Sự Thật Vụ Mất Tích Nữ Nhà Báo Stephanie Mailer

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 9 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Jesse Rosenberg Thứ Năm Ngày 3 Tháng Bảy Năm 2014 23 Ngày Trước Liên Hoan Sân Khấu

❊ ❊ ❊

Trang nhất Thời báo Orphea:

VỤ SÁT HẠI STEPHANIE MAILER

LIỆU CÓ LIÊN HỆ GÌ VỚI

LIÊN HOAN SÂN KHẤU KHÔNG?

Vụ sát hại Stephanie Mailer, nữ phóng viên trẻ tuổi của tờ Thời báo Orphea, thi thể của cô được tìm thấy trong hồ Cerfs, đã khiến cả thành phố rúng động. Người dân lo lắng còn nhà chức trách thành phố thì đang phải chịu áp lực vào thời điểm bắt đầu mùa lễ hội. Phải chăng có một kẻ sát nhân đang lảng vảng trong số chúng ta?

Một mẩu giấy tìm thấy trong xe của Stephanie có nhắc đến Liên hoan sân khấu Orphea có lẽ sẽ khiến người ta nghĩ rằng cô đã phải trả giá bằng chính cuộc đời mình cho vụ điều tra mà cô đang tiến hành, theo yêu cầu của tờ báo này, về vụ sát hại thị trưởng Gordon, người sáng lập ra Liên hoan sân khấu, cùng cả gia đình ông vào năm 1994.

Anna đưa tờ báo cho Derek và tôi khi chúng tôi gặp lại nhau sáng đó tại trụ sở cảnh sát bang, nơi bác sĩ pháp y Ranjit Singh phải giao cho chúng tôi những kết quả phẫu tích đầu tiên trên thi thể Stephanie.

- Chỉ còn thiếu nước ấy nữa thôi! Derek cáu kỉnh.

- Tôi thật ngu ngốc khi nói về mảnh giấy đó với Michael, tôi nói.

- Tôi đã gặp ông ta ở nhà hàng Café Athéna trước khi đến đây, tôi tin rằng ông ta khá sốc vì cái chết của Stephanie. Ông ta nói mình cảm thấy có đôi chút trách nhiệm trong vụ này. Các phân tích của cảnh sát khoa học có mang lại gì không?

- Đáng tiếc là không thể khai thác được gì từ các vết bánh xe trên vệ đường 17. Ngược lại, chiếc giày đó đúng là của Stephanie, và mảnh vải bị rách ra từ chiếc áo thun cô ấy đang mặc. Họ cũng thu được một dấu giày của cô ấy trên vệ đường.

- Điều đó khẳng định rằng cô ấy đã băng qua rừng từ điểm đó, Anna kết luận.

Chúng tôi bị cắt ngang bởi sự xuất hiện của bác sĩ Singh.

- Cảm ơn ông vì đã xử lý công việc nhanh đến thế, Derek nói với ông.

- Tôi muốn mọi người có thể tiến triển nhanh chóng trước kỳ nghỉ 4 tháng Bảy, ông đáp.

Bác sĩ Singh là người thanh lịch và nhã nhặn. Ông đeo kính lên để đọc cho chúng tôi nghe những điểm cốt yếu trong bản báo cáo pháp y.

- Tôi đã thu được những thứ khá bất thường, ông giải thích trước. Stephanie Mailer chết vì đuối nước. Tôi thấy có một lượng nước lớn trong phổi và dạ dày của cô ấy, cũng như có bùn trong khí quản. Có những dấu hiệu rất nghiêm trọng về tình trạng bầm tím và ngạt thở, điều đó có nghĩa là cô ấy đã chống cự, hoặc đúng hơn là đã vùng vẫy: tôi phát hiện ra những vết bầm trên gáy cô ấy, tương ứng với dấu vết của một bàn tay to lớn, điều đó có nghĩa là có kẻ đã túm cổ cô ấy rất chặt để dúi đầu cô ấy xuống nước. Ngoài dấu vết bùn trong khí quản, còn có bùn trên môi và răng cô ấy, cũng như ở đuôi tóc, điều đó có nghĩa là đầu cô ấy đã bị giữ chặt dưới nước, ở độ sâu thấp.

- Cô ấy có bị hành hung hay cưỡng bức gì về mặt thể chất trước khi bị dìm chết không? Derek hỏi.

- Không có bất cứ dấu vết hành hung nào, qua đó tôi muốn nói rằng Stephanie không bị đánh đập hay hành hung gì. Cũng không bị lạm dụng tình dục. Tôi nghĩ Stephanie đã chạy trốn kẻ sát nhân và bị hắn bắt lại.

- Hắn ư? Derek hỏi. Vậy theo ông thì đó là một người đàn ông?

- Căn cứ vào sức lực cần thiết để giữ ai đó dưới nước, tôi nghĩ nhiều khả năng đó là một gã đàn ông, đúng thế. Nhưng tại sao lại không phải là một phụ nữ có đủ sức khỏe chứ?

- Vậy là cô ấy đã chạy trong rừng? Anna hỏi tiếp.

Singh gật đầu:

- Tôi cũng ghi nhận được nhiều vết bầm dập và trầy xước trên mặt và trên cánh tay cô ấy, do bị cành cây cào vào. Ngoài ra còn có nhiều vết trên gan bàn chân không đi giày. Vậy là cô ấy đã cuống cuồng chạy trong rừng, và bị cành cây cùng sỏi đá cào xước gan bàn chân. Còn có cả vết đất trong móng tay cô ấy. Tôi nghĩ hẳn là cô ấy đã bị ngã từ trên bờ xuống hồ, và kẻ sát nhân chỉ việc ấn đầu cô ấy xuống nước.

- Vậy đó có thể là một vụ phạm tội không chủ định, tôi nói. Kẻ làm việc đó không định giết cô ấy.

- Tôi đang sắp nói đến chuyện đó đây, Jesse ạ, bác sĩ Singh vừa nói tiếp vừa cho chúng tôi xem những bức ảnh chụp phóng to vai, khuỷu tay, hai bàn tay và đầu gối của Stephainie.

Chúng tôi nhìn thấy rõ những vết thương đỏ sẫm bẩn thỉu.

- Trông như vết bỏng, Anna thì thầm.

- Chính xác là thế, Singh hưởng ứng. Đây là những vết trầy da tương đối nông, trong đó tôi đã tìm thấy những mẩu nhựa đường và những viên sỏi nhỏ.

- Nhựa đường ư? Derek nhắc lại. Tôi không chắc là mình theo kịp diễn giải của ông.

- Thế này, bác sĩ Singh giải thích, nếu căn cứ vào vị trí của các vết thương, thì chúng bị gây ra do việc cuộn tròn lộn nhào trên nhựa đường, tức là trên một con đường. Điều đó có lẽ muốn nói rằng Stephanie đã cố tình lao ra từ một chiếc xe đang chạy, trước khi trốn vào trong rừng.

Các kết luận của Singh còn được củng cố thêm bởi hai lời chứng quan trọng. Đầu tiên là lời kể của một cậu thiếu niên đang cùng bố mẹ đi nghỉ trong vùng, và tối nào cũng gặp một nhóm bạn trên bãi biển gần nơi chúng tôi đã tìm thấy chiếc xe của Stephanie. Chính Anna đã hỏi thông tin cậu ta sau khi bố mẹ cậu, biết được vụ việc nhờ những rùm beng của giới truyền thông, liên hệ với chúng tôi vì cho rằng có thể con trai họ đã nhìn thấy một điều gì đó quan trọng. Họ đã đúng.

Theo bác sĩ Singh, Stephanie chết vào khoảng đêm thứ Hai sang ngày thứ Ba, nghĩa là đêm cô ta mất tích. Cậu thiếu niên kể lại rằng đúng vào thứ Hai ngày 26 tháng Sáu, cậu ta đã tách khỏi nhóm bạn để được yên tĩnh gọi điện thoại cho cô bạn gái đang ở New York.

- Cháu đến ngồi trên một vách đá, cậu bé kể. Từ đó, cháu nhìn rất rõ bãi đỗ xe, và cháu nhớ là lúc ấy nó hoàn toàn vắng vẻ. Thế rồi đột nhiên, cháu nhìn thấy một phụ nữ trẻ đi xuống con đường mòn nối với cánh rừng. Cô ấy chờ một lát, đến tận 22 giờ 30 phút. Cháu biết thế bởi vì đó là lúc cháu chấm dứt cuộc trò chuyện. Cháu đã kiểm tra giờ trên điện thoại. Đúng lúc ấy, một chiếc xe đi vào bãi đỗ xe. Cháu nhìn thấy người phụ nữ ấy trong quầng sáng đèn pha, nhờ thế cháu mới biết rằng đó là một phụ nữ trẻ, mặc chiếc áo thun trắng. Cửa kính bên ghế hành khách hạ xuống, cô ấy trao đổi vài câu với người đang ngồi trên ghế lái, rồi leo vào ghế trước. Chiếc xe lập tức rời đi. Có phải cô ấy chính là cô gái bị chết không…?

- Cô sẽ kiểm tra lại, Anna trả lời để không khiến cậu bị sốc một cách không cần thiết. Cháu có thể miêu tả chiếc xe giúp cô được không? Cháu có ghi nhận thấy một chi tiết nào đó mà cháu còn nhớ không? Có thể cháu đã nhìn thấy biển số xe chăng? Dù chỉ một phần thôi? Hoặc tên của bang đăng ký?

- Không, cháu rất tiếc.

- Lái xe là đàn ông hay phụ nữ?

- Cháu không thể nói được. Trời quá tối, và mọi chuyện diễn ra rất nhanh. Với lại, cháu cũng không để ý thêm. Nếu cháu mà biết…

- Cháu đã giúp được cô rất nhiều rồi. Vậy cháu khẳng định rằng cô gái đó đã tự nguyện lên xe?

- Ồ vâng, cháu khẳng định tuyệt đối. Cô ấy chờ chiếc xe đó, chắc chắn thế.

Như vậy, cậu thiếu niên là người cuối cùng nhìn thấy Stephanie khi cô còn sống. Ngoài lời chứng của cậu, còn có lời chứng của một nhân viên chào hàng ở Hicksville, anh ta đã đến trình diện ở sở cảnh sát bang. Người này cho chúng tôi biết rằng anh ta đã đến Orphea vào thứ Hai ngày 26 tháng Sáu để gặp khách hàng.

- Tôi rời thành phố vào khoảng 22 giờ 30 phút, anh ta thuật lại. Tôi đi theo đường 17 để ra đường cao tốc. Khi đến đoạn hồ Cerfs, tôi nhìn thấy một chiếc xe dừng bên vệ đường, vẫn nổ máy, hai cánh cửa trước để mở. Đương nhiên là chuyện đó khiến tôi tò mò, tôi liền đi chậm lại, vì nghĩ rằng có lẽ có người nào đó đang gặp rắc rối. Có thể có chuyện đó lắm chứ.

- Lúc đó là mấy giờ?

- Khoảng 22 giờ 50 phút. Dù sao cũng chưa đến 23 giờ, chắc chắn là thế.

- Vậy là anh đi chậm lại, và…?

- Tôi đi chậm lại, đúng thế, bởi vì tôi thấy lạ là có xe dừng ở đó. Tôi nhìn xung quanh, và thế là tôi thấy một bóng người đang leo lên bờ dốc. Tôi tự nhủ chắc hẳn người đó quá vội đi vệ sinh. Tôi không băn khoăn thêm gì nữa. Tôi nghĩ rằng nếu cần trợ giúp thì người đó đã ra hiệu rồi. Tôi đi tiếp và về nhà mà không bận tâm gì tới chuyện đó nữa. Chỉ khi nghe bản tin lúc vừa rồi về một vụ án mạng bên bờ hồ Cerfs vào tối thứ Hai, tôi mới kết nối sự việc với những gì mình nhìn thấy, và tôi tự nhủ rằng thông tin này có thể là quan trọng.

- Anh có nhìn thấy người đó không? Là một người đàn ông? Hay một phụ nữ?

- Nếu căn cứ vào vóc dáng thì tôi cho rằng đó là một phụ nữ. Nhưng lúc ấy trời rất tối.

- Thế còn chiếc xe?

Với những gì anh ta nhìn thấy, nhân chứng miêu tả chiếc xe giống như cậu thiếu niên đã nhìn thấy trên bãi đỗ xe mười lăm phút trước đó. Khi quay trở về phòng làm việc của Anna tại sở cảnh sát Orphea, chúng tôi có thể khớp nối lại các thông tin khác nhau và tái lập thời gian biểu buổi tối cuối cùng của Stephanie.

- Lúc 18 giờ cô ấy đến nhà hàng Kodiak Grill, tôi nói. Cô ấy chờ ai đó - có khả năng chính là kẻ sát nhân - nhưng người đó không xuất hiện, mà trên thực tế là ngầm theo dõi cô ấy trong nhà hàng. Lúc 22 giờ, Stephanie rời khỏi Kodiak Grill. Kẻ sát nhân tiềm năng kia gọi điện cho cô từ cabin điện thoại của nhà hàng, và hẹn gặp ở bãi biển. Stephanie lo lắng và gọi cho Sean, nhưng anh chàng cảnh sát này không nghe máy. Do đó, cô ấy đến điểm hẹn. Lúc 22 giờ 30, kẻ sát nhân lái xe đến đón cô ấy. Cô ấy đồng ý lên xe. Như vậy là cô ấy đủ tin tưởng hắn, hoặc có thể cô ấy quen biết hắn.

Anna, với một tấm bản đồ vùng khổng lồ treo tường, vẽ lại bằng bút đánh dấu màu đỏ hành trình mà chiếc xe kia có lẽ đã đi qua: nó xuất phát từ bãi biển, bắt buộc phải đi theo đường Ocean Road, rồi đi theo đường 17, nhằm hướng Đông-Bắc, men theo bờ hồ. Từ bãi biển đến hồ Cerfs cách nhau năm dặm, tương đương chừng mười lăm phút lái xe.

- Khoảng 22 giờ 45 phút, tôi nói tiếp, hiểu rằng bản thân đang gặp nguy hiểm, Stephanie lao ra khỏi xe và băng qua rừng chạy trốn, trước khi bị bắt lại và dìm chết. Kẻ sát nhân liến lấy chùm chìa khóa của cô ấy rồi đến nhà cô ấy, hẳn là ngay trong tối thứ Hai. Không tìm thấy gì ở đó, hắn đột nhập tòa soạn và quay trở ra mang theo chiếc máy vi tính của Stephanie, nhưng cả lần đó cũng xôi hỏng bỏng không. Stephanie quá cẩn trọng. Để có thêm thời gian, lúc nửa đêm, hắn gửi một tin nhắn cho Michael Bird, vì biết rằng ông ấy là tổng biên tập của tờ báo, vẫn với hy vọng là có thể lấy được kết quả điều tra của Stephanie. Nhưng khi hiểu ra rằng cảnh sát bang nghi ngờ rằng đây là một vụ mất tích đáng ngại, hắn đã đẩy nhanh mọi việc. Hắn quay lại căn hộ của Stephanie, nhưng lại gặp tôi. Hắn đánh ngất tôi rồi đêm hôm sau trở lại để phóng hỏa căn hộ, hy vọng sẽ phá hủy được kết quả điều tra mà hắn không thể tìm thấy.

Lần đầu tiên kể từ đầu vụ việc, chúng tôi có được cái nhìn rõ ràng hơn một chút. Nhưng nếu từ phía chúng tôi gọng kìm bắt đầu thu hẹp lại, thì trong thành phố, dân chúng như sắp lên cơn thần kinh đến nơi, và trang nhất của tờ Thời báo Orphea ngày hôm đó cũng không giúp tình hình cải thiện chút nào. Tôi hoàn toàn ý thức được điều đó khi Anna nhận được một cuộc gọi từ Cody: “Cô đã đọc báo chưa? Vụ sát hại Stephanie gắn liền với Liên hoan sân khấu. Hôm nay, tôi tập hợp các tình nguyện viên vào lúc 17 giờ ở Café Athéna để bỏ phiếu một vụ đình công. Chúng tôi không còn an toàn nữa. Có thể năm nay sẽ không có Liên hoan sân khấu.”

Cùng lúc đó, tại New York

Steven Bergdorf cùng vợ đi bộ về nhà.

- Em biết rằng Tạp chí đang gặp khó khăn, vợ ông dịu dàng nói với ông, nhưng chuyện không thể đi nghỉ hè là sao vậy? Anh thừa biết rằng kỳ nghỉ sẽ tốt cho tất cả chúng ta.

- Về mặt tài chính, anh không nghĩ rằng đây là thời điểm thích hợp cho những kỳ nghỉ tốn kém, Steven gạt phắt đi.

- Tốn kém ư? Vợ ông phản bác. Chị gái em cho chúng ta mượn chiếc xe cắm trại của chị ấy. Chúng ta sẽ đi dọc đất nước. Sẽ chẳng tốn kém là bao. Chúng ta sẽ đến tận vườn quốc gia Yellowstone. Lũ trẻ mơ ước được đi thăm Yellowstone.

- Yellowstone? Quá nguy hiểm, với lũ gấu và cả lũ thú vật khác.

- Ôi chao, Steven, vì Chúa, có chuyện gì xảy ra với anh thế? Bà vợ phẫn nộ. Thời gian gần đây anh cứ gắt gỏng suốt.

Hai người đến trước tòa chung cư nơi họ ở. Steven bỗng rùng mình: Alice đang đứng đó.

- Chào ông Bergdorf, Alice nói với ông.

- Alice đấy à, quả là một điều ngạc nhiên thú vị! Ông lúng búng.

- Tôi mang đến cho ông chỗ tài liệu ông cần, ông chỉ còn phải ký nữa thôi.

- Chắc chắn rồi, Bergdorf trả lời, ông như đang đóng một vai kịch quá vụng về.

- Đây là những tài liệu gấp. Bởi vì chiều nay ông không có ở văn phòng, nên tôi tự nhủ sẽ mang đến nhà cho ông ký.

- Cô thật tốt bụng vì đã đến tận đây, Steven vừa cảm ơn Alice vừa ngờ nghệch mỉm cười với vợ.

Alice đưa cho ông một chiếc cặp đựng đủ loại thư từ. Ông mở nó ra sao cho vợ ông không nhìn thấy gì, rồi xem bức thư đầu tiên thực ra là một tờ quảng cáo. Ông giả vờ tỏ vẻ chăm chú trước khi chuyển sang bức thư thứ hai chỉ gồm một trang giấy trắng, trên đó Alice đã viết:

Trừng phạt vì cả ngày không cho em biết tin tức gì: 1.000 đô la.

Và ngay bên dưới, được gắn bằng một chiếc kẹp giấy, là tờ séc lấy ra từ cuốn sổ séc mà cô tịch thu của ông, đã được điền tên cô.

- Cô chắc chắn là số tiền này chứ? Bergdorf run rẩy hỏi. Tôi thấy có vẻ đắt.

- Đây là mức giá phù hợp đấy, thưa ông Bergdorf. Chất lượng nào thì giá nấy.

- Vậy để tôi ký, ông nghẹn giọng.

Ông ký tên vào tờ séc 1.000 đô la, đóng chiếc cặp lại rồi đưa cho Alice. Ông chào cô bằng một nụ cười nhăn nhúm, rồi cùng vợ chui vào bên trong tòa nhà. Vài phút sau, giam mình trong phòng vệ sinh và cho nước chảy vào bồn rửa tay, ông gọi điện thoại cho cô.

- Em điên à, Alice? Ông thì thầm với cô, trong tư thế ngồi xổm ở khoảng giữa bồn cầu và bồn rửa tay.

- Anh đã đi đâu thế? Anh biến mất mà không cho em biết tin tức gì sao?

- Anh phải đi mua sắm, Bergdorf lúng búng, sau đó anh đến chỗ làm của vợ anh để đón cô ấy.

- Đi mua sắm ư? Mua sắm gì thế, Stevie?

- Anh không thể nói với em được.

- Nếu anh không kể ngay với em, em sẽ bấm chuông cửa nhà anh và kể hết mọi chuyện với vợ anh.

- Thôi được rồi, được rồi, Steven cầu khẩn. Anh đến Orphea. Nghe này, Alice, Stephanie đã bị sát hại…

- Cái gì?! Anh đến đó ư, đồ ngốc! Ái chà, sao anh lại ngốc đến thế? Em biết làm gì với anh đây, hả đồ ngốc?

Giận dữ, Alice gác máy. Cô nhảy lên một chiếc taxi và đi ngược lên Manhattan: hướng về phía đầu Đại lộ số Năm, đoạn những cửa hàng sang trọng. Cô có 1.000 đô la để tiêu, và muốn tự giải khuây cho bản thân.

Chiếc taxi thả Alice gần tòa tháp bằng kính nơi đặt trụ sở của ChAnnal 14, kênh truyền hình tư nhân đầy quyền lực. Trong một phòng họp ở tầng 54, Tổng giám đốc điều hành Jerry Eden đã cho triệu tập các giám đốc chủ chốt:

- Như các vị đã biết, ông tuyên bố với họ, lượng người xem vào dịp đầu hè này rất tệ, nếu không muốn nói là thảm họa, chính vì thế mà tôi triệu tập toàn bộ các vị đến đây. Chúng ta nhất thiết phải hành động.

- Vấn đề cốt yếu là gì? Một trong số giám đốc sáng tạo lên tiếng hỏi.

- Chương trình lúc 18 giờ. Chúng ta đã bị Hãy xem! bỏ xa!

Hãy xem! là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của ChAnnal 14. Đối tượng giống hệt, khán giả giống hệt, nội dung giống hệt: hai kênh truyền hình này lao vào một cuộc chiến khốc liệt, và giải pháp mấu chốt là các hợp đồng quảng cáo kỷ lục cho các chương trình giờ vàng.

- Hãy xem! phát một chương trình truyền hình thực tế rất thành công, giám đốc marketing giải thích.

- Ý tưởng của chương trình đó là gì? Jerry Eden hỏi.

- Chẳng có gì cả, đúng là thế. Người ta theo dõi một nhóm ba chị em gái. Họ đi ăn trưa, họ đi mua sắm, họ đi tập gym, họ cãi nhau, họ làm lành. Người ta theo dõi một ngày điển hình của họ.

- Thế họ làm nghề gì?

- Họ không có nghề nghiệp, thưa ông, phó giám đốc sản xuất chương trình giải thích. Người ta trả tiền cho họ để không phải làm gì cả.

- Đó chính là điểm mà chúng ta có thể làm tốt hơn đối thủ! Jerry khẳng định. Bằng cách làm một chương trình truyền hình thực tế gắn chặt hơn với đời sống hằng ngày.

- Nhưng thưa ông, giám đốc bộ phận phản bác, đối tượng khán giả của truyền hình thực tế có tài chính khá nghèo nàn, và trình độ giáo dục không cao. Khi bật ti vi lên là họ đang tìm kiếm một phần của giấc mơ.

- Chính là thế, Jerry trả lời, nên phải có một thiết kế để khiến khán giả đối diện với chính mình, với những tham vọng của họ. Một chương trình truyền hình thực tế kéo khán giả về phía trước! Chúng ta có thể giới thiệu một ý tưởng mới cho dịp khai giảng. Phải đánh một mẻ lớn! Tôi đã nghĩ ra slogan rồi: “CHANNEL 14. Phần ước mơ trong bạn!”

Đề xuất đó khiến mọi người ồn lên phấn khích.

- Ồ, hay đấy! Giám đốc marketing hưởng ứng.

- Tôi muốn một chương trình gây tiếng vang lớn vào dịp khai giảng. Tôi muốn xáo trộn tất cả. Tôi muốn từ giờ đến tháng Chín chúng ta đưa ra một ý tưởng thiên tài và tấn công toàn lực vào khán giả. Tôi cho các vị đúng mười ngày: thứ Hai ngày 14 tháng Bảy, tôi muốn nghe đề xuất về một chương trình chủ đạo cho ngày khai giảng.

Jerry giải tán cuộc họp. Trong lúc các thành viên rời khỏi phòng, điện thoại di động của ông đổ chuông. Là Cynthia, vợ ông. Ông nhấc máy.

- Jerry, Cynthia trách móc, em đã cố gọi cho anh suốt nhiều giờ liền.

- Anh xin lỗi, anh vừa có cuộc họp. Em biết là bọn anh đang chuẩn bị chương trình cho mùa tới, và ở đây lúc này đang rất căng. Có chuyện gì thế?

- Dakota về nhà lúc 11 giờ sáng nay. Con bé vẫn còn say.

Jerry thở dài, hoàn toàn bất lực.

- Thế em muốn anh làm gì đây, hả Cynthia?

- Nhưng nó là con gái chúng ta kia mà, Jerry! Anh đã nghe bác sĩ Lern nói rồi đấy: phải tách con bé ra xa New York.

- Tách con bé ra xa New York, em cứ làm như cách đó sẽ khiến mọi chuyện thay đổi ấy!

-Jerry, anh đừng có đổ hết cho định mệnh như thế! Con bé mới 19 tuổi. Nó cần được giúp đỡ.

- Đừng có nói với anh là chúng ta không cố gắng giúp đỡ con bé…

- Anh không hiểu được con bé đang phải trải qua chuyện gì, Jerry ạ!

- Chủ yếu là anh hiểu được rằng anh có một đứa con gái 19 tuổi đang sa đà vào nghiện ngập! Ông gay gắt đáp lại, nhưng vẫn cẩn thận thì thầm câu cuối để không bị ai nghe thấy.

- Chúng ta sẽ trực tiếp nói chuyện này với nhau, Cynthia đề nghị để giúp ông bình tĩnh lại. Anh đang ở đâu?

- Anh đang ở đâu ư? Jerry nhắc lại.

- Đúng thế, buổi điều trị với bác sĩ Lern là vào lúc 17 giờ, Cynthia nhắc nhở. Đừng có nói với em là anh quên rồi đấy nhé?

Jerry trợn tròn mắt: ông đã quên biến việc này. Ông chạy vọt ra khỏi văn phòng và lao bổ vào thang máy.

Như một phép màu, ông đến phòng khám của bác sĩ Lern trên đại lộ Madison vừa kịp lúc. Từ sáu tháng trở lại đây, Jerry đã chấp thuận theo một khóa trị liệu hằng tuần cùng với Cynthia vợ ông và Dakota, cô con gái 19 tuổi của họ.

Nhà Eden cùng ngồi xuống ba chỗ trên chiếc xô pha kê trước mặt vị bác sĩ trị liệu, còn ông này thì ngồi trong chiếc ghế bành quen thuộc.

- Thế nào? Bác sĩ Lern hỏi, đã xảy ra chuyện gì từ sau buổi trị liệu trước?

- Ý ông muốn nói là mười lăm ngày trước, Dakota đáp trả, bởi vì bố cháu đã quên việc xuất hiện tuần trước…

- Xin thứ lỗi cho tôi vì đã làm việc để trang trải những khoản chi tiêu điên rồ của cái gia đình này! Jerry tự bào chữa.

- Ôi Jerry, em xin anh, đừng có lại bắt đầu nữa.

- Tôi chỉ nói là buổi trị liệu trước, bác sĩ trị liệu nhắc nhở bằng giọng trung tính.

Cynthia cố tiếp tục câu chuyện theo cách thức xây dựng hơn.

- Tôi đã nói với Jerry rằng anh ấy phải dành nhiều thời gian với Dakota hơn, bà giải thích.

- Thế ông nghĩ sao về việc đó, ông Jerry? Bác sĩ Lern hỏi.

- Tôi nghĩ rằng mùa hè này, mọi chuyện sẽ thêm phức tạp: chúng tôi phải chốt được một ý tưởng chương trình. Cạnh tranh rất khốc liệt, và chúng tôi bắt buộc phải phát triển một chương trình mới từ giờ dến mùa thu.

-Jerry! Cynthia giận dữ, chắc phải có ai đó có thể thay thế anh chứ, đúng không? Anh chưa bao giờ có thời gian cho bất cứ ai, ngoại trừ công việc của anh!

- Anh có một gia đình và một bác sĩ tâm thần phải nuôi, Jerry cay độc đáp lại.

Bác sĩ Lern không tỏ thái độ gì.

- Dù sao đi nữa, bố cũng chỉ nghĩ đến cái công việc chết tiệt đó của bố, bố ạ! Dakota nói.

- Đừng có dùng cái thứ từ ngữ đó, Jerry ra lệnh cho con gái.

-Jerry này, bác sĩ tâm thần lên tiếng hỏi, ông nghĩ Dakota đang cố gắng nói gì với ông qua những từ ngữ ấy?

- Rằng cái công việc chết tiệt đó đang trả tiền cho cái điện thoại, đống quần áo và cái xe hơi chết tiệt của nó, cũng như tất cả những gì nó đang nhét vào mồm đấy!

- Dakota, có phải đó là điều cháu cố gắng nói với bố mình không? Lern hỏi.

- Không hề. Nhưng cháu muốn một con chó, Dakota trả lời.

- Lúc nào cũng đòi hỏi, Jerry than vãn. Đầu tiên con muốn một cái máy vi tính, bây giờ con muốn một con chó…

- Bố đừng có nói đến cái máy vi tính đó nữa! Dakota tự bào chữa. Đừng bao giờ nói đến nó nữa!

- Có phải chiếc máy vi tính từng là một nguyện vọng của Dakota không? Lern hỏi.

- Đúng thế, Cynthia Eden giải thích. Con bé vô cùng thích viết lách.

- Thế tại sao cô bé lại không thể có một con chó? Bác sĩ tâm thần hỏi.

- Bởi vì nó không có tinh thần trách nhiệm, Jerry nói.

- Làm sao bố có thể biết được nếu bố không để cho con thử! Dakota phản đối.

- Bố thấy cách con chăm sóc bản thân, và thế là đủ lắm rồi! Ông bố đáp trả.

-Jerry! Cynthia kêu lên.

- Dù sao đi nữa, nó muốn một con chó bởi vì con bé Neila bạn nó đã mua một con chó, Jerry giải thích đầy vẻ uyên bác.

- Là Leyla, không phải Neila. Thậm chí bố còn không biết tên người bạn thân nhất của con!

- Con bé ấy là bạn thân nhất của con sao? Nó đặt tên con chó của nó là Marijuana đấy.

- Có sao đâu, Marijuana rất dễ thương! Dakota phản đối. Nó mới hai tháng tuổi, mà đã biết giữ vệ sinh rất sạch rồi!

- Vấn đề không nằm ở đó, chết tiệt thật! Jerry cáu kỉnh.

- Vậy thì vấn đề nằm ở đâu? Bác sĩ Lern hỏi.

- Vấn đề là Leyla ảnh hưởng xấu đến con gái tôi. Cứ ở cùng nhau là hai đứa nó lại làm những trò ngu ngốc. Ông muốn nghe ý kiến tôi, thì đây: tất cả những gì đã xảy ra không phải là lỗi của cái máy vi tính, mà là lỗi của con bé Leyla đó!

- Vấn đề chính là bố, bố ạ! Dakota hét lên. Bởi vì bố quá ngu ngốc và chẳng hiểu gì cả!

Cô đứng bật dậy khỏi ghế xô pha và rời khỏi buổi trị liệu mới chỉ diễn ra được mười lăm phút.

Lúc 17 giờ 15 phút, Anna, Derek và tôi đến nhà hàng Café Athéna tại Orphea. Chúng tôi tìm được một bàn ở cuối phòng, và kín đáo ngồi vào đó. Nhà hàng đầy chật tình nguyện viên và những kẻ hiếu kỳ đến xem cuộc họp lạ lùng được tổ chức ở nhà hàng. Cody, rất tâm huyết với chức trách chủ tịch hội người tình nguyện, đang đứng trên một chiếc ghế và nói rành rọt từng lời, rồi cả đám đông đồng loạt nhắc lại.

- Chúng ta đang gặp nguy hiểm! Cody hét lên.

- Đúng, nguy hiểm! Tình nguyện viên nhắc lại, họ như uống lấy từng lời của anh.

- Thị trưởng Brown che giấu chúng ta sự thật về cái chết của Stephanie Mailer. Các bạn có biết vì sao cô ấy bị giết không?

- Vì sao? Đám đông gào lên.

- Vì Liên hoan sân khấu!

- Liên hoan sân khấu! Tình nguyện viên lại hét lên.

- Chúng ta có nên cống hiến thời gian ở đó để rồi bị sát hại không?

- Khoooooooooông! Đám đông gào lên.

Một nhân viên phục vụ mang cà phê cho chúng tôi cùng mấy cuốn thực đơn. Tôi đã gặp ông ta trong nhà hàng. Đó là một gã đàn ông kiểu người da đỏ, có mái tóc ngang vai đã ngả hoa râm, và có cái tên riêng khiến tôi rất ấn tượng. Ông ta tên là Massachusetts.

Tình nguyện viên lần lượt lên tiếng. Nhiều người lo lắng trước những gì họ đọc được trên Thời báo Orphea và sợ rằng mình là nạn nhân sắp tới của kẻ sát nhân. Thị trưởng Brown cũng có mặt, ông lắng nghe những lời phàn nàn của từng người, cố gắng đáp lại bằng những câu trả lời đầy trấn an, với hy vọng giúp các tình nguyện viên sáng suốt trở lại.

- Không có kẻ giết người hàng loạt nào tại Orphea cả, ông nói rành rọt.

- Đúng là có một kẻ giết người, một người đàn ông thấp bé nhận xét, bởi vì Stephanie Mailer đã bị giết chết.

- Nghe này, đã xảy ra một sự kiện bi thảm, đúng là thế. Nhưng sự kiện đó chẳng có liên quan gì với các vị hoặc với Liên hoan sân khấu cả. Các vị chẳng có gì phải lo lắng hết.

Cody lại leo lên ghế để đáp lời ông thị trưởng:

- Thưa ông thị trưởng, chúng tôi sẽ không để mình bị sát hại vì một Liên hoan sân khấu đâu!

- Tôi sẽ nhắc lại với các vị cả trăm lần, ông Brown trả lời, vụ án mạng đó, mặc dù rất khủng khiếp, tuyệt đối không có liên hệ gì với Liên hoan sân khấu cả! Lập luận của các vị thật vô lý! Các vị có ý thức được rằng, nếu không có các vị, thì Liên hoan sân khấu sẽ không thể tổ chức được không?

- Vậy ra đó là tất cả những gì ông quan tâm sao, thưa ông thị trưởng? Cody đáp lại. Cái Liên hoan sân khấu chết tiệt của ông còn đáng giá hơn sự an toàn của các công dân?

- Tôi chỉ cảnh báo các vị về những hậu quả của một quyết định không hợp lý thôi: nếu không tổ chức Liên hoan sân khấu, thành phố sẽ không thể hồi phục được.

- Đó là dấu hiệu! Một người phụ nữ bỗng hét lên.

- Dấu hiệu gì? Người đàn ông thấp bé lo lắng hỏi.

- Đó chính là Đêm đen ! Người phụ nữ hét lên.

Lúc đó, Derek, Anna và tôi nhìn nhau sững sờ, trong khi mấy lời ấy khiến nhà hàng Café Athéna ồn lên những lời than vãn đầy lo lắng. Cody cố gắng kiềm chế đám đông, và khi rốt cuộc mọi người đã im lặng trở lại, anh để nghị biểu quyết.

- Ai trong số các vị ủng hộ một cuộc đình công toàn diện cho đến khi kẻ sát hại Stephanie bị bắt? Anh hỏi.

Một rừng cánh tay giơ lên: hầu như toàn bộ các tình nguyện viên đều không chịu tiếp tục làm việc. Cody liền tuyên bố: “Cuộc đình công toàn diện đã được thông qua, và cho đến khi nào kẻ sát hại Stephanie bị bắt, an toàn của chúng ta được đảm bảo.” Buổi họp kết thúc, đám đông ồn ào giải tán khỏi nhà hàng, trong ánh mặt trời nóng nực cuối ngày. Derek vội vàng túm người phụ nữ đã nói đến Đêm đen lại.

- Đêm đen là gì vậy, thưa bà? Anh hỏi bà ta.

Bà ta nhìn anh chằm chằm với vẻ đầy sợ sệt.

- Anh không phải là người ở đây sao, thưa anh?

- Không, thưa bà. Tôi là nhân viên cảnh sát bang.

Anh cho bà xem phù hiệu. Người phụ nữ liền nhỏ giọng nói với anh:

- Đêm đen là điều tồi tệ nhất có thể xảy đến. Sự hiện diện của một nỗi bất hạnh lớn lao. Nó đã xảy ra một lần, nó sẽ tiếp tục xảy ra.

- Tôi không chắc là mình hiểu rõ, thưa bà.

- Vậy là anh không hề biết gì hết sao? Mùa hè năm 1994, mùa hè mà Đêm đen đã xảy ra!

- Bà đang nói về vụ sát hại bốn người chăng?

Bà ta gật đầu đầy vẻ lo lắng.

- Vụ sát hại bốn người đó, chính là Đêm đen ! Và hè này mọi chuyện sẽ tái diễn! Hãy rời xa khỏi đây, hãy ra đi trước khi nỗi bất hạnh đuổi kịp anh và giáng xuống thành phố này. Liên hoan sân khấu này đã bị nguyền rủa!

Bà vội vã rời khỏi nhà hàng và biến mất cùng các tình nguyện viên cuối cùng, để lại Café Athéna vắng ngắt. Derek quay trở lại bàn. Ngoại trừ chúng tôi, trong nhà hàng chỉ còn lại thị trưởng Brown.

- Người phụ nữ đó có vẻ vô cùng sợ sệt trước câu chuyện Đêm đen đó, tôi nói với ông thị trưởng.

Ông nhún vai.

- Anh đừng để ý, đại úy Rosenberg ạ, Đêm đen chỉ là một huyền thoại nực cười. Người phụ nữ đó nói bậy đấy.

Đến lượt thị trưởng Brown cũng rời đi. Massachusetts vội vàng đến bên bàn chúng tôi để rót thêm cà phê vào các cốc, mặc dù chúng tôi gần như còn chưa uống. Tôi hiểu rằng đó là một cái cớ để nói chuyện với chúng tôi. Ông ta thì thầm:

- Thị trưởng không nói sự thật với các vị. Đêm đen còn hơn là một huyền thoại ở thành phố này. Nhiều người ở đây tin vào nó và thấy ở đó một dự đoán đã từng xảy ra vào năm 1994.

- Dự đoán kiểu gì? Derek hỏi.

- Rằng một ngày nào đó, do sai lầm của một vở kịch, thành phố sẽ chìm trong hỗn loạn suốt một đêm: đó chính là Đêm đen khủng khiếp.

- Chuyện gì đã xảy ra vào năm 1994? Tôi hỏi.

- Tôi nhớ là ngay sau lời tuyên bố thành lập Liên hoan sân khấu của thị trưởng Gordon, đã bắt đầu xảy ra những sự kiện lạ lùng trong thành phố.

- Những sự kiện kiểu gì? Derek hỏi.

Massachusetts không thể nói gì thêm với chúng tôi, bởi vì đúng lúc đó, cửa nhà hàng Café Athéna mở ra. Người vừa đến chính là chủ nhà hàng. Tôi nhận ra bà ta ngay lập tức: đó là Sylvia Tennenbaum, chị gái của Ted Tennenbaum. Năm đó bà ta chừng 40 tuổi, nghĩa là bây giờ đã 60 tuổi, nhưng vẻ bề ngoài vẫn gần như không thay đổi: vẫn là người phụ nữ tinh tế mà tôi đã gặp trong khuôn khổ vụ điều tra. Khi nhìn thấy chúng tôi, bà ta không thể kìm nén nỗi bối rối, nhưng rồi vội vàng thay thế nó bằng một khuôn mặt băng giá:

- Người ta bảo tôi là hai người đã quay về thành phố, bà nói với chúng tôi bằng giọng cộc cằn.

- Chào bà Sylvia, tôi trả lời. Tôi không biết chính bà là người mua lại nhà hàng này.

- Cũng phải có ai đó phụ trách nó chứ, sau khi các anh giết chết em trai tôi.

- Chúng tôi không giết em trai bà, Derek phản bác.

- Hai người không được chào đón ở đây, bà dằn từng tiếng thay cho câu trả lời. Hãy trả tiền rồi đi đi.

- Được thôi, tôi nói. Chúng tôi không đến đây để chuốc lấy phiền toái.

Tôi bảo Massachusetts tính tiền, ông lập tức mang biên lai ra. Ở cuối tờ biên lai, ông đã viết bằng bút bi:

Hãy tìm hiểu về những gì đã xảy ra vào đêm 11 sáng ngày 12 tháng Hai năm 1994.

- Tôi đã không hình dung được mối liên hệ giữa Sylvia và Ted Tennenbaum, Anna nói với tôi và Derek khi chúng tôi ra khỏi nhà hàng Café Athéna. Đã xảy ra chuyện gì với em trai bà ta?

Cả Derek lẫn tôi đều không muốn nói đến chuyện đó. Chúng tôi im lặng một lát, rồi cuối cùng Derek chuyển chủ đề:

- Chúng ta hãy bắt đầu bằng việc làm rõ chuyện về Đêm đen và lời nhắn này của Massachusetts.

Có một người chắc chắn có thể giúp chúng tôi trong việc này: Michael Bird. Chúng tôi đến tòa soạn Thời báo Orphea, và vừa nhìn thấy chúng tôi đi vào phòng làm việc của ông, Michael Bird đã hỏi:

- Ba người đến đây vì trang nhất của tờ báo đúng không?

- Không, tôi trả lời, nhưng vì ông đã nhắc đến chuyện đó, tôi cũng rất muốn biết tại sao ông lại làm thế? Tôi đã kể với ông về mảnh giấy tìm thấy trong xe của Stephanie trong lúc chuyện trò thân mật! Không phải để rồi thông tin đó nằm chình ình trên trang nhất tờ báo của các ông.

- Stephanie là một phụ nữ rất can đảm, một nữ phóng viên ngoại hạng! Michael đáp lời tôi. Tôi không chấp nhận để cô ấy chết đi vô ích: tất cả mọi người cần phải biết về công việc của cô ấy!

- Đúng thế, Michael ạ, cách tốt nhất để vinh danh cô ấy là hoàn tất cuộc điều tra mà cô ấy đang tiến hành dở. Chứ không phải gieo rắc nỗi lo sợ trong thành phố bằng cách rêu rao hết các manh mối của cuộc điều tra.

- Tôi rất tiếc, Jesse ạ, Michael nói. Tôi có cảm giác mình đã không biết cách bảo vệ Stephanie. Tôi ước được quay lại quá khứ biết bao. Ấy thế mà tôi còn tin vào cái tin nhắn chết tiệt kia. Chính tôi là người đã nói với anh, một tuần trước, là chẳng có gì phải lo lắng cả.

- Ông không thể biết được, Michael ạ. Đừng tự dằn vặt mình vô ích, bởi vì dù sao đi nữa, vào thời điểm đó cô ấy cũng đã chết rồi. Chúng ta chẳng thể làm gì nữa.

Michael đổ sụp xuống ghế, rụng rời. Tôi liền nói thêm:

- Nhưng ông có thể giúp chúng tôi tìm ra kẻ đã làm điều đó.

- Tôi sẽ làm tất cả những gì anh muốn, Jesse ạ. Tôi sẵn lòng giúp anh.

- Stephanie đã quan tâm đến một cụm từ mà chúng tôi không thể hiểu nó có ý nghĩa gì: Đêm đen.

Ông khẽ mỉm cười thích thú.

- Tôi đã nhìn thấy hai chữ đó trên tờ giấy mà anh cho tôi xem, và tôi cũng cảm thấy tò mò. Do đó, tôi đã tìm kiếm trong đống tài liệu lưu trữ của tờ báo.

Ông lấy từ trong ngăn kéo ra một tập hồ sơ và đưa cho chúng tôi. Bên trong, một loạt các bài báo đăng tải từ mùa thu năm 1993 đến mùa hè năm 1994, với rất nhiều những câu chữ vừa đáng sợ lại vừa bí ẩn. Đầu tiên là trên tường một bưu cục: Sắp diễn ra: Đêm đen. Rồi ở khắp thành phố.

Một đêm tháng Mười một năm 1993, một tờ gấp cài sau cần gạt nước của hàng trăm chiếc xe, trên đó có ghi: Đêm đen đang đến.

Một sáng tháng Mười hai năm 1993, cư dân thành phố thức dậy và nhìn thấy những tờ gấp rải trước cửa nhà: Hãy chuẩn bị đi, Đêm đen đang đến.

Vào tháng Hai năm 1994, sau khi một tòa nhà bỏ hoang trên phố chính bị cố ý phóng hỏa, lính cứu hỏa phát hiện ra trên những bức tường một dòng chữ mới viết: Đêm đen sẽ sớm bắt đầu.

Và cứ như thế cho đến tận đầu tháng Sáu năm 1994, đến lượt mặt tiền Nhà hát lớn bị phá hoại: Liên hoan sân khấu sắp bắt đầu: Đêm đen cũng thế.

- Vậy là Đêm đen có liên hệ với Liên hoan sân khấu, Derek kết luận.

- Cảnh sát chưa bao giờ tìm ra kẻ nào có thể đứng đằng sau những lời đe dọa này, Michael bổ sung.

Tôi tiếp lời:

- Anna đã tìm thấy dòng chữ này trong hồ sơ lưu trữ, thay cho bộ hồ sơ của cảnh sát về vụ án mạng giết bốn người năm 1994, và cả trong một ngăn kéo bàn làm việc của đồn trưởng Kirk Harvey tại sở cảnh sát.

Kirk Harvey biết điều gì đó chăng? Có phải đó chính là lý do khiến ông ta biến mất đầy bí ẩn? Chúng tôi cũng tò mò muốn biết điều gì đã xảy ra trong đêm 11 sang ngày 12 tháng Hai năm 1994 tại Orphea. Sau khi lục tìm trong tài liệu lưu trữ, chúng tôi phát hiện ra, trong số báo ra ngày 13 tháng Hai, một bài báo về vụ cố tình phóng hỏa một tòa nhà trên phố chính, vốn thuộc tài sản của Ted Tennenbaum, anh ta muốn biến nó thành một nhà hàng, ngược với ý kiến của thị trưởng Gordon.

Derek và tôi đã biết chuyện này từ hồi điều tra về vụ án mạng. Nhưng đối với Anna, thông tin này là một phát hiện mới.

- Đó là trước khi xây nhà hàng Café Athena, Derek giải thích với cô. Chính vụ hỏa hoạn đó đã cho phép chuyển đổi tòa nhà đó thành một nhà hàng.

- Hồi ấy, có lẽ chính Ted Tennenbaum đã phóng hỏa chăng? Cô hỏi.

- Không có ai biết chắc chắn, Derek nói. Nhưng chuyện đó thì ai cũng biết. Hẳn phải có một cách giải thích khác thì nhân viên phục vụ ở Café Athéna mới nhắc chúng ta lưu ý.

Đột nhiên, anh nhíu mày và so sánh bài báo về vụ cháy với một trong các bài báo viết về Đêm đen.

- Chết tiệt, Jesse này! Anh bảo tôi.

- Anh tìm thấy gì thế? Tôi hỏi.

- Nghe đoạn này xem. Đoạn này trích từ một trong các bài báo liên quan đến những dòng chữ về Đêm đen: “Hai ngày sau vụ hỏa hoạn tàn phá tòa nhà trên phố chính, khi quét dọn tàn tro, lính cứu hỏa đã phát hiện ra trên một trong các bức tường dòng chữ: ĐÊM ĐEN SẼ SỚM BẮT ĐẦU.

- Vậy là có thể có một mối liên hệ giữa Đêm đen và Ted Tennenbaum?

- Thế nếu câu chuyện Đêm đen đó là thật thì sao? Anna gợi ý. Thế nếu chỉ vì một vở kịch, mà có lẽ thành phố sắp chìm trong náo loạn suốt một đêm? Thế nếu ngày 26 tháng Bảy, trong buổi diễn đầu tiên của Liên hoan sân khấu, sẽ lại xảy ra một vụ án mạng hoặc tàn sát giống vụ tàn sát năm 1994? Thế nếu vụ sát hại Stephanie chỉ là màn dạo đầu cho một chuyện gì đó nghiêm trọng hơn nhiều sắp xảy ra thì sao?

một tờ giấy đã ố vàng vì thời gian, trên đó có một dòng chữ đánh máy: Nơi đây ĐÊM ĐEN bắt đầu. Chẳng khác nào điểm khởi đầu của một trò chơi săn tìm kho báu. Chi tiết cụ thể duy nhất mà chúng tôi có được là cú điện thoại gọi đi từ nhà hàng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.