- Gõ cửa như thế cũng chẳng ích gì đâu, nhà Bergdorf đi rồi.

- Đi rồi sao? Tôi ngạc nhiên. Khi nào vậy?

- Hôm kia. Qua cửa sổ nhà mình, tôi nhìn thấy họ lên một chiếc xe cắm trại.

- Cả Steven Bergdorf nữa sao?

- Đúng thế, cả Steven nữa. Cùng với gia đình ông ta.

- Nhưng ông ta không được rời khỏi bang New York, Derek nói.

- Cái đó thì không phải là việc của tôi, người hàng xóm nói luôn. Có thể họ đến thung lũng Hudson.

21 giờ ở vườn quốc gia Yellowstone.

Gia đình nhà Bergdorf đến nơi từ một giờ trước, họ dừng lại ở một khu cắm trại phía Đông vườn quốc gia. Màn đêm đang buông xuống, trời mát mẻ. Lũ trẻ con chơi bên ngoài, trong khi Tracy ở bên trong chiếc xe cắm trại, bắt đầu đun nước để luộc mì. Nhưng bà không tìm thấy số mì ống mà bà nhớ rõ là đã mua.

- Em không hiểu, bà ngán ngẩm nói với Steven, hình như hôm qua em đã nhìn thấy bốn gói cơ mà?

- Ôi dào, không sao đâu em yêu. Anh đi mua ngay đây, có một cửa hàng ngay bên vệ đường, không xa đây lắm.

- Giờ này mà chúng ta còn lôi cả cái xe cắm trại này đi sao?

- Không, anh lái chiếc xe hơi. Em thấy chúng ta đã đúng đến thế nào khi mang nó theo chưa. Với lại, anh muốn tìm xem có loại sản phẩm nào có thể loại bỏ thứ mùi chồn hôi bị chẹt chết đó không.

- Ồ đúng rồi, anh giúp em đi! Tracy khuyến khích ông. Cái mùi đó thật kinh khủng. Em không biết là một con chồn hôi lại có thể bốc mùi thối đến thế đâu.

- Ồ, đó là thứ động vật khủng khiếp! Không biết tại sao Chúa lại tạo ra chúng nữa, nếu không phải là để khiến chúng ta bực mình.

Steven để vợ con ở lại rồi đến bên chiếc xe mà ông đã đỗ cách đó một quãng. Ông lái xe ra khỏi khu cắm trại và đi theo con đường chính, đến tận một cửa hàng thực phẩm. Nhưng ông không dừng lại ở đó. Mà vẫn tiếp tục lái xe theo hướng con suối lưu huỳnh ở Badger.

Khi ông đến bãi đỗ xe, khắp nơi đều vắng lặng. Trời tối nhưng vẫn mờ mờ đủ để ông nhìn thấy đường. Con suối lưu huỳnh nằm cách đó chừng vài chục mét, đằng sau một cây cầu nhỏ bằng gỗ.

Ông kiểm tra để biết chắc là không có người nào xuất hiện. Không có ánh đèn pha ô tô nào ở phía chân trời. Ông liền mở cốp xe. Thứ mùi khủng khiếp lập tức xộc vào mặt ông. Ông không thể nén cơn nôn mửa. Thối không chịu nổi. Ông cố nín thở và kéo vạt áo thun lên để che miệng. Ông phải tự gây áp lực cho bản thân để cố giữ bình tĩnh, rồi túm lấy cái xác Alice bọc trong lớp ni lông. Ông chật vật kéo nó đến tận con suối đang sôi sục. Thêm một nỗ lực cuối cùng. Khi đến gần mép nước, ông vứt cái xác xuống đất, rồi lấy chân đẩy nó đến khi nó lăn khỏi bờ suối và rơi xuống làn nước bỏng rẫy đầy a xít. Ông nhìn thấy cái xác chầm chậm chìm xuống đáy suối rồi nhanh chóng biến mất dưới tầng sâu tăm tối.

Vĩnh biệt, Alice, ông nói. Đột nhiên ông phá lên cười, rồi lại òa khóc, và nôn mửa thêm một chặp nữa. Đúng lúc ấy, ông cảm thấy một luồng ánh sáng chói lòa chiếu vào người ông.

- Này, ông kia! Một giọng nói đàn ông đầy uy quyền cất lên. Ông làm gì ở đây?

Đó là một nhân viên bảo vệ của vườn quốc gia. Steven cảm thấy tim mình như nổ tung trong lồng ngực. Ông muốn trả lời là ông bị lạc đường, nhưng trong cơn hoảng hốt ông chỉ lắp bắp được vài âm tiết không thể hiểu nổi.

- Lại gần đây, nhân viên bảo vệ ra lệnh, vẫn tiếp tục rọi đèn khiến Steven chói mắt. Tôi hỏi ông làm gì ở đây.

- Không gì cả, thưa ông, Bergdorftrả lời, ông đã lấy lại được chút bình tĩnh tối thiểu. Tôi đang đi dạo.

Nhân viên bảo vệ nghi hoặc lại gần ông.

- Vào giờ này sao? Ở đây sao? Ông ta hỏi. Nơi này bị cấm vào buổi tối. Ông không nhìn thấy biển cấm sao?

- Không, thưa ông, tôi rất tiếc, Steven giải thích với ông ta, ông cảm thấy người mình nhũn ra.

- Ông chắc chắn là mình ổn chứ? Trông mặt ông lạ lắm.

- Chắc chắn! Tôi ổn cả mà!

Nhân viên bảo vệ nghĩ rằng mình đang gặp phải một du khách bất cẩn, nên chỉ lên lớp Steven:

- Trời rất tối, không nên đi dạo ở đây. Ông biết đấy, ông mà rơi xuống suối thì ngày mai ông sẽ chẳng còn gì hết. Kể cả xương cũng không.

- Thật thế sao? Steven hỏi.

- Thật đấy. Ông không nghe câu chuyện khủng khiếp trên bản tin thời sự năm ngoái sao? Thế mà mọi người đều nói về nó đấy. Một gã bị rơi vào suối lưu huỳnh, cũng ở đây, ở Badger này, ngay trước mắt em gái anh ta. Đến khi đội cứu hộ can thiệp được, thì họ chẳng còn tìm thấy gì của anh ta nữa, ngoại trừ đôi dép.

Sau khi gửi thông báo truy tìm Steven Bergdorf, Derek và tôi quyết định quay về Orphea. Tôi báo với Anna, rồi chúng tôi lên đường.

Trong phòng tài liệu lưu trữ, Anna gác máy điện thoại.

- Là Jesse, cô nói với Michael và Kirk. Có vẻ như Ostrovski chẳng liên quan gì đến tất cả những chuyện này.

- Tôi cũng nghĩ như thế, Michael nói. Bây giờ chúng ta làm gì?

- Có lẽ chúng ta phải đi ăn thứ gì đó, đêm nay hứa hẹn sẽ rất dài đấy.

- Chúng ta hãy đến Kodiak Grim Michael gợi ý.

- Tuyệt vời, Kirk hưởng ứng. Tôi đang mơ được ăn một đĩa bít tết thật ngon.

- Không, ông sẽ không đi đâu cả, Kirk ạ, Anna liền bảo ông ta, cô sợ rằng ông sẽ buột miệng tiết lộ điều bí mật. Phải có người nào đó ở lại đây để trực.

- Trực ư? Kirk ngạc nhiên hỏi. Trực cái gì?

- Ông ở lại đây, thế thôi! Anna ra lệnh cho Kirk.

Cô cùng Michael rời khỏi tòa soạn qua cửa sau, đi ra con phố nhỏ, rồi hai người họ lên xe của Anna.

Kirk nguyền rủa vì thêm một lần nữa lại phải ở một mình. Ông nhớ đến những tháng làm “sếp-cô-độc”, khi ông giam mình dưới tầng hầm của sở cảnh sát. Ông lục lọi trong mớ tài liệu nằm rải rác trên bàn trước mặt, rồi chăm chú đọc tập hồ sơ của cảnh sát. Ông đưa tay nhặt nốt những miếng sô cô la cuối cùng và bỏ hết vào miệng.

Anna và Michael ngược lên đường phố chính.

- Cô có phiền không nếu chúng ta ghé qua nhà tôi một chút trước đã? Michael hỏi. Tôi muốn hôn các con gái tôi trước khi chúng đi ngủ. Đã một tuần nay hầu như tôi không gặp chúng.

- Sẵn lòng thôi, Anna nói, rồi rẽ vào hướng Bridgehampton.

Khi họ đến trước cửa nhà Bird, Anna nhận thấy căn nhà tối om, không hề có ánh đèn.

- Này, không có ai ở nhà hay sao? Michael ngạc nhiên hỏi.

Anna dừng xe trước cửa nhà.

- Có lẽ vợ ông cùng bọn trẻ đi chơi chăng?

- Chắc là mấy mẹ con đi ăn pizza rồi. Tôi sẽ gọi cho họ.

Michael rút điện thoại di động ra khỏi túi và thầm rủa khi nhìn thấy màn hình: không có sóng.

- Khoảng thời gian gần đây, chỗ này bắt sóng kém lắm, ông chán ngán.

- Cả tôi cũng không có sóng, Anna nhận xét.

- Cô ở đây chờ tôi một lát, tôi sẽ chạy vào trong nhà gọi cho vợ tôi bằng điện thoại cố định.

- Tôi có được nhân dịp này để sử dụng phòng vệ sinh nhà ông không? Anna hỏi.

- Đương nhiên rồi. Đi nào.

Họ vào trong nhà. Michael chỉ phòng vệ sinh cho Anna rồi nhấc điện thoại cố định lên.

Derek và tôi về đến gần Orphea thì nhận được một cuộc gọi từ tổng đài. Nhân viên trực tổng đài thông báo với chúng tôi rằng một người đàn ông có tên là Kirk Harvey đang tuyệt vọng tìm cách liên lạc với chúng tôi nhưng lại không có số điện thoại của tôi và Derek. Cuộc gọi được chuyển tiếp cho chúng tôi qua tổng đài, và đột nhiên chúng tôi nghe thấy giọng Kirk vang lên trong khoang lái.

-Jesse, đây chính là cái móc treo chìa khóa! Ông hoảng hốt gào lên.

- Cái gì, móc treo chìa khóa là sao?

- Tôi đang ở trong phòng làm việc của Michael Bird, tại tòa soạn báo. Tôi đã tìm thấy nó.

Chúng tôi không hiểu Kirk đang nói linh tinh chuyện gì.

- Ông tìm thấy cái gì, hả Kirk? Ông nói rõ ràng xem nào!

- Tôi đã tìm thấy móc treo chìa khóa của Stephanie Mailer!

Kirk giải thích với tôi rằng ông lên phòng làm việc của Michael Bird để tìm sô cô la. Khi lục lọi trong một ngăn tủ, ông bắt gặp một dây đeo chìa khóa có trang trí bằng một quả cầu nhựa màu vàng. Ông đã từng nhìn thấy nó ở đâu đó. Cố huy động trí nhớ, ông đột nhiên như nhìn thấy chính mình ở Beluga Bar cùng với Stephanie, đúng lúc cô bỏ đi còn ông thì túm lấy chiếc túi xách của cô hòng giữ cô lại. Đồ đạc trong túi đổ hết ra đất. Ông đã nhặt chùm chìa khóa để trả cho cô. Ông nhớ rất rõ cái móc treo chìa khóa đó.

- Ông chắc chắn rằng đó là móc treo chìa khóa của Stephanie chứ? Tôi hỏi.

- Chắc chắn, với lại còn có một chiếc chìa khóa xe nữa, Kirk bổ sung. Một chiếc Madza. Stephanie lái xe loại gì?

- Một chiếc Madza, tôi trả lời. Đó là chìa khóa của cô ấy. Nhất thiết là ông đừng có nói gì, và hãy giữ Michael lại tòa soạn bằng mọi cách.

- Ông ta đi rồi. Ông ta đang ở cùng Anna.

Trong ngôi nhà của gia đình Bird, Anna ra khỏi phòng vệ sinh. Hoàn toàn im ắng. Cô băng ngang phòng khách: không có dấu vết gì của Michael. Ánh mắt Anna dừng lại ở những khung ảnh đặt trên tủ com mốt. Những bức ảnh của gia đình nhà Bird, vào các giai đoạn khác nhau. Ngày chào đời của các bé gái, những kỳ nghỉ. Anna nhận ra một bức ảnh trên đó Miranda Bird có vẻ đặc biệt trẻ trung. Cô đứng bên cạnh Michael, đó là vào dịp Giáng sinh. Ở hậu cảnh có một cây thông trang trí rất đẹp, và qua cửa sổ có thể nhìn thấy ngoài trời có tuyết rơi. Ở bên dưới, bên phải bức ảnh, có ghi ngày tháng, giống như thời kỳ nở rộ của những bức ảnh chụp tại cửa hàng. Anna ghé mặt lại gần: 23 tháng Mười hai năm 1994. Cô cảm thấy nhịp tim mình đập nhanh: Miranda khẳng định với cô là đã gặp Michael nhiều năm sau khi Jeremiah chết. Vậy là cô ta đã nói dối cô.

Anna nhìn xung quanh. Không còn một tiếng động nào. Michael đang ở đâu? Nỗi lo lắng xâm chiếm cô. Cô đặt tay lên báng súng rồi thận trọng tiến về phía bếp: không có ai. Tất cả dường như đột ngột trở nên vắng vẻ. Cô rút súng ra khỏi bao và rẽ vào một hành lang tối. Cô ấn công tắc điện, nhưng đèn không sáng. Đột nhiên, cô bị giáng một đòn ngang lưng, khiến cô ngã nhào xuống đất và buông rơi khẩu súng. Cô muốn quay lại nhưng lập tức bị xịt một thứ hóa chất gây tê lên mặt. Cô gào lên vì đau đớn. Hai mắt cô bỏng rát. Cô nhận thêm một cú đánh vào đầu, khiến cô ngất lịm.

Tất cả chỉ còn là một cái hố đen.

Derek và tôi lập tức phát lệnh báo động toàn diện. Montagne lập tức cử người đến Kodiak Grill và nhà Bird. Nhưng Anna và Michael đã biệt tăm tích. Khi rốt cuộc đến lượt chúng tôi tới được nhà Bird, các cảnh sát tại hiện trường chỉ cho chúng tôi thấy những vết máu còn mới nguyên.

Đúng lúc ấy, Miranda Bird cùng các con gái từ tiệm pizza trở về.

- Có chuyện gì thế? Cô hỏi khi nhìn thấy cảnh sát.

Tôi hét lên:

- Michael đâu?

- Michael ư, nhưng tôi có biết gì đâu. Tôi vừa nói chuyện điện thoại với anh ấy. Anh ấy nói đang ở đây cùng với Anna.

- Thế còn cô, lúc ấy cô ở đâu?

- Tôi cùng các con đi ăn bánh pizza. Rốt cuộc, đã xảy ra chuyện gì vậy, đại úy?

Khi Anna tỉnh lại, hai tay cô đang bị còng ra sau lưng, và một cái túi chụp trên đầu khiến cô không thể nhìn thấy gì. Cô cố trấn tĩnh để không hoảng hốt. Căn cứ vào những tiếng động và những chuyển động rập rình, cô hiểu rằng mình đang nằm trên băng ghế sau của một chiếc ô tô đang chạy.

Dựa vào những cảm nhận của cơ thể, cô suy luận rằng chiếc xe đang đi trên một con đường không trải nhựa, chắc hẳn là một con đường đất hoặc có rải sỏi. Đột nhiên, chiếc xe dừng sững lại. Anna nhận thấy có tiếng động. Cánh cửa sau đột ngột mở ra. Cô bị túm lấy và lôi ra ngoài. Cô không nhìn thấy gì hết. Cô không biết mình đang ở đâu. Nhưng cô nghe thấy tiếng ếch nhái kêu: cô đang ở gần một cái hồ.

Trong phòng khách nhà Bird, Miranda không tin rằng chồng mình có thể đính dáng đến những vụ giết người:

- Làm sao các vị có thể tưởng tượng rằng Michael có dính dáng đến vụ này chứ? Có thể máu mà mọi người thấy ở đây chính là máu của anh ấy.

- Chùm chìa khóa của Stephanie Mailer ở trong phòng làm việc của ông ta, tôi trả lời Miranda.

Miranda không muốn tin vào điều đó:

- Các anh nhầm rồi. Các anh đang để mất một khoảng thời gian quý giá. Có thể Michael đang gặp nguy hiểm.

Tôi sang phòng bên cạnh gặp Derek. Trước mặt anh trải một tấm bản đồ vùng này, và anh đang nói chuyện điện thoại với bác sĩ Ranjit Singh.

- Kẻ sát nhân rất thông minh và có phương pháp, Singh nói với chúng tôi qua loa. Hắn biết rằng hắn không thể đi xa với Anna, hắn không muốn mạo hiểm gặp phải các đội tuần tra của cảnh sát. Hắn là kẻ rất thận trọng. Hắn muốn giảm thiểu các rủi ro và tránh đối đầu bằng mọi giá.

- Vậy là hắn vẫn ở lại trong vùng Orphea? Tôi hỏi.

- Tôi tin chắc là như thế. Trong một khu vực mà hắn rất quen thuộc. Một nơi mà hắn cảm thấy an toàn.

- Phải chăng hắn đã làm như thế với Stephanie? Derek vừa hỏi vừa nghiên cứu bản đồ.

- Hẳn là thế, Singh trả lời.

Derek khoanh tròn bằng bút dạ vùng bãi biển, chúng tôi đã tìm thấy chiếc xe của Stephanie ở gần đó.

- Sở dĩ kẻ sát nhân từng hẹn gặp Stephanie ở địa điểm này, Derek xem xét, thì đó là vì hắn đã có dự kiến sẽ đưa cô ấy đến một nơi gần đó.

Tôi di ngón tay theo dấu đường 22 đến tận hồ Cerfs, nơi tôi đã khoanh tròn bằng bút đỏ. Rồi tôi mang tấm bản đồ đến cho Miranda xem.

- Vợ chồng cô có một căn nhà khác trong vùng này không? Tôi hỏi cô ta. Một căn nhà cho gia đình, một cái lán gỗ, một nơi mà chồng cô có thể cảm thấy an toàn?

- Chồng tôi ư? Nhưng…

- Trả lời câu hỏi của tôi đi!

Miranda quan sát tấm bản đồ. Cô ta nhìn hồ Cerfs rồi đưa ngón tay chỉ vào vùng nước bên cạnh: hồ Castors.

- Michael thích đến đây, cô ta nói. Ở đó có một cái cầu tàu và một chiếc xuồng. Chúng tôi có thể đến một hòn đảo nhỏ xinh xắn. Chúng tôi thường đưa các con gái đến đó cắm trại. Chẳng bao giờ có người nào khác. Michael nói rằng ở đó chúng tôi hoàn toàn đơn độc trên thế giới.

Derek và tôi nhìn nhau, và không cần nói lời nào, chúng tôi lao vội ra xe.

Anna vừa bị vứt vào một thứ mà cô nghĩ là một cái xuồng. Cô vờ như vẫn đang bất tỉnh. Cô cảm nhận được chuyển động của nước và nghe có tiếng mái chèo khua. Cô đang bị đưa đi đâu đó, nhưng là đâu?

Derek và tôi lao hết tốc lực trên đường 56. Chẳng bao lâu, chúng tôi đã nhìn thấy hồ Cerfs.

- Sắp có lối rẽ bên tay phải cậu, Derek báo với tôi và ngắt còi hụ. Một con đường đất nhỏ hẹp.

Chúng tôi nhìn thấy nó vừa kịp lúc. Tôi rẽ vào và tăng tốc như điên. Tôi nhanh chóng nhìn thấy chiếc xe của Anna đỗ bên mép nước, ngay bên cạnh một cái cầu tàu. Tôi đạp nghiến chân phanh, và chúng tôi ra khỏi xe. Mặc dù trời tối, chúng tôi vẫn nhìn thấy một chiếc xuồng trên hồ, đang tìm cách đi đến hòn đảo nhỏ. Chúng tôi rút súng ra khỏi bao. “Dừng lại! Cảnh sát đây!” Tôi hét lên rồi bắn một phát súng chỉ thiên.

Đáp lại, chúng tôi nghe thấy giọng Anna trên xuồng, cô đang kêu cứu. Bóng người cầm chèo liền giáng cho cô một đòn. Anna càng kêu to hơn. Derek và tôi lao xuống hồ. Chúng tôi chỉ kịp nhìn thấy Anna bị vứt qua mạn xuồng. Lúc đầu cô chìm thẳng xuống, rồi sau đó nhờ sức vùng vẫy chỉ của đôi chân, cô ngoi lên được mặt nước để thở.

Derek và tôi ra sức bơi thật nhanh. Trong bóng tối, chúng tôi không thể nhìn rõ cái bóng người trên xuồng đang quay lại phía những chiếc xe, bằng cách đi vòng qua chúng tôi. Chúng tôi không thể bắt hắn: chúng tôi phải cứu Anna. Chúng tôi thu hết sức lực để bơi đến bên cô, nhưng vì quá mệt, Anna đã chìm xuống đáy hồ.

Derek lao người về phía đáy. Tôi làm theo anh. Mọi thứ xung quanh trở nên mờ mịt. Cuối cùng, anh cảm nhận được thân thể Anna. Anh túm lấy cô rồi lôi được cô lên mặt hồ. Tôi bơi đến hỗ trợ anh, và cả hai chúng tôi đưa được Anna đến bờ của hòn đảo nhỏ, rồi kéo cô lên đất liền. Cô ho sặc sụa, khạc ra nước. Cô vẫn còn sống.

Trên bờ bên kia, chiếc xuồng đã cập vào cầu tàu. Chúng tôi nhìn thấy bóng người leo lên chiếc xe của Anna rồi bỏ trốn.

Hai giờ sau, nhân viên một trạm xăng hẻo lánh nhìn thấy một người đàn ông dính đầy máu hoảng hốt bước vào cửa hàng. Đó là Michael Bird, hai tay ông bị trói chặt bằng một sợi thừng. “Gọi cảnh sát đi! Ông nài nỉ. Hắn đang đến, hắn đuổi theo tôi!”

một tờ giấy đã ố vàng vì thời gian, trên đó có một dòng chữ đánh máy: Nơi đây ĐÊM ĐEN bắt đầu. Chẳng khác nào điểm khởi đầu của một trò chơi săn tìm kho báu. Chi tiết cụ thể duy nhất mà chúng tôi có được là cú điện thoại gọi đi từ nhà hàng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.