Orphea đang sôi sục. Thông tin rằng một vở kịch sẽ tiết lộ danh tính của một kẻ sát nhân chưa bị trừng phạt lan khắp vùng chẳng khác nào một đám cháy. Chỉ trong kỳ nghỉ cuối tuần, các phương tiện truyền thông đã đổ xô đến, cùng với hàng đoàn du khách tìm kiếm cảm giác mạnh, họ trà trộn vào các cư dân, những người cũng đang quay quắt trong nỗi tò mò. Đường phố chính đông đặc người, bị tấn công bởi những người bán hàng lưu động đã biết nắm bắt cơ hội để đến đây bán đồ uống, đồ ăn, thậm chí cả những chiếc áo thun có in dòng chữ: Tôi từng ở Orphea, Tôi biết điều gì đã xảy ra vào năm 1994. Một đám đông ồn ào hỗn độn thường trực xung quanh Nhà hát lớn, nơi lối vào đã bị cảnh sát phong tỏa hoàn toàn, và đằng trước Nhà hát, hàng vài chục phóng viên truyền hình đứng xếp hàng, xuất hiện trực tiếp trên sóng để đều đặn đưa tin:
“Kẻ nào đã giết chết gia đình Gordon, một cô gái chạy thể dục và một nữ phóng viên đang trên đà phát hiện ra tất cả? Câu trả lời sẽ có trong 5 ngày nữa, tại đấy, tại Orphea này, thành phố thuộc bang New York…”
“…5 ngày nữa, một trong những vở kịch ngoạn mục nhất từng được trình diễn bấy lâu nay sẽ tiết lộ với chúng ta những điều bí mật…”
“… Một kẻ giết người đang lảng vảng trong một thành phố yên bình ở Hamptons, và một vở kịch sẽ tiết lộ danh tính hắn…”
“… Thực tế còn vượt quá cả hư cấu, tại đây, ở Orphea này, nơi tòa thị chính đã thông báo rằng toàn thành phố sẽ bị phong tỏa trong đêm diễn đầu tiên của Liên hoan sân khấu. Người ta đang chờ đợi các lực lượng tăng cường từ các thành phố khác trong vùng gửi đến, trong khi Nhà hát lớn, nơi lúc này đang diễn ra các buổi tập dượt vở kịch, được canh chừng 24/24 giờ…”
Cảnh sát địa phương hoàn toàn quá tải trước trách nhiệm công việc. Và bởi vì Gulliver còn đang bận tập kịch, Montagne là người đảm nhiệm việc điều hành, với sự trợ giúp của các lực lượng tăng cường đến từ các thành phố trong vùng và cảnh sát bang.
Để thêm vào bầu không khí siêu thực đó, nền chính trị cũng đang gặp nhiều xáo trộn: tiếp theo những tiết lộ mới nhất, Sylvia Tennenbaum đòi hỏi rằng em trai bà ta phải được chính thức minh oan. Bà ta đã tập hợp được một hội đồng ủng hộ, họ ra sức khua khoắng đằng trước các máy quay truyền hình, với những tấm biển CÔNG LÝ CHO TED. Sylvia Tennenbaum còn đòi thị trưởng Brown từ chức đồng thời tổ chức bầu thị trưởng trước thời hạn, và cho biết bà ta sẽ ra ứng cử. Bà ta nhắc đi nhắc lại với giới truyền thông, ngay khi họ chú ý đến bà ta đôi chút: “Thị trưởng Brown đã bị cảnh sát hỏi cung về vụ án mạng giết chết bốn người năm 1994. Ông ta không còn chút uy tín nào.”
Nhưng thị trưởng Brown, vốn là một chính khách bẩm sinh, không hề có ý định từ chức. Và bối cảnh đầy xáo trộn đó lại càng có ích cho sự nghiệp của ông: Orphea cần một cái đầu biết lãnh đạo hơn bao giờ hết. Bất chấp những câu hỏi mà việc ông bị cảnh sát hỏi cung đã làm dấy lên, Brown vẫn giữ được tỷ lệ tin tưởng cao, và những công dân quan tâm đến tình hình đặc biệt không muốn để mất thị trưởng của họ trong thời điểm khủng hoảng như lúc này. Còn những người buôn bán trong thành phố thì không thể vui mừng hơn: nhà hàng và khách sạn chật kín chỗ, các cửa hàng bán đồ lưu niệm đã hết sạch hàng trong kho, người ta có dự cảm doanh số sẽ tăng lên đến mức kỷ lục trong mùa Liên hoan này.
Điều mà tất cả mọi người không biết, đó là trong vòng bí mật của Nhà hát lớn, nơi không một ai khác ngoài các thành viên của đoàn kịch được đi vào, vở kịch của Kirk Harvey đã ngả theo chiều hướng vô cùng lộn xộn. Còn lâu mới có được những tiết lộ ngoạn mục mà công chúng đang trông chờ. Chúng tôi biết được điều đó nhờ Michael Bird, ông đã trở thành đồng minh không thể thiếu của chúng tôi trong vụ điều tra. Bởi vì ông chiếm được lòng tin của Kirk Harvey, Michael là người duy nhất không thuộc đoàn kịch có thể vào bên trong Nhà hát lớn. Đổi lại lời hứa không tiết lộ bất cứ điều gì về nội dung vở kịch trước đêm biểu diễn khai mạc, Harvey đã cấp cho ông một giấy phép đặc biệt. “Một ngày nào đó, nhất định phải có một phóng viên đủ khả năng làm nhân chứng cho những gì đã xảy ra ở Orphea”, Kirk đã giải thích với Michael. Chúng tôi liền giao cho ông nhiệm vụ làm tai mắt của chúng tôi ở bên trong khán phòng, và quay phim lại diễn biến tập kịch giúp chúng tôi. Sáng hôm đó, ông mời chúng tôi đến nhà để chia sẻ về những đoạn phim đã quay được vào ngày hôm trước.
Ông cùng gia đình sống trong một căn nhà rất xinh xắn bên ngoài Orphea, trên đường Bridgehampton.
- Ông ấy có thể trả tiền mua ngôi nhà này bằng tiền lương tổng biên tập một tờ báo địa phương sao? Derek hỏi Anna khi chúng tôi đến trước cửa nhà.
- Bố vợ ông ấy là người có tiền, cô giải thích với chúng tôi. Clive Davis, có thể hai anh cũng biết ông ta. Ông ta từng là ứng cử viên cho chức thị trưởng New York vài năm trước.
Chính vợ của Michael là người ra đón chúng tôi. Một phụ nữ tóc vàng rất xinh đẹp, hẳn là chưa đến bốn mươi tuổi, rõ ràng là trẻ hơn chồng. Cô mời chúng tôi uống cà phê và dẫn chúng tôi vào phòng khách, Michael đang ở đó thao tác với mớ dây cáp ti vi để nối nó vào một chiếc máy vi tính.
- Cảm ơn mọi người đã đến, ông nói với chúng tôi.
Ông có vẻ lo buồn.
- Có chuyện gì thế, Michael? Tôi hỏi.
- Tôi nghĩ Kirk điên thật rồi.
Ông thao tác trên máy vi tính, và đột nhiên, chúng tôi nhìn thấy trên màn hình sân khấu của Nhà hát lớn, nơi Samuel Padalin đang đóng vai xác chết, còn Jerry đóng vai cảnh sát. Harvey quan sát họ, hai tay cầm một cuốn kịch bản lớn được đóng thành tập.
- Được rồi, Harvey vừa hét vừa xuất hiện trên màn hình, hãy nhập vai vào với nhân vật của mình! Samuel, anh là một xác chết bi thảm. Jerry, anh là một cảnh sát oai vệ!
Harvey mở một tài liệu và bắt đầu đọc:
Đó là một buổi sáng âm u. Trời mưa. Trên một con đường vùng quê, giao thông bị tê liệt: một đoạn tắc đường dai dằng dặc đã hình thành.
- Cái mớ giấy tờ ông ta đang cầm là gì thế? Tôi hỏi Michael.
- Kịch bản đầy đủ. Hình như tất cả đều ở trong đó. Tôi đã cố tìm cách xem thử, nhưng Harvey không bao giờ rời tay khỏi nó. Ông ta nói rằng nội dung của kịch bản đó nhạy cảm đến nỗi ông ta sẽ phân phát các cảnh theo kiểu nhỏ giọt. Cho dù các diễn viên có phải cầm giấy mà đọc trong đêm biểu diễn khai mạc, vì không có thời gian học kịch bản.
HARVEY: Các lái xe giận dữ bấm còi như điên.
Alice và Steven đóng vai các tài xế giận dữ bị kẹt trong đám tắc đường. Đột nhiên, Dakota xuất hiện.
HARVEY: Một cô gái trẻ đang đi trên lề đường, ngược dòng xe cộ bất động. Cô đi đến tận một trạm gác của cảnh sát, và hỏi nhân viên cảnh sát đang trực.
DAKOTA (cô gái): Có chuyện gì thế?
JERRY (viên cảnh sát): Một người chết. Tai nạn mô tô thảm khốc.
DAKOTA: Tai nạn mô tô ư?
JERRY: Đúng thế, anh ta đã lao hết tốc lực vào một cái cây. Anh ta chỉ còn là một đống nát bét.
- Họ vẫn dừng ở cảnh đó, Anna nhận xét.
- Chờ đã, Michael cảnh báo chúng tôi, điều thú vị còn chưa xuất hiện.
Trên màn hình, Harvey đột ngột hét lên: “Và bây giờ, Vũ điệu xác chết!” Tất cả các diễn viên đồng loạt gào to: “Vũ điệu xác chết! Vũ điệu xác chết!” và đột nhiên Ostrovski cùng Ron Gulliver xuất hiện, trên người chỉ mặc độc chiếc quần lót.
- Trò hề đó là gì vậy? Derek kinh ngạc.
Ostrovski và Gulliver chạy đến tận đằng trước sân khấu. Gulliver cầm một con thú nhồi bông. Ông ta ngắm nghía nó một lát rồi hỏi: “Chồn gu lô, chồn gu lô xinh đẹp của ta, hãy cứu chúng ta khỏi kết cục đang đến rất gần!” Ông ta hôn con thú nhồi bông rồi nằm lăn ra đất, thực hiện một cú lăn người thảm hại. Ostrovski, dang rộng hai cánh tay, ngắm nghía những hàng ghế trống trơn và hét lên:
Dies iroe, dies ilia
Solvet soeclum infavílla!
Tôi không còn tin vào mắt mình nữa.
- Giờ lại còn có cả tiếng La tinh nữa ư? Tôi giận dữ.
- Thật thô thiển, Derek nói.
- Phần bằng tiếng La tinh, Michael giải thích với chúng tôi, ông đã có thời gian để thực hiện việc tra cứu, là một đoạn khải huyền từ thời Trung cổ. Nó nói về Ngày giận dữ.
Ông đọc cho chúng tôi nghe bản dịch của đoạn đó:
Ngày giận dữ, ôi cái ngày giận dữ đó
Sẽ biến thế giới này thành đống tro tàn!
- Nghe giống như một lời đe dọa, Anna nhận xét.
- Giống như những dòng chữ mà Harvey đã viết khắp thành phố vào năm 1994, Derek nhắc nhở. Ngày giận dữ sẽ là Đêm đen chăng?
- Điều khiến tôi băn khoăn, tôi nói, đó là rõ ràng vở kịch sẽ không bao giờ kịp trình diễn được. Harvey đang tìm cách lừa bịp tất cả mọi người. Tại sao? Ông ta đang có ý định gì?
Chúng tôi không thể hỏi Harvey, bởi vì ông ta đang được thiếu tá McKenna, thị trưởng và cảnh sát Orphea bảo vệ. Hướng điều tra duy nhất của chúng tôi là Jeremiah Fold. Chúng tôi nhắc đến cái tên này với Michael Bird, nhưng nó không gợi cho ông nghĩ đến điều gì cả.
Tôi hỏi Anna:
- Em có nghĩ đó có thể là một từ khác ngoài Jeremiah Fold không?
- Em không nghĩ thế, Jesse ạ, cô trả lời tôi. Em đã dành cả ngày hôm qua để đọc lại Đêm đen. Em đã thử tất cả các cách kết hợp khả dĩ, và theo những gì em thấy được, thì không có khả năng nào hợp lý hơn.
Tại sao một đoạn mật mã lại được che giấu trong kịch bản Đêm đen? Và ai là người che giấu? Kirk Harvey ư? Thực ra ông ta biết được những gì, gã Harvey ấy? Ông ta đang chơi trò gì với chúng tôi và với toàn thành phố Orphea?
Đúng lúc đó, điện thoại di động của Anna đổ chuông. Là Montagne.
- Anna, chúng tôi tìm cô khắp nơi. Cô phải lập tức đến sở cảnh sát ngay, đêm qua phòng làm việc của cô đã bị đột nhập.
Khi chúng tôi đến sở cảnh sát, các đồng nghiệp của Anna đều đang túm tụm trên ngưỡng cửa phòng làm việc của cô, nhìn ngắm đống kính vỡ trên mặt sàn và bức mành bị xé rách, cố gắng hiểu xem đã xảy ra chuyện gì. Tuy nhiên, câu trả lời rất đơn giản. Sở cảnh sát quay thẳng ra đường phố. Tất cả các phòng làm việc đều nằm ở phần sau tòa nhà và trông ra một thảm cỏ vuông vắn, bao quanh là một hàng rào ghép bằng ván gỗ. Chỉ có camera an ninh trong bãi đỗ xe và ở các cửa ra vào. Hẳn là kẻ đột nhập chẳng gặp khó khăn gì khi trèo qua hàng rào, và hắn chỉ cần băng qua thảm cỏ là đến được cửa sổ phòng làm việc. Sau đó, hắn dùng sức để nâng tấm mành che lên, đập vỡ kính để mở cửa sổ và chui vào trong phòng. Chính là một cảnh sát, khi vào phòng làm việc của Anna để đưa thư từ các loại, đã phát hiện ra vụ đột nhập.
Một cảnh sát khác có ghé vào phòng chiều hôm qua, và mọi thứ vẫn còn nguyên vẹn. Như vậy, vụ đột nhập đã xảy ra trong đêm.
- Làm sao mà không có ai nhận thấy chuyện đã xảy ra? Tôi hỏi.
- Nếu toàn bộ cảnh sát cùng đi tuần vào một thời điểm, thì sẽ không có ai ở trụ sở cả, Anna giải thích với tôi. Chuyện đó đôi khi cũng xảy ra.
- Thế còn tiếng động? Derek hỏi. Phá bức mành này sẽ gây ra tiếng ồn rất lớn. Không ai nghe thấy gì sao?
Toàn bộ các tòa nhà xung quanh đều là văn phòng hoặc kho chứa đồ thuộc tòa thị chính. Nhưng khi một cảnh sát cho biết rằng trong đêm qua, vào khoảng 1 giờ sáng, một tai nạn đường bộ nghiêm trọng đã huy động toàn bộ các đội tuần tra và cảnh sát cứu hỏa ở trại bên cạnh, thì chúng tôi hiểu rằng kẻ đột nhập đã có điều kiện để rảnh tay hành động.
- Hắn đã trốn đâu đó, Anna khẳng định, và chờ đến thời điểm thích hợp nhất để ra tay. Thậm chí có thể hắn đã chờ suốt nhiều đêm.
Xem lại các băng ghi hình từ các camera an ninh nội bộ của sở cảnh sát, chúng tôi có thể khẳng định rằng không có vụ đột nhập nào từ bên trong tòa nhà. Có một camera trong hành lang, góc nhìn rọi thẳng vào cửa phòng làm việc của Anna. Cửa phòng vẫn đóng. Kẻ đột nhập vào văn phòng chỉ ở trong đó. Vậy căn phòng đó chính là mục tiêu của hắn.
- Tôi không hiểu. Thực sự chẳng có gì để lấy cắp cả, Anna nói với chúng tôi. Mà cũng không có thứ gì biến mất.
- Chẳng có gì để lấy, nhưng có thứ để xem, tôi trả lời và chỉ tay vào tấm bảng từ tính cùng những bức tường dán đầy những giấy tờ liên quan đến vụ án. Kẻ đột nhập vào đây muốn biết xem chúng ta điều tra đến đâu rồi. Và hắn đã tiếp cận được với công việc của Stephanie cũng như công việc của chúng ta.
- Kẻ sát nhân của chúng ta đang mạo hiểm, Derek lên tiếng. Hắn bắt đầu lo sợ. Hắn lộ diện. Những ai biết được rằng đây là phòng làm việc của cô, Anna?
Anna nhún vai.
- Tất cả mọi người. Ý tôi muốn nói chuyện này chẳng có gì bí mật hết. Ngay cả những người đến sở cảnh sát để đâm đơn kiện cũng đi qua hành lang này và nhìn thấy phòng làm việc của tôi. Tên tôi có ghi trên cửa mà.
Derek liền kéo chúng tôi ra một góc rồi thì thầm bằng giọng nghiêm trọng:
- Kẻ đột nhập vào đây không mạo hiểm vô ích. Hắn biết rất rõ trong phòng có gì. Là một kẻ nào đó trong nhà.
- Ôi, lạy Chúa, Anna nói, hắn có thể là một cảnh sát sao?
- Nếu là một cảnh sát, tôi phản bác, thì hắn chỉ việc vào phòng này khi em không có mặt ở đây, Anna ạ.
- Hắn sẽ bị bắt gặp, Derek nhận xét. Việc hắn ghé vào phòng có thể bị camera ở hành lang ghi lại. Nếu cho rằng mình bị theo dõi, chắc chắn hắn sẽ không phạm sai lầm đó. Ngược lại, nếu đột nhập vào, hắn sẽ làm rối các hướng điều tra. Rất có thể có một gã khốn ngay trong sở cảnh sát này.
Vậy là chúng tôi không còn an toàn ở đây. Nhưng đi đâu bây giờ? Tôi không còn phòng làm việc ở trụ sở cảnh sát bang, còn bàn làm việc của Derek thì nằm trong một không gian mở. Phải tìm ra một địa điểm mà không ai có thể đến quấy rầy chúng tôi. Tôi liền nảy ra ý tưởng sử dụng phòng tài liệu lưu trữ của Thời báo Orphea, nơi chúng tôi có thể vào mà không bị ai nhìn thấy bằng cách đi thẳng qua cửa sau của tòa soạn.
Ở đó, Michael Bird vui vẻ đón chúng tôi.
- Sẽ không có ai biết ba người ở đây, ông đảm bảo với chúng tôi. Các phóng viên không bao giờ xuống tầng hầm. Tôi đưa cho ba người cả chìa khóa chính lẫn chìa khóa phụ của căn phòng, như thế sẽ chỉ có ba người vào được trong đó. Và cả chìa khóa cửa sau tòa soạn, để ba người có thể đi về bất cứ giờ nào, ngày cũng như đêm.
Vài giờ sau, hết sức kín đáo bí mật, chúng tôi đã tái tạo được tại đây bức tường điều tra giống hệt như trong phòng làm việc của Anna.
Tối đó, Anna có hẹn ăn tối với Lauren và Paul. Cặp vợ chồng này quay lại căn nhà của họ ở Southampton suốt tuần, và dự kiến sẽ gặp Anna ở Café Athéna để bù đắp cho bữa tối thảm họa hôm 26 tháng Sáu vừa rồi.
Trở về nhà để thay quần áo, Anna chợt nghĩ đến cuộc trò chuyện giữa cô với Cody về cuốn sách mà Bergdorf đã viết về Liên hoan sân khấu. Cody đã kể với cô rằng mùa xuân năm 1994, anh đã quyết định dành một khoảng không gian trong hiệu sách cho các tác giả trong vùng. Thế giả như Harvey cũng bán vở kịch của ông ta ở đó thì sao? Trước khi đi ăn tối, Anna chớp nhoáng ghé qua nhà Cody. Cô thấy anh đang ngồi dưới vòm cổng, tận hưởng bầu không khí dịu mát buổi tối và nhấm nháp một ly whisky.
- Đúng thế, Anna ạ, anh bảo cô, bọn tôi đã dành cho các tác giả địa phương một gian ở cuối cửa hàng. Một cái kho đồ cũ hơi tối tăm, sau đó đã trở thành phần kéo dài của hiệu sách với cái tên “Phòng tác giả”. Thành công ngay lập tức. Còn hơn cả mức tôi có thể tưởng tượng: các du khách thích mê những câu chuyện địa phương. Mà hiện nay khoảng không gian đó vẫn còn. Vẫn tại chỗ đó. Nhưng tôi đã cho phá bỏ một bức tường trong phòng, để gắn nó với phần còn lại của cửa hàng. Tại sao cô lại quan tâm đến chuyện đó?
- Chỉ là tò mò thôi, Anna trả lời nước đôi. Tôi tự hỏi không biết anh có nhờ được các tác giả từng gửi sách đến chỗ anh hồi đó không.
Cody thích thú trước câu hỏi của Anna:
- Có nhiều tác giả lắm! Tôi nghĩ là cô đánh giá quá cao trí nhớ của tôi rồi. Nhưng tôi vẫn còn nhớ là có một bài viết trên Thời báo Orphea hồi đầu mùa hè năm 1994. Có lẽ tôi vẫn còn giữ một bản ở hiệu sách, cô có muốn tôi đi lấy cho cô không? Có thể cô sẽ tìm thấy trong đó những thông tin hữu ích.
- Không đâu, Cody ạ, cảm ơn anh rất nhiều. Không cần phiền hà đến thế đâu. Ngày mai tôi sẽ ghé qua cửa hàng.
- Cô chắc chứ, Anna?
- Tôi chắc mà, cảm ơn anh.
Anna lên đường đến gặp Lauren và Paul. Nhưng đi đến phố chính, cô quyết định ghé qua tòa soạn Thời báo Orphea. Bữa tối của cô hoàn toàn có thể muộn một chút. Cô đi một vòng quanh tòa nhà rồi vào bằng cửa sau để đến phòng tài liệu lưu trữ. Cô ngồi vào trước máy vi tính được dùng làm công cụ tìm kiếm. Những từ khóa “Cody Illinois”, “hiệu sách” và “tác giả địa phương” giúp cô dễ dàng tìm ra bài viết đăng tải vào cuối tháng Sáu năm 1994.
TRONG HIỆU SÁCH Ở ORPHEA
CÁC TÁC GIẢ Ở HAMPTONS ĐƯỢC VINH DANH
Từ mười lăm ngày nay, hiệu sách ở Orphea được mở rộng với một phòng nhỏ dành riêng cho các tác giả người địa phương. Sáng kiến này lập tức đã đạt được thành công với các tác giả, họ đổ xô đến đây để giới thiệu tác phẩm của mình, với hy vọng sẽ được mọi người biết đến. Đến mức mà chủ hiệu sách, Cody Illinois, đành áp dụng biện pháp bắt buộc là mỗi cuốn sách chỉ được trưng bày một bản, để có chỗ cho tất cả mọi người.
Bài báo được minh họa bằng một bức ảnh chụp Cody trong hiệu sách, anh tự hào tạo dáng ở ngưỡng cửa của cái nơi từng là kho chứa đồ, bên cạnh đó là một tấm biển bằng gỗ có khắc dòng chữ: TÁC GIẢ TRONG VÙNG CHÚNG TA. Có thể nhìn rõ bên trong căn phòng, nơi các bức tường đều phủ kín sách và những tập tài liệu được đóng thành quyển. Anna lấy một chiếc kính lúp và cúi người chăm chú xem xét từng tác phẩm: và cô nhìn thấy, ở giữa bức ảnh, một tập giấy được đóng quyển trên bìa có ghi rõ bằng chữ viết hoa “ĐÊM ĐEN, KIRK HARVEY”. Cô vừa hiểu ra: hiệu sách của Cody chính là nơi thị trưởng Gordon đã lấy cuốn kịch bản.
Ở Khách sạn bên hồ, Ostrovski trở về phòng sau một chuyến đi dạo ban đêm trong công viên. Trời đêm dịu mát. Nhìn thấy nhà phê bình băng qua sảnh khách sạn, một nhân viên lễ tân liền tiến đến gặp ông:
- Thưa ông Ostrovski, đã nhiều ngày nay tấm biển KHÔNG LÀM PHIỀN được treo ở cửa phòng ông. Tôi muốn kiểm tra xem mọi chuyện có ổn không.
- Đấy là ý tôi muốn thế, Ostrovski khẳng định, tôi đang trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Không ai được làm phiền tôi vì bất cứ lý do gì. Nghệ thuật là một khái niệm khó có thể hình dung nổi.
- Chắc chắn là thế rồi, thưa ông. Ông có muốn chúng tôi mang khăn tắm cho ông không? Ông có cần các loại hóa mỹ phẩm không?
- Không cần gì hết, anh bạn ạ. Cảm ơn anh đã có lời đề nghị.
Ostrovski lên phòng. Ông thích được làm một nghệ sĩ. Cuối cùng, ông cũng cảm thấy ông đang ở đúng chỗ. Cứ như thể ông đã tìm ra được con người đích thực của ông. Vừa đẩy cánh cửa phòng suite, ông vừa lẩm nhẩm “Dies iroe… dies iroe…”. Ông bật đèn: ông đã treo kín một mảng tường những bài báo viết về vụ Stephanie mất tích. Ông nghiên cứu chúng hồi lâu. Rồi treo thêm những bài báo khác. Sau đó ông ngồi vào bàn làm việc, mở lại những giấy tờ ghi chép, và ngắm nhìn bức ảnh chụp Meghan lồng khung kính dựng trên mặt bàn. Ông hôn lên bức hình và nói: “Bây giờ anh đã là một nhà văn, em yêu ạ.” Ông vờ lấy cây bút và bắt đầu viết: Dies iroe, Ngày giận dữ.
Cách đó vài ki lô mét, trong một phòng ở Nhà nghỉ 17, nơi Alice và Steven đang ở, một trận cãi vã dữ dội vừa nổ ra: Alice muốn đi khỏi đó.
- Tôi muốn quay về New York, anh có về cùng hay không cũng mặc. Tôi không muốn ở cái khách sạn tồi tệ này, không muốn sống cuộc sống thảm hại này nữa. Anh là một kẻ thảm hại, Stevie ạ. Tôi đã biết như thế ngay từ đầu.
- Thế thì cô cứ đi đi, Alice! Steven đáp trả, ông đang cúi người trên máy tính xách tay vì bắt buộc phải gửi bài báo đầu tiên để đăng lên trang web của Tạp chí.
Alice giận dữ vì ông để cô bỏ đi dễ dàng đến thế.
- Tại sao anh không quay về New York? Cô hỏi.
- Tôi muốn theo dõi vở kịch này. Đây là thời điểm duy nhất của sự sáng tạo.
- Anh nói dối, Stevie ạ! Vở kịch này chẳng có giá trị gì! Ostrovski mặc quần sịp đi lang thang, anh gọi đó là sân khấu sao?
- Cô đi đi, Alice.
- Tôi lấy xe của anh.
- Không được! Cô đi xe buýt đi! Cô tự lo thân mình đi!
- Làm sao anh dám nói với tôi bằng cái giọng đó, hả Stevie? Tôi không phải con vật! Có chuyện gì với anh thế, hả? Thế mà chỉ vừa mới đây thôi, anh còn coi tôi như một bà hoàng.
- Nghe này, Alice. Tôi đang gặp rất nhiều chuyện nghiêm trọng. Tôi đang có nguy cơ mất chức ở Tạp chí chỉ vì cái vụ thẻ tín dụng đây.
- Anh chỉ quan tâm đến tiền thôi, Stevie ạ! Anh chẳng biết gì về tình yêu hết!
- Đúng thế đấy.
- Tôi sẽ kể hết, Stevie ạ. Nếu anh để tôi quay về New York một mình, tôi sẽ cho Skip Nalan biết toàn bộ sự thật về anh. Về cách anh đối xử với phụ nữ. Tôi sẽ nói về những trò tấn công mà anh đã bắt tôi phải chịu đựng.
Steven không phản ứng gì. Nhìn thấy chùm chìa khóa xe trên chiếc bàn kê cạnh ông, Alice quyết định sẽ lấy và bỏ đi. Cô lao đến nhặt chùm chìa khóa và hét lên: “Tôi sẽ hủy hoại anh, Steven ạ!” Nhưng cô không kịp ra đến cửa phòng. Steven túm tóc cô lôi lại. Cô hét lên đau đớn. Ông xô cô vào tường rồi lao bổ đến giáng cho cô một cái tát trời giáng. “Cô sẽ không đi đâu hết! Ông gào lên. Cô đã đẩy tôi vào bước đường khốn nạn này, cô sẽ phải ở đây với tôi!”
Cô kinh hoàng nhìn ông. Cô khóc nức nở. Đột nhiên, ông dịu dàng ôm lấy khuôn mặt cô. “Xin lỗi, Alice, ông khẽ thì thầm. Hãy tha lỗi cho anh, anh không còn biết mình đang làm gì nữa. Toàn bộ chuyện này khiến anh phát điên. Anh sẽ tìm cho em một khách sạn tốt hơn, anh hứa đấy. Anh sẽ thu xếp tất cả. Tha lỗi cho anh, em yêu.”
Cùng lúc đó, một chiếc Porsche đi qua đằng trước bãi đỗ xe bẩn thỉu của Nhà nghỉ 17, hướng về phía biển. Ngồi sau tay lái là Dakota, cô đã nói với ông bố là cô đến phòng gym của khách sạn, rồi lái xe bỏ trốn. Cô không biết chính cô là người cố tình nói dối bố, hay tại đôi chân không chịu vâng theo ý cô. Cô rẽ vào đường Ocean Road, rồi tiếp tục chuyến hành hương đến tận đằng trước ngôi nhà từng là nhà của bố mẹ cô, Vườn Eden. Cô ngắm nghía chiếc chuông gắn trên cổng. Nơi trước đây từng ghi GIA ĐÌNH EDEN, bây giờ đã đổi thành GIA ĐÌNH SCALINI. Cô lái xe chạy dọc rặng cây bao quanh ngôi nhà, ngắm nghía mọi thứ qua các kẽ lá. Cô nhìn thấy trong nhà có ánh sáng. Cuối cùng, cô cũng tìm thấy một lối vào. Cô bước qua hàng rào, đi qua rặng cây. Cành lá khẽ cào vào má cô. Cô giẫm chân lên thảm cỏ, đi đến tận bể bơi. Không có ai cả. Cô lặng lẽ khóc.
Cô lấy từ trong túi ra một cái chai nhựa, trong đó cô đã pha ketamin với rượu vodka. Cô dốc một hơi cạn sạch. Rồi nằm xuống một chiếc ghế dài bên cạnh bể bơi. Cô nghe tiếng nước vỗ róc rách, và nhắm mắt lại. Cô nghĩ đến Tara Scalini.