Ngày mà tất cả đều đảo lộn. Lúc đó là 17 giờ 30 phút. Các cánh cửa của Nhà hát lớn sắp mở. Đường phố chính, bị cảnh sát phong tỏa, đông đặc người. Cảnh náo động điên cuồng ngự trị. Giữa đám phóng viên, những người hiếu kỳ và những người bán đồ lưu niệm lưu động, những người có vé dồn lại đằng trước các hàng rào an ninh vẫn đang ngăn lối vào Nhà hát lớn. Những người thất vọng, vì không mua được vé xem đêm biểu diễn khai mạc, len lỏi giữa đám đông với những tấm biển tự chế, hứa sẽ chi những khoản tiền khổng lồ để có được một vé.
Ở các lối vào chính của Nhà hát lớn, cảnh sát đang hoàn tất việc lắp đặt các cổng kiểm tra. Công chúng không còn đứng yên được nữa. Chỉ trong vòng hơn hai giờ đồng hồ nữa, đêm trình diễn đầu tiên của vở kịch Đêm đen sẽ bắt đầu. Danh tính kẻ sát nhân trong vụ án mạng giết chết bốn người năm 1994 cuối cùng sẽ được tiết lộ.
Trong phòng tài liệu lưu trữ ở Thời báo Orphea8, Derek, Anna và tôi đang chuẩn bị đến Nhà hát lớn. Buộc phải chứng kiến vinh quang lố bịch của Kirk Harvey. Ngày hôm trước, thiếu tá McKenna đã cảnh báo chúng tôi và ra lệnh buộc chúng tôi phải giữ khoảng cách với ông ta. “Thay vì tức giận Harvey, ông nói với Derek và tôi, tốt hơn hết các cậu nên kết thúc cuộc điều tra và phát hiện ra sự thật.” Điều này thật không công bằng. Chúng tôi đã làm việc không ngơi nghỉ, đến tận phút cuối cùng, nhưng đáng buồn thay, lại không thành công là mấy. Tại sao Meghan Padalin lại bị giết? Kẻ nào lại có lý do xác đáng để loại bỏ người phụ nữ không hề có điều tiếng gì ấy?
Michael Bird đã trợ giúp chúng tôi rất đắc lực, ông gần như thức trắng đêm cùng chúng tôi. Ông thu thập tất cả những gì có thể thu thập được về Meghan, để chúng tôi có thể thiết lập lại tiểu sử của cô. Cô sinh tại Pittsburgh, và học ngành văn chương tại một trường đại học nhỏ thuộc bang New York. Cô từng sống một thời gian ngắn tại New York trước khi chuyển đến sống tại Orphea vào năm 1990, cùng với người chồng, Samuel, anh này làm kỹ sư tại một nhà máy trong vùng. Cô đã nhanh chóng được Cody tuyển dụng vào làm ở hiệu sách.
Và có thể nói gì về chồng cô, Samuel Padalin, người đã đột ngột xuất hiện trở lại ở Orphea để tham gia vở kịch? Sau khi vợ anh bị sát hại, anh đã chuyển nhà đến Southampton và tái hôn.
Samuel Padalin có vẻ cũng là một người không có điều tiếng gì. Anh chưa từng có tiền án tiền sự gì, và tham gia rất nhiều tổ chức với tư cách tình nguyện viên. Người vợ sau của anh, Kelly Padalin, là bác sĩ. Họ có hai con, 10 và 12 tuổi.
Liệu có thể có một mối liên hệ nào đó giữa Meghan Padalin và Jeremiah Fold không? Thậm chí là giữa Samuel Padalin và Jeremiah?
Chúng tôi gọi điện cho cựu đặc vụ Grace thuộc ATF, nhưng cái họ Padalin không gợi cho ông nghĩ đến bất cứ điều gì. Không thể hỏi thông tin từ Costico, hắn vẫn biệt tăm biệt tích. Chúng tôi liền hỏi han Virginia Parker, ca sĩ ở Câu lạc bộ, người có một đứa con với Jeremiah Fold, nhưng cô ta khẳng định là chưa bao giờ nghe nói đến cả Samuel lẫn Meghan Padalin.
Không người nào liên quan đến người nào. Chuyện đó gần như rất khó tin. Đến giờ cánh cửa Nhà hát lớn sắp mở, chúng tôi vẫn đang băn khoăn phải chăng đây là hai vụ án hoàn toàn khác biệt.
- Một bên là vụ sát hại Meghan, và một bên là những rắc rối giữa Gordon và Jeremiah, Derek trầm ngâm.
- Chỉ có điều dường như Gordon cũng không hề có bất cứ mối liên hệ nào với Jeremiah Fold, tôi nhận xét.
- Nhưng có vẻ như vở kịch của Harvey đúng là nói về Jeremiah Fold, Anna nhắc nhở chúng tôi. Tôi tin là mọi chuyện đều liên quan đến nhau.
- Vậy thì nếu tôi không nhầm, Michael tổng kết lại, tất cả đều liên quan đến nhau, nhưng lại chẳng có điều gì liên kết với điều gì. Chuyện của các vị có vẻ giống với một câu đố bí hiểm quá.
- Chính xác là thế! Anna thở dài. Ngoài ra còn thêm vụ sát hại Stephanie nữa. Liệu có thể là cùng một kẻ gây án hay không?
Để tìm cách thoát khỏi mớ bòng bong hiện tại, Derek huy động toàn bộ tâm trí.
- Chúng ta hãy thử đặt mình vào vị thế của kẻ sát nhân. Nếu tôi là hắn, hôm nay tôi sẽ làm gì?
- Hoặc tôi đã bỏ đi rất xa rồi, tôi trả lời, đến Venezuela, hoặc bất cứ quốc gia nào không áp dụng luật dẫn độ. Hoặc tôi sẽ tìm cách ngăn cản buổi trình diễn vở kịch.
- Ngăn cản buổi trình diễn ư? Derek ngạc nhiên. Nhưng khán phòng đã được chó nghiệp vụ lục soát, và bất cứ ai muốn vào đó cũng sẽ bị khám xét.
- Tôi tin là hắn sẽ ở đó, tôi nói. Tôi tin là kẻ sát nhân sẽ ở trong khán phòng, giữa chúng ta.
Chúng tôi quyết định đến Nhà hát lớn và quan sát các khán giả khi họ vào trong tòa nhà. Có thể có một hành vi đặc biệt nào đó sẽ cảnh báo chúng tôi chăng? Hoặc chúng tôi sẽ nhận ra một khuôn mặt. Nhưng chúng tôi cũng muốn biết thêm về những gì Kirk Harvey đang âm thầm che giấu. Nếu có thể biết được tên của kẻ sát nhân trước khi ông ta để cho một diễn viên thốt ra, chúng tôi sẽ đi trước được một bước dài.
Cách duy nhất để đọc được suy nghĩ của Harvey là tìm cách tiếp cận các trang thiết bị sáng tạo của ông ta. Và đặc biệt là tập hồ sơ điều tra mà ông ta đang cất giấu đâu đó. Chúng tôi cử Michael Bird đến Khách sạn bên hồ để lục lọi phòng Kirk, trong lúc ông ta vắng mặt.
- Những gì tôi có thể tìm được sẽ không bao giờ có giá trị làm bằng chứng đâu, Michael nhắc nhở chúng tôi.
- Chúng tôi không cần bằng chứng, Derek nói. Chúng tôi cần một cái tên.
- Thế tôi làm cách nào để lên các tầng được? Ông hỏi. Cảnh sát ở khắp nơi trong khách sạn.
- Hãy cho họ xem giấy phép xem tập kịch của ông, và nói rằng chính Kirk Harvey nhờ ông đến lấy mấy thứ đồ. Tôi sẽ báo cho họ biết rằng ông sắp đến.
Nếu như các cảnh sát tỏ ra sẵn sàng để Michael lên tầng, thì giám đốc khách sạn lại rất lưỡng lự khi đưa chìa khóa phụ của căn phòng cho ông.
- Ông Harvey đã đưa ra những chỉ đẫn rất rõ ràng, ông ta giải thích với Michael, không ai được vào phòng ông ấy.
Nhưng vì Michael vẫn kiên trì giải thích rằng chính Harvey đã nhờ ông đến để lấy một tập ghi chép, viên giám đốc quyết định đi cùng ông vào phòng suite.
Căn phòng cực kỳ ngăn nắp. Khi vào đến bên trong, trước ánh mắt nghi ngờ của viên giám đốc, Michael không nhìn thấy bất cứ tài liệu nào. Không một cuốn sách, không một tờ ghi chép. Không gì hết. Ông kiểm tra bàn làm việc, các ngăn kéo và thậm chí cả bàn đầu giường. Nhưng không có gì hết. Ông ghé mắt vào phòng tắm. “Tôi không nghĩ là ông Harvey lại cất sổ sách trong phòng tắm đâu”, viên giám đốc khó chịu nhận xét.
- Chẳng có gì trong phòng Harvey cả, Michael thông báo khi gặp chúng tôi trong hội trường Nhà hát lớn, sau khi vượt qua không biết bao nhiêu lần kiểm tra an ninh.
Đã 19 giờ 30 phút. Nửa giờ nữa vở kịch sẽ bắt đầu. Chúng tôi vẫn không thể vượt trước Harvey. Chúng tôi sẽ phải nghe tên kẻ sát nhân từ miệng các diễn viên, giống như tất cả các khán giả khác. Và chúng tôi lo lắng không biết kẻ sát nhân sẽ phản ứng thế nào, nếu hắn có mặt trong khán phòng.
19 giờ 58 phút. Trong hậu trường Nhà hát, khi chỉ còn vài phút nữa là lên sân khấu, Harvey tập hợp các diễn viên trong một hành lang dẫn từ phòng diễn viên ra sân khấu. Trước mặt ông là Charlotte Brown, Dakota và Jerry Eden, Samuel Padalin, Ron Gulliver, Meta Ostrovski, Steven Bergdorf và Alice Filmore.
- Các bạn thân mến, ông nói với họ, tôi hy vọng các bạn đã sẵn sàng để khám phá cơn rùng mình trước vinh quang và chiến thắng. Vở diễn của các bạn, độc nhất vô nhị trong suốt lịch sử ngành sân khấu, sẽ làm đảo lộn toàn bộ đất nước này.
20 giờ.
Khán phòng chìm trong bóng tối. Tiếng ồn ào của khán giả lập tức ngừng bặt. Cảm giác căng thẳng phập phồng, tưởng như có thể sờ thấy được. Vở kịch sắp bắt đầu. Derek, Anna và tôi đứng ở hàng cuối cùng, mỗi người án ngữ một cửa phòng.
Thị trưởng Brown xuất hiện trên sân khấu để đọc diễn văn khai mạc. Tôi nhớ đến hình ảnh trích xuất từ cuốn băng ghi lại cùng một cảnh tượng này, nhưng từ hai mươi năm trước, mà Stephanie Mailer đã khoanh tròn bằng bút dạ.
Sau vài câu từ như thường lệ, thị trưởng kết thúc bài diễn văn bằng câu “Đây là một Liên hoan sân khấu sẽ in đậm dấu ấn trong tâm trí mọi người. Vở kịch xin được bắt đầu”. Ông xuống khỏi sân khấu để ngồi vào hàng ghế đầu. Rèm được kéo lên. Khán giả rùng mình.
Trên sân khấu, Samuel Padalin, người đóng vai xác chết, và bên cạnh anh, là Jerry đóng vai cảnh sát. Trong một góc, Steven và Alice, mỗi người cầm một chiếc vô lăng, đóng vai các tài xế giận dữ. Dakota nhẹ nhàng tiến bước. Harvey lên tiếng dẫn truyện:
Đó là một đêm u ám. Trời mưa. Trên một con đường nông thôn, giao thông đã bị tê liệt: một đám tắc đường khổng lồ vừa hình thành. Những người lái xe, bực tức, điên cuồng bấm còi.
Không ai có thể nghe thấy họ, nhưng vừa giả vờ nhấn còi, Steven và Alice vừa cãi nhau. “Alice, em phải phá thai đi! - Không bao giờ, Steven ạ! Nó là con anh, và anh phải chịu trách nhiệm về nó.”
Harvey đọc tiếp:
Một cô gái trẻ, đi bộ bên lề đường, ngược dòng xe cộ bất động.
CÔ GÁI TRẺ (Dakota): Có chuyện gì thế?
VIÊN CẢNH SÁT (Jerry): Một người chết. Tai nạn mô tô thảm khốc.
CÔ GÁI TRẺ: Tai nạn mô tô ư?
VIÊN CẢNH SÁT: Đúng thế, anh ta đã lao hết tốc lực vào một gốc cây. Anh ta chỉ còn là một đống bầy nhầy.
Khán giả như bị thôi miên. Rồi Harvey hét lên: “Vũ điệu xác chết!” Và tất cả các diễn viên hét lên: “Vũ điệu xác chết! Vũ điệu xác chết!” Ostrovski và Ron Gulliver xuất hiện trong trang phục quần sịp, và khán giả phá lên cười.
Gulliver ôm chặt con chồn gu lô nhồi bông và ngâm nga: “Chồn gu lô, chồn gu lô xinh đẹp của ta, hãy cứu vớt chúng ta khỏi cái kết cục đã đến rất gần!” Ông hôn con vật rồi ngã xuống sàn. Ostrovski dang rộng hai cánh tay, và cố gắng để không bị phân tâm trước những tiếng cười của khán giả khiến ông bối rối, ngâm nga theo:
Dies iroe, dies ilia,
Solvet soeclum in favílla!
Đúng lúc đó, tôi nhận thấy rằng Harvey không hề cầm giấy tờ gì trên tay. Tôi lại gần Derek.
- Harvey đã nói rằng ông ta sẽ phát kịch bản dần dần cho các diễn viên, nhưng ông ta chẳng có gì trên tay hết.
- Như thế có nghĩa là gì vậy?
Trong khi trên sân khấu bắt đầu chuyển sang cảnh ở Câu lạc bộ nơi Charlotte cất tiếng hát, Derek và tôi lập tức lao ra ngoài khán phòng để vào hậu trường. Chúng tôi tìm thấy phòng thay đồ của Harvey, nó khóa kín. Chúng tôi mở cửa bằng một cú đạp. Trên một chiếc bàn, chúng tôi nhìn thấy ngay tập hồ sơ cảnh sát, nhưng chủ yếu là mớ giấy tờ chết tiệt của ông ta. Chúng tôi xem lướt các trang. Đúng là có những cảnh đầu tiên vừa được trình diễn, rồi tiếp đó, sau cảnh trong Câu lạc bộ, Meghan xuất hiện, một mình, và tuyên bố:
Đã đến thời khắc của sự thật. Tên kẻ sát nhân là…
Dòng chữ dừng lại ở phần ba chấm. Sau đó không còn gì hết. Chỉ toàn là những trang giấy trắng. Sau một thoáng sững sờ, Derek bỗng kêu lên:
- Ôi, lạy Chúa, Jesse ạ, cậu nói đúng! Harvey không hề biết gì về danh tính của kẻ sát nhân: ông ta chờ cho hắn tự lột mặt nạ bằng cách cắt ngang buổi diễn.
Cùng lúc đó, Dakota một mình tiến lên đằng trước sân khấu. Cô tuyên bố bằng giọng tiên tri: “Đã đến thời khắc của sự thật.”
Derek và tôi lao ra khỏi phòng diễn viên: phải ngừng vở diễn trước khi chuyện nghiêm trọng xảy ra. Nhưng đã quá muộn. Cả khán phòng chìm trong bóng tối. Đêm đen. Chỉ có sân khấu sáng đèn. Khi chúng tôi đến ngang tầm sân khấu, Dakota bắt đầu câu thoại: “Tên của kẻ sát nhân là…”
Đột nhiên, hai tiếng súng nổ vang. Dakota ngã sõng soài ra sàn.
Đám đông bắt đầu la hét. Derek và tôi rút súng khỏi bao rồi lao lên sân khấu, miệng hét vào bộ đàm: “Có nổ súng, có nổ súng”. Đèn trong khán phòng bật sáng, cảnh tượng hoảng loạn lan rộng. Đám khán giả kinh hoàng tìm cách tháo chạy bằng mọi cách. Đúng là một đám hỗn độn. Chúng tôi không nhìn thấy kẻ vừa nổ súng. Anna cũng không. Và chúng tôi không thể chặn dòng người đang đổ ra qua các lối thoát hiểm. Kẻ nổ súng đã lẩn vào đám đông. Có thể hắn đã đi xa rồi.
Dakota nằm trên sàn, cả người đang lên cơn co giật, máu loang ra khắp nơi. Jerry, Charlotte và Michael đã lao đến quanh cô. Jerry gào hét. Tôi ấn tay vào hai vết thương của cô để ngăn máu chảy, trong khi Derek gào vào máy bộ đàm: “Có người bị bắn! Cử nhân viên cứu hộ lên sân khấu!”
Dòng khán giả đổ ra phố chính, biến thành một khối khổng lồ chuyển động trong nỗi hoảng loạn, và cảnh sát không thể nào ngăn lại được. Ai nấy đều gào hét. Họ nói rằng đây là một vụ khủng bố.
Steven cùng Alice chạy đến khi vào được một công viên nhỏ vắng vẻ. Họ dừng lại để thở.
- Nhưng đã xảy ra chuyện gì vậy? Alice kinh hãi hỏi.
- Anh không biết, Steven trả lời.
Alice quan sát đường phố. Không có một ai. Khắp nơi đều vắng lặng. Họ đã chạy rất lâu. Steven hiểu rằng cần phải hành động lúc này, hoặc không bao giờ. Alice đang quay lưng về phía ông. Ông nhặt một hòn đá dưới đất rồi giáng một cú thật lực vào đầu Alice, khiến hộp sọ vỡ ngay lập tức. Cô ngã vật xuống đất. Chết ngay.
Kinh hoàng vì việc mình vừa làm, Steven thả rơi hòn đá rồi lùi lại, nhìn cái thân hình bất động. Ông muốn nôn mửa. Ông lo lắng quan sát xung quanh. Không có ai. Không có người nào nhìn thấy. Ông kéo xác Alice vào một bụi cây rồi cuống cuồng chạy về phía Khách sạn bên hồ.
Trong phố chính, người ta nghe thấy tiếng la hét và tiếng còi hụ. Những chiếc xe cấp cứu đang đổ xô đến.
Một cảnh tượng hoàn toàn hỗn loạn.
Chính là Đêm đen.