Sự Thật Vụ Mất Tích Nữ Nhà Báo Stephanie Mailer

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Jesse Rosenberg Thứ Hai Ngày 23 Tháng Sáu Năm 2014 33 Ngày Trước Đêm Biểu Diễn Khai Mạc Của Liên Hoan Sân Khấu Lần Thứ 21 Tại Orphea

❊ ❊ ❊

Lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi gặp Stephanie Mailer chính là khi cô thâm nhập bữa tiệc nhỏ được tổ chức để chúc mừng tôi chia tay lực lượng Cảnh sát bang New York.

Ngày hôm đó, đông đảo cảnh sát thuộc đủ các bộ phận đã tụ tập trong ánh mặt trời giữa trưa, đằng trước cái bục gỗ được dựng lên vào những dịp trọng đại tại bãi đỗ xe của trung tâm vùng thuộc lực lượng cảnh sát bang. Tôi đứng trên cái bục ấy, bên cạnh cấp trên của tôi, thiếu tá McKenna, người đã dẫn dắt tôi trong suốt sự nghiệp cảnh sát của tôi, ông đang trịnh trọng vinh danh tôi.

“Jesse Rosenberg là một đại úy cảnh sát trẻ tuổi, nhưng rõ ràng cậu ấy đang rất sốt ruột muốn rời khỏi ngành, thiếu tá McKenna tuyên bố khiến cử tọa cười rộ lên. Tôi không bao giờ tưởng tượng được là cậu ấy lại ra đi trước tôi. Dù sao, cuộc đời cũng thật bất công: tất cả mọi người đều muốn tôi ra đi, nhưng tôi vẫn ở đây, và tất cả mọi người đều muốn giữ Jesse ở lại, nhưng Jesse lại ra đi.”

Tôi 45 tuổi và tôi rời khỏi ngành cảnh sát với tâm trạng thư thái, vui vẻ. Sau hai mươi ba năm phục vụ, tôi đã quyết định nhận khoản trợ cấp mà lúc này tôi có quyền được hưởng để thực hiện một dự án mà tôi vẫn nung nấu từ lâu. Tôi vẫn còn một tuần làm việc nữa, đến tận 30 tháng Sáu. Sau đó, có lẽ một chương mới trong cuộc đời tôi sẽ mở ra.

“Tôi vẫn còn nhớ vụ án lớn đầu tiên của Jesse, thiếu tá McKenna nói tiếp. Một vụ giết người khủng khiếp với bốn nạn nhân, mà cậu ấy đã phá án xuất sắc, trong khi không có người nào trong đội cảnh sát tin rằng cậu ấy đủ khả năng làm việc đó. Khi ấy, Jeese vẫn còn là một cảnh sát trẻ măng. Kể từ thời điểm đó, tất cả mọi người đều hiểu Jesse kiên cường đến mức nào. Tất cả những người từng ở bên cậu ấy đều biết rằng cậu ấy là một điều tra viên ngoại hạng, tôi nghĩ có thể nói rằng thậm chí Jesse chính là người giỏi nhất trong số chúng tôi. Chúng tôi đã đặt biệt danh cho cậu ấy là đại úy 100% vì đã giải quyết được tất cả các vụ điều tra mà cậu ấy từng tham gia, điều này khiến Jesse trở thành điều tra viên có một không hai. Cậu ấy là cảnh sát được các đồng nghiệp ngưỡng mộ, là chuyên gia để các đồng nghiệp xin ý kiến tư vấn, là chuyên viên đào tạo thuộc Học viện cảnh sát trong suốt nhiều năm liền. Hãy để tôi nói với cậu điều này, Jesse ạ: đã hai mươi năm nay tất cả chúng tôi ghen tị với cậu!”

Cử tọa lại cười rộ lên.

“Chúng tôi không hiểu rõ lắm về dự án mới đang chờ đợi cậu, Jesse ạ, nhưng chúng tôi chúc cậu gặp nhiều may mắn trong dự án đó. Và hãy nhớ rằng chúng tôi sẽ rất nhớ cậu, ngành cảnh sát sẽ nhớ cậu, nhưng đặc biệt là các bà vợ của chúng tôi, những người thường ghé qua các hội chợ của ngành cảnh sát chỉ để nhìn như muốn ăn tươi nuốt sống cậu.”

Một tràng pháo tay vang dội tán thưởng bài diễn văn. Thiếu tá McKenna thân mật vỗ vai tôi, tôi xuống khỏi bục để đến chào tất cả những người đã thân thiện có mặt, trước khi họ lao đến chỗ bày đồ ăn tự chọn.

Sau khi tôi còn lại một mình được một lát, thì một cô gái rất xinh đẹp, tuổi trạc ba mươi đi đến bên tôi, tôi không nhớ đã tùng gặp cô ta bao giờ chưa.

- Vậy ra anh chính là viên đại úy 100% trứ danh đó? Cô ta hỏi tôi bằng giọng đầy quyến rũ.

- Hình như thế, tôi mỉm cười trả lời. Chúng ta có quen biết nhau không?

- Không. Tôi tên là Stephanie Mailer. Tôi là phóng viên làm việc cho tờ Thời báo Orphea.

Chúng tôi bắt tay nhau. Stephanie liền bảo tôi:

- Anh có ngại không nếu tôi gọi anh là đại úy 99%?

Tôi nhíu mày:

- Phải chăng cô đang muốn nói bóng gió rằng tôi đã không phá được một trong các vụ án mà tôi được giao điều tra?

Thay cho toàn bộ câu trả lời, cô ta lấy từ trong túi ra bản sao một bài báo cắt từ tờ Thời báo Orphea, số ra ngày 1 tháng Tám năm 1994 rồi đưa cho tôi:

ĐOẠT MẠNG BỐN NGƯỜI Ở ORPHEA:

THỊ TRƯỞNG CÙNG CẢ GIA ĐÌNH BỊ SÁT HẠI

Tối thứ Sáu, thị trưởng thành phố Orphea, Joseph Gordon, vợ ông cùng cậu con trai nhỏ 10 tuổi của họ đã bị sát hại tại nhà riêng. Nạn nhân thứ tư tên là Meghan Padalin, 32 tuổi. Người phụ nữ trẻ này đang chạy thể dục vào thời điểm xảy ra vụ việc, chắc hẳn cô chính là nhân chứng không may của vụ giết người. Cô đã bị bắn chết ngay giữa phố, đằng trước nhà của ông thị trưởng.

Để minh họa cho bài báo, có một bức ảnh chụp tôi cùng đồng đội của tôi hồi đó, Derek Scott, tại hiện trường vụ án.

- Ý cô muốn ám chỉ điều gì? Tôi hỏi cô gái.

- Anh đã không phá được vụ án này, đại úy ạ.

- Cô đang nói linh tinh gì vậy?

- Năm 1994, anh đã bị nhầm thủ phạm. Tôi nghĩ anh muốn biết điều đó trước khi rời khỏi ngành cảnh sát.

Thoạt tiên, tôi tưởng đây là một trò đùa tai ác của các bạn đồng nghiệp, nhưng rồi tôi hiểu ra rằng Stephanie đang nói rất nghiêm túc.

- Phải chăng cô đang tự tiến hành điều tra? Tôi hỏi cô ta.

- Theo một cách nào đó thì đúng thế, đại úy ạ.

- Theo một cách nào đó ư? Cô cần phải cho tôi biết nhiều hơn thế nếu muốn tôi tin cô.

- Tôi đang nói sự thật, đại úy ạ. Ngay sau đây tôi có một cuộc hẹn, có lẽ sẽ cho phép tôi có được một bằng chứng không thể phủ nhận.

- Cuộc hẹn với ai vậy?

- Đại úy này, cô ta nói với tôi bằng giọng thích thú, tôi không phải là đứa mới tập tọng vào nghề. Đây là loại tin đặc biệt mà một phóng viên không bao giờ muốn mạo hiểm để mất. Tôi hứa sẽ chia sẻ các phát hiện của tôi với anh ngay vào thời điểm thích hợp. Trong lúc chờ đợi, tôi có một việc cần nhờ anh đây: hãy cho tôi tiếp cận hồ sơ của Cảnh sát bang.

- Cô gọi đó là một việc cần nhờ, còn tôi thì gọi đó là trò đe dọa! Tôi bẻ lại. Hãy bắt đầu bằng việc cho tôi xem vụ điều tra của cô, Stephanie ạ. Những lời cáo buộc vừa rồi của cô là rất nghiêm trọng đấy.

- Tôi hoàn toàn biết rõ điều đó, đại úy Rosenberg ạ. Và rất tiếc là tôi không hề có ý định để mình bị Cảnh sát bang đánh lừa đâu.

- Tôi nhắc lại để cô nhớ rằng cô có nghĩa vụ chia sẻ toàn bộ các thông tin nhạy cảm mà cô đang nắm giữ với cảnh sát. Đó là luật. Tôi cũng có thể đến tận tòa soạn báo của cô để khám xét đấy.

Stephanie tỏ vẻ thất vọng trước phản ứng của tôi.

- Đành vậy thôi, đại úy 99% ạ, cô nói. Tôi vẫn hình dung rằng chuyện này sẽ khiến anh quan tâm, nhưng chắc hẳn lúc này anh đã bận nghĩ đến việc về hưu và dự án mới mà cấp trên của anh vùa nói đến trong bài diễn văn của ông ấy. Dự án đó là gì vậy? Sửa sang một con tàu cũ chăng?

- Chuyện đó chẳng liên quan gì đến cô cả, tôi cộc cằn đáp trả.

Cô ta nhún vai, tỏ vẻ như sắp rời đi. Tôi tin chắc rằng đó là một mánh khóe lừa bịp của cô ta, và quả đúng thế, đi được vài bước Stephanie dừng lại rồi quay về phía tôi:

- Câu trả lời nằm ngay trước mặt anh, đại úy Rosenberg ạ. Chỉ đơn giản là anh không nhìn ra nó thôi.

Tôi cảm thấy vừa hiếu kỳ vừa cáu kỉnh.

- Tôi không chắc là mình hiểu được ý cô, Stephanie ạ.

Cô ta liền giơ tay lên và đặt nó ngang tầm mắt tôi.

- Anh nhìn thấy gì, đại úy?

- Bàn tay cô.

- Tôi đang cho anh xem các ngón tay tôi, cô ta đính chính.

- Nhưng tôi thì lại nhìn thấy bàn tay cô, tôi đáp lại, không hiểu cô ta có ý gì.

- Đó chính là vấn đề đấy, cô ta bảo tôi. Anh đã nhìn thấy thứ anh muốn nhìn thấy, chứ không phải thứ người ta muốn cho anh thấy. Đó chính là điều anh đã bỏ lỡ cách đây hai mươi năm.

Đó là những lời nói cuối cùng của cô ta. Nói xong, cô ta bỏ đi, để mặc tôi với câu đố hiểm hóc kia, tấm danh thiếp của cô ta cùng bản sao bài báo.

Nhìn thấy Derek Scott, người đồng đội cũ hiện đang ăn sâu bám rễ ở bộ phận hành chính của sở cảnh sát, bên bàn đồ ăn tự chọn, tôi vội đi đến bên anh và cho anh xem bài báo.

- Trông cậu chẳng thay đổi gì cả, Jesse ạ, anh vừa nói vừa mỉm cười với tôi, thích thú khi nhìn thấy bài báo cũ đó. Cô gái đó muốn gì ở cậu?

- Cô ta là phóng viên. Theo cô ta, chúng ta đã mắc sai lầm vào năm 1994. Cô ta khẳng định là chúng ta đã đi chệch hướng điều tra và đã bị nhầm thủ phạm.

- Cái gì? Derek nghẹn giọng, làm sao có thể như thế được.

- Tôi biết.

- Chính xác thì cô ta đã nói gì?

- Rằng câu trả lời nằm ngay trước mắt chúng ta mà chúng ta không nhìn thấy nó.

Derek vẫn tỏ vẻ băn khoăn. Dường như cả anh cũng thấy bối rối, nhưng anh quyết định xua đuổi ý nghĩ đó ra khỏi tâm trí.

- Tôi không tin chuyện đó dù chỉ một phút, cuối cùng anh càu nhàu. Chỉ là một cô ả phóng viên hạng hai muốn tự quảng cáo cho bản thân mà thôi.

- Có thể thế, tôi trầm ngâm trả lời. Cũng có thể là không.

Tôi lướt ánh mắt nhìn quét qua bãi đỗ xe một lượt và thấy Stephanie đang lên xe. Cô ta vừa ra hiệu với tôi vừa hét lên: “Hẹn sớm gặp lại, đại úy Rosenberg.”

Nhưng đã không có cái vụ “sớm gặp lại” đó.

Bởi vì hôm đó chính là ngày cô ta mất tích.

DEREK SCOTT

Tôi vẫn còn nhớ cái ngày toàn bộ vụ việc này bắt đầu. Đó là thứ Bảy ngày 30 tháng Bảy năm 1994.

Tối hôm đó, Jesse và tôi đang trong ca tuần tra. Chúng tôi dừng lại ăn tối ở Blue Lagoon, một nhà hàng thời thượng hồi đó, nơi Darla và Natasha đang làm nhân viên phục vụ.

Hồi ấy, Jesse đã cặp với Natasha được nhiều năm. Darla là một trong những cô bạn gái thân thiết nhất của Natasha. Hai người họ dự định cùng mở một nhà hàng, và dành trọn nhiều ngày cho dự án đó: họ đã tìm được một địa điểm và đang xin giấy phép để thực hiện các công việc chuẩn bị cần thiết. Buổi tối các ngày trong tuần và dịp cuối tuần, họ làm nhân viên phục vụ ở Blue Lagoon, để dành một nửa số tiến kiếm được để tái đầu tư vào nhà hàng tương lai.

Ở Blue Lagoon, hai cô gái hoàn toàn có thể đảm nhận công việc quản lý hoặc làm việc trong khu bếp, nhưng ông chủ nhà hàng đã bảo họ: “Với khuôn mặt xinh đẹp và bộ mông xinh xắn của các cô, thì chỗ của các cô là ở trong phòng ăn. Và đừng có than thở gì cả, tiền hoa hồng các cô nhận được sẽ còn nhiều hơn cả lương tháng nếu các cô làm bếp.” Về điểm này thì ông ta nói không sai: nhiều khách hàng đến Blue Lagoon chỉ để được hai cô phục vụ. Họ xinh đẹp, dịu dàng, tươi cười. Họ có mọi thứ. Không chút nghi ngờ gì là nhà hàng của họ sẽ thành công rực rỡ, và tất cả mọi người đã nói đến nó trước cả khi nó khai trương.

Darla vẫn còn độc thân. Và tôi thú nhận là từ khi gặp nhau, tôi chỉ còn nghĩ đến cô. Tôi quấy rầy, bắt Jesse đến Blue Lagoon khi Natasha và Darla có mặt ở đó, để uống cà phê với hai cô. Và khi hai cô gái tụ tập ở nhà Jesse để bàn bạc về dự án nhà hàng của họ, tôi kiên cường bám trụ để giở bài quyến rũ Darla, nhưng mưu mô của tôi chỉ có tác dụng được một nửa.

Khoảng 20 giờ 30 phút, vào cái buổi tối ngày 30 tháng Bảy trứ danh ấy, Jesse và tôi vừa ăn tối tại quầy bar vừa vui vẻ trò chuyện vài câu với Natasha và Darla, hai cô đang phục vụ quanh chúng tôi. Đột nhiên máy nhắn tin của tôi và của Jesse cùng kêu bíp bíp. Chúng tôi người nọ nhìn chòng chọc người kia, lo lắng.

- Máy của cả hai người cùng kêu bíp một lúc như thế thì chắc là vụ việc phải nghiêm trọng lắm, Natasha nhận xét.

Cô chỉ cho chúng tôi thấy buồng điện thoại của nhà hàng cùng một máy điện thoại đặt trên quầy. Jesse đi về phía buồng điện thoại, còn tôi chọn máy điện thoại ở quầy. Cuộc gọi của chúng tôi rất ngắn gọn.

- Có lệnh điều động chung vì vừa xảy ra một vụ án mạng giết bốn người, tôi giải thích với Natasha và Darla sau khi gác máy, rồi lao ra phía cửa.

Jesse đang mặc áo vest.

- Nhanh lên, tôi mắng cậu ta. Đơn vị cảnh sát hình sự có mặt tại hiện trường đầu tiên sẽ được giao điều tra.

Cả hai chúng tôi đều trẻ tuổi và tham vọng. Đây là cơ hội để chúng tôi có được vụ điều tra quan trọng đầu tiên cùng nhau. Hồi ấy, tôi giàu kinh nghiệm trong nghề hơn Jesse, và đã được đeo lon trung sĩ. Cấp trên đánh giá tôi rất cao. Mọi người đều nói rằng tôi sẽ rất thành công trong sự nghiệp cảnh sát.

Chúng tôi lao ra phố, chạy đến tận chỗ để xe, rồi chui vào trong xe, tôi ngồi bên ghế lái, còn Jesse ngồi bên ghế phụ.

Tôi nổ máy lao vọt xe đi còn Jesse nhặt chiếc đèn hiệu để trên sàn xe. Cậu ta bật nó lên rồi thò tay qua cửa sổ để mở đặt nó lên nóc chiếc xe dân sự hóa, chiếu sáng màn đêm bằng một luồng ánh sáng đỏ rực.

Và tất cả đã bắt đầu như thế.

JESSE ROSENBERG

Thứ Năm ngày 26 tháng Sáu năm 2014

30 ngày trước đêm biểu diễn khai mạc

Tôi đã hình dung là sẽ dành tuần cuối cùng làm cảnh sát của mình để lang thang trong các hành lang và uống cà phê với các đồng nghiệp để nói lời chào tạm biệt họ. Nhưng từ ba ngày nay, tôi giam mình trong phòng làm việc từ sáng đến tối, chìm đắm trong hồ sơ điều tra vụ án giết bốn người xảy ra năm 1994, bộ hồ sơ mà tôi đã lấy ra khỏi kho lưu trữ. Chuyến viếng thăm của cô nàng Stephanie Mailer đó đã khiến tôi cảm thấy bất ổn: tôi không thể nghĩ đến bất cứ chuyện gì khác ngoài bài báo đó, ngoài câu nói mà cô ta đã ném vào mặt tôi: “Câu trả lời nằm ngay trước mắt anh. Chỉ đơn giản là anh đã không nhìn thấy nó.”

Nhưng tôi cảm thấy dường như chúng tôi đã nhìn thấy mọi thứ. Càng xem xét lại toàn bộ hồ sơ, tôi càng tin chắc với ý nghĩ rằng đây là một trong những vụ điều tra có cơ sở nhất mà tôi từng tiến hành trong sự nghiệp của mình: tất cả các yếu tố đều nằm ở đó, các bằng chứng chống lại người được coi là kẻ sát nhân đều rõ ràng không thể chối cãi được. Derek và tôi đã làm việc với thái độ nghiêm túc và tỉ mỉ, không ai có thể chê trách. Tôi không tìm thấy bất kỳ sai sót nào. Vậy thì làm sao chúng tôi có thể nhầm thủ phạm được?

Vừa may, chiều hôm đó Derek xông vào phòng làm việc của tôi.

- Cậu đang làm trò gì thế, hả Jesse? Mọi người đang chờ cậu ở căng tin. Các đồng nghiệp ở bộ phận hành chính đã làm tặng cậu một chiếc bánh ga tô.

- Tôi đến đây, Derek, xin lỗi nhé, đầu óc tôi hơi lơ đãng một chút.

Anh nhìn đống tài liệu rải khắp bàn làm việc của tôi, nhặt một tập lên xem rồi kêu lên:

- Ôi không, đừng có nói với tôi là cậu nghe theo những lời nói ngớ ngẩn của cô ả phóng viên đó đấy nhé?

- Derek này, tôi chỉ muốn kiểm tra để biết chắc chắn là…

Anh không để tôi kịp nói hết câu:

-Jesse, hồ sơ hoàn toàn thuyết phục! Cả cậu lẫn tôi đều biết rõ như thế. Thôi nào, đi thôi, mọi người đang chờ cậu.

Tôi đồng ý.

- Cho tôi thêm một phút nữa thôi, Derek. Rồi tôi sẽ xuống ngay.

Anh thở dài rồi đi ra khỏi phòng tôi. Tôi nhặt tấm danh thiếp để trước mặt rồi bấm số điện thoại của Stephanie. Điện thoại của cô ta đang tắt. Hôm qua tôi đã cố gọi cho cô ta nhưng không được. Chính cô ta cũng không liên hệ lại từ sau khi gặp tôi vào hôm thứ Hai, và tôi quyết định là sẽ không bám riết thêm nữa. Cô ta biết phải gặp tôi ở đâu mà. Cuối cùng, tôi tự nhủ Derek nói đúng: không có điều gì cho phép nghi ngờ những kết luận của cuộc điều tra năm 1994, và với tâm trạng nhẹ nhõm, tôi đến nhập bọn với các đồng nghiệp ở căng tin.

Nhưng một giờ sau, lúc quay trở lên phòng làm việc, tôi nhìn thấy một bản fax do cảnh sát Riverdale thuộc Hamptons gửi đến, thông báo về vụ mất tích của một phụ nữ trẻ: Stephanie Mailer, 32 tuổi, phóng viên. Không có tin tức gì về cô ta kể từ hôm thứ Hai.

Tôi choáng váng. Giật tờ giấy từ máy fax, tôi lao đến bên điện thoại để liên hệ với đồn cảnh sát Riverdale. Ở đầu dây đằng kia, một cảnh sát giải thích với tôi rằng cha mẹ Stephanie Mailer vừa đến đó vào đầu giờ chiều nay, họ lo lắng vì không có thông tin gì về con gái họ kể từ hôm thứ Hai.

- Tại sao cha mẹ cô ấy lại liên hệ trực tiếp với cảnh sát bang mà không phải là cảnh sát địa phương? Tôi hỏi.

- Họ đã làm thế rồi, nhưng có vẻ như cảnh sát địa phương không cho rằng việc này là nghiêm trọng. Nghe họ báo xong, tôi đã tự nhủ rằng tốt hơn hết là gửi thẳng vụ này đến bộ phận cảnh sát trọng án. Có thể không có gì đáng ngại đâu, nhưng tôi vẫn muốn thông tin cho các anh.

- Anh đã làm rất đúng. Tôi sẽ phụ trách việc này.

Mẹ của Stephanie, người mà tôi gọi điện thoại liên hệ ngay lập tức, cho tôi biết rằng bà rất lo lắng. Lần cuối cùng bà nói chuyện với con gái là vào sáng thứ Hai. Kể từ đó trở đi, không có thông tin gì hết. Điện thoại của Stephanie tắt máy. Các bạn của Stephanie cũng không thể liên hệ được với cô. Cuối cùng, bà đã đến căn hộ của con gái cùng cảnh sát địa phương, nhưng không có ai ở đó.

Tôi lập tức đi gặp Derek tại phòng làm việc của anh thuộc bộ phận cảnh sát hành chính.

- Stephanie Mailer, tôi bảo anh, cô nàng phóng viên đến đây hôm thứ Hai ấy, đã mất tích rồi.

- Cậu đang nói linh tinh gì vậy, hả Jesse?

Tôi đưa cho Derek tờ thông báo mất tích.

- Anh tự xem đi. Phải đến Orphea thôi. Phải đến xem đang xảy ra chuyện gì ở đó. Tất cả những chuyện này không thể là trùng hợp được.

Derek thở dài:

- Jesse này, không phải cậu sắp rời khỏi ngành cảnh sát hay sao?

- Phải bốn ngày nữa cơ. Tôi vẫn còn là cảnh sát trong bốn ngày nữa. Hôm thứ Hai, khi gặp tôi, Stephanie đã nói là có một cuộc hẹn sẽ bổ sung những thông tin còn thiếu trong hồ sơ của cô ấy…

- Hãy để vụ này cho một trong các đồng nghiệp của cậu, Derek gợi ý với tôi.

- Không bao giờ có chuyện đó đâu! Derek này, cô gái ấy đã khẳng định với tôi rằng vào năm 1994…

Anh không để tôi nói hết câu:

- Chúng ta đã kết thúc vụ điều tra đó, Jesse ạ! Đó là chuyện quá khứ rồi! Tự nhiên cậu lại bị làm sao thế? Tại sao cậu lại muốn nhúng mũi vào chuyện này bằng mọi giá thế? Cậu thực sự muốn một lần nữa trải qua tất cả những chuyện này sao?

Tôi tiếc nuối vì không có được sự ủng hộ của Derek.

- Thế có nghĩa là anh không muốn đến Orphea cùng với tôi?

- Không đâu, Jesse ạ. Tôi xin lỗi. Tôi nghĩ cậu hoàn toàn mê sảng rồi.

Vậy là tôi một mình đến Orphea, hai mươi năm sau khi đặt chân đến đó lần cuối cùng. Từ sau vụ án mạng giết chết bốn người đó.

Phải mất đến một giờ đi đường tính từ trụ sở của Cảnh sát bang ở trung tâm vùng, nhưng để tiết kiệm thời gian, tôi vi phạm mọi quy định về hạn chế tốc độ bằng cách bật còi hụ và đèn hiệu trên chiếc xe công vụ của mình. Tôi đi theo đường quốc lộ 27 đến tận lối rẽ về phía Riverhead, rồi đi theo đường 25 thẳng hướng Tây Bắc. Ở chặng cuối cùng này, con đường băng qua một vùng thiên nhiên hùng vĩ, với một khu rừng sum suê tươi tốt và những ao hồ nở đầy hoa súng. Chẳng bao lâu nữa tôi sẽ đến đường số 17, con đường thẳng tắp và vắng vẻ dẫn đến Orphea, và xe tôi lao đi như một mũi tên trên đường. Một biển báo đường bộ khổng lồ nhanh chóng cho biết rằng tôi đã đến đích.

CHÀO MỪNG ĐẾN ORPHEA, NEW YORK

Liên hoan sân khấu toàn quốc, từ 26 tháng Bảy đến 9 tháng Tám

Đã 17 giờ. Tôi đi vào đường phố trung tâm xanh tươi và được trang trí sặc sỡ. Tôi nhìn thấy những nhà hàng, những hàng hiên và những cửa hàng lướt qua. Khung cảnh rất đỗi yên bình của một địa điểm nghỉ hè. Để chuẩn bị cho các hoạt động lễ hội ngày 4 tháng Bảy[*], những ngọn đèn đường được tô điểm bằng những lá cờ hiệu đầy sao, và những tấm biển thông báo giờ bắn pháo hoa trong đêm Độc lập. Dọc bến du thuyền viền hoa và cây cảnh trang trí, những người đi dạo lang thang giữa những căn lều giới thiệu các tua ngắm cá heo và cho thuê xe đạp. Cứ như thể thành phố này vừa được lấy ra từ một phim trường.

* Ngày lễ Độc lập của Hoa Kỳ.

Chặng dừng đầu tiên của tôi là ở đồn cảnh sát địa phương.

Đồn trưởng Ron Gulliver, người điều hành đồn cảnh sát Orphea, tiếp tôi trong phòng làm việc của ông. Không cần nhắc ông rằng hai mươi năm trước chúng tôi đã gặp nhau: ông vẫn còn nhớ tôi.

- Anh chẳng thay đổi gì cả, ông vừa nói vừa lắc lắc tay tôi.

Tôi không thể nói câu tương tự với ông. Ông đã trở thành một ông già, và rõ ràng là béo lên. Mặc dù đã quá giờ ăn trưa và chưa đến giờ ăn tối, nhưng ông vẫn đang ăn món mì Ý đựng trong một cái khay nhựa. Và trong lúc tôi giải thích lý do mình đến đây, ông ngốn nốt nửa suất ăn còn lại, cách ăn của ông khiến tôi thực sự cảm thấy ghê sợ.

- Stephanie Mailer ư? Ông vừa nhai vừa nói, vẻ ngạc nhiên. Chúng tôi đã xử lý xong vụ ấy rồi. Không phải là một vụ mất tích. Tôi đã giải thích với bố mẹ cô ta, họ đúng là hai kẻ quấy rầy khó chịu. Họ bám tôi nhằng nhẵng, không thể nào đuổi đi được!

- Có thể chỉ đơn giản là vì họ lo lắng cho con gái họ, tôi nhận xét. Họ không có tin tức gì của Stephanie suốt ba ngày nay, và họ nói rằng chuyện đó là rất bất thường. Mong ông hiểu cho rằng tôi muốn xử lý vụ này với sự mau chóng và cẩn trọng cần thiết.

- Stephanie Mailer đã 32 tuổi, cô ta muốn làm gì tùy ý, không phải thế sao? Tin tôi đi, nếu tôi mà có ông bố bà mẹ giống như họ, có lẽ tôi cũng muốn bỏ trốn, đại úy Rosenberg ạ. Anh có thể yên tâm, Stephanie chỉ đi vắng một thời gian thôi.

- Làm sao ông có thể chắc chắn như vậy?

- Chính sếp của cô ta, tổng biên tập tờ Thời báo Orphea, đã cho tôi biết chuyện. Cô ta đã gửi cho ông ấy một tin nhắn từ điện thoại di động của mình, vào tối thứ Hai.

- Tối hôm cô ấy mất tích, tôi nhận xét.

- Tôi đã bảo với anh là cô ta không mất tích! Ông trưởng đồn Gulliver cáu kỉnh nói.

Cứ mỗi lời ông thốt ra, là một màn pháo hoa al pomodoro[*] lại bắn ra từ miệng ông. Tôi lùi lại một bước để cho thứ đó nước sốt không bắn vào chiếc áo sơ mi trắng tinh của mình. Sau khi nuốt ực một cái, Gulliver nói tiếp:

* Sốt cà chua.

- Đồn phó của tôi đã đi cùng họ đến nhà cô ta. Họ đã mở cửa nhà bằng chùm chìa khóa dự phòng và kiểm tra một lượt: tất cả đều rất ngăn nắp. Tin nhắn gửi cho ông tổng biên tập tờ báo cũng khẳng định rằng không có lý do gì phải lo lắng cả. Stephanie không có nợ nần gì với bất kỳ ai. Cô ta làm gì với cuộc đời mình cũng chẳng liên quan gì đến chúng tôi cả. Về phần mình, chúng tôi đã làm tròn công việc một cách đúng mực. Thế nên, làm ơn đừng đến đây quấy rầy tôi nữa.

- Bố mẹ cô ấy rất lo lắng, tôi nhấn mạnh thêm, và nếu ông đồng ý, tôi sẽ chỉ tự kiểm tra lại một lần nữa để biết chắc rằng mọi việc đều ổn mà thôi.

- Nếu anh muốn lãng phí thời gian, đại úy ạ, thì đừng làm phiền tôi làm gì. Anh chỉ việc chờ đồn phó của tôi, Jasper Montagne, đi tuần về. Chính anh ấy là người phụ trách toàn bộ chuyện này.

Khi rốt cuộc trung sĩ - đồn phó Jasper Montagne xuất hiện, tôi nhận thấy mình đang đứng trước một cái tủ đá khổng lồ, cơ bắp cuồn cuộn, đầy vẻ đáng gờm. Jasper giải thích với tôi rằng anh đã đi cùng ông bà Mailer đến nhà Stephanie. Họ kiểm tra căn hộ của Stephanie: cô không có ở đó. Không có gì đáng báo động cả. Không có dấu hiệu vật lộn, không có gì bất thường. Sau đó, Montagne đã kiểm tra các con phố xung quanh để tìm kiếm chiếc xe của Stephanie, nhưng không thu được kết quả gì. Anh còn cẩn thận đến mức gọi điện thoại đến các bệnh viện và các đồn cảnh sát trong vùng: không có gì hết. Chỉ đơn giản là Stephanie Mailer đang đi vắng, không có ở nhà.

Bởi vì tôi muốn xem qua căn hộ của Stephanie, anh đề xuất đi cùng tôi. Cô ta sống ở Bendham Road, một con phố nhỏ yên tĩnh gần đường phố chính, trong một tòa nhà ba tầng chật hẹp. Một cửa hàng ngũ kim chiếm trọn tầng trệt, một khách trọ thuê căn hộ duy nhất trên tầng hai, còn Stephanie thuê căn hộ trên tầng ba.

Tôi bấm chuông cửa căn hộ của cô ta hồi lâu. Tôi gõ cửa, hét gọi, nhưng không ích gì: rõ ràng là trong nhà không có ai.

- Anh cũng thấy đấy, cô ấy không có ở nhà, Montagne bảo tôi.

Tôi xoay tay nắm cửa: nó đã bị khóa.

- Chúng ta có thể vào trong không? Tôi hỏi.

- Anh có chìa khóa không?

- Không.

- Tôi cũng không. Hôm trước là bố mẹ cô ấy mở cửa.

- Vậy là chúng ta không thể vào được?

- Không. Chúng ta sẽ không vô cớ mà phá cửa nhà người khác được. Nếu anh muốn hoàn toàn yên tâm, thì hãy đến trụ sở của tờ báo địa phương và nói chuyện với ông tổng biên tập, ông ấy sẽ cho anh xem tin nhắn Stephanie đã gửi cho ông ấy vào tối hôm thứ Hai.

- Thế còn người thuê nhà tầng dưới thì sao? Tôi hỏi.

- Brad Melshaw ư? Hôm qua tôi đã hỏi chuyện anh ta, anh ta chẳng nhìn thấy cũng chẳng nghe thấy gì đặc biệt hết. Có bấm chuông cửa nhà anh ta cũng chẳng ích gì: anh ta là đầu bếp ở Café Athéna, nhà hàng đang được ưa chuộng ở đầu phố chính, giờ này anh ta đang ở đó đấy.

Tuy nhiên, tôi không vì thế mà bối rối: tôi xuống tầng hai và bấm chuông cửa nhà cái người có tên là Brad Melshaw kia. Tốn công vô ích.

- Tôi đã bảo với anh rồi mà, Montagne vùa thở dài vừa đi xuống cầu thang trong khi tôi vẫn còn nấn ná một lát trên thềm nghỉ, với hy vọng là sẽ có người mở cửa.

Khi đến lượt tôi đi xuống cầu thang, Montagne đã ra khỏi tòa nhà. Đến sảnh vào, tôi nhân dịp chỉ có một mình để kiểm tra hộp thư của Stephanie. Liếc mắt qua khe hộp thư, tôi nhìn thấy bên trong có một bức, liền thò ngón tay vào nhón lấy. Tôi gập bức thư làm đôi rồi kín đáo nhét nó vào túi quần sau.

Sau khi dừng chân tại tòa chung cư nơi Stephanie sống, Montagne đưa tôi đến tòa soạn Thời báo Orphea, cách đường phố chính chỉ vài bước chân, để tôi có thể nói chuyện với Michael Bird, tổng biên tập của tờ báo.

Tòa soạn nằm trong một tòa nhà xây bằng gạch đỏ. Nếu bên ngoài có vẻ sang trọng, thì bên trong lại ngược lại, rất xập xệ.

Michael Bird, tổng biên tập tờ báo, tiếp chúng tôi trong phòng làm việc của ông. Ông đã ở Orphea vào năm 1994, nhưng tôi không còn nhớ là đã từng gặp ông. Bird giải thích với tôi rằng, do một sự trùng hợp ngẫu nhiên, ông đã tiếp nhận việc chèo lái tờ Thời báo Orphea ba ngày sau khi xảy ra vụ giết chết bốn người, và do đó, hồi ấy ông dành gần như toàn bộ thời gian để chúi mũi vào đống giấy tờ, chứ không ra hiện trường.

- Stephanie Mailer làm việc cho ông được bao lâu rồi? Tôi hỏi Michael Bird.

- Khoảng chín tháng. Tôi tuyển dụng cô ấy vào tháng Chín năm ngoái.

- Cô ấy có phải là một phóng viên giỏi không?

- Rất giỏi. Cô ấy đã giúp nâng tầm tờ báo. Điều đó rất quan trọng đối với chúng tôi, bởi vì rất khó để đảm bảo cho nội dung tờ báo luôn có chất lượng. Anh biết đấy, tình hình tài chính của tờ báo đang rất khó khăn: chúng tôi sống sót được là bởi tòa thị chính đã cho chúng tôi mượn trụ sở. Ngày nay người ta đâu có đọc báo, nên các nhà quảng cáo không còn quan tâm đến nữa. Trước đây, chúng tôi là một tờ báo quan trọng trong vùng, được mọi người đọc và tôn trọng. Ngày nay, tại sao anh phải đọc Thời báo Orphea khi mà anh có thể đọc New York Times trên mạng? Đấy là tôi chưa nói đến những người không còn đọc bất cứ báo gì mà chỉ bằng lòng với việc tìm thông tin trên Facebook.

- Ông gặp Stephanie lần cuối cùng là khi nào? Tôi hỏi ông.

- Sáng thứ Hai. Trong cuộc họp hằng tuần của Ban biên tập.

- Thế ông có nhận thấy điều gì đặc biệt không? Một hành vi bất thường nào đó chẳng hạn?

- Không, không có gì đặc biệt cả. Tôi biết rằng bố mẹ Stephanie lo lắng, nhưng như hôm qua tôi đã giải thích với họ cũng như với đồn phó Montagne, Stephanie đã gửi cho tôi một tin nhắn vào tối thứ Hai, rất muộn, để nói với tôi rằng cô ấy phải đi vắng một thời gian.

Ông lấy chiếc điện thoại di động ra khỏi túi và cho tôi xem tin nhắn ông vừa nói đến, nhận được lúc nửa đêm ngày thứ Hai:

Tôi phải đi vắng khỏi Orphea một thời gian. Chuyện quan trọng. Tôi sẽ giải thích với ông mọi chuyện sau.

- Và kể từ sau tin nhắn này, ông không có tin tức gì về cô ấy nữa? Tôi hỏi.

- Không. Nhưng nói thật lòng, chuyện này không hề khiến tôi lo lắng. Stephanie là một nữ phóng viên có tính cách độc lập. Cô ấy tìm thông tin cho các bài viết của mình theo một nhịp điệu riêng. Tôi không can thiệp quá nhiều vào những việc cô ấy làm.

- Trong thời gian này cô ấy đang làm về chủ đề gì?

- Liên hoan sân khấu. Năm nào cũng thế, vào cuối tháng Bảy, ở Orphea này chúng tôi có một Liên hoan sân khấu lớn…

- Vâng, tôi có biết chuyện đó.

- Thế là, Stephanie muốn kể về Liên hoan sân khấu từ trong nội bộ. Cô ấy viết một loạt bài báo về chủ đề này. Vào thời gian này, cô ấy đang phỏng vấn các tình nguyện viên đảm bảo cho tính bền vững của liên hoan phim.

- Cô ấy có thuộc kiểu người hay “mất tích” như thế này không? Tôi hỏi.

- Tôi sẽ nói là “đi vắng”, Michael Bird chỉnh lại. Có, cô ấy thường xuyên đi vắng. Anh biết đấy, nghề phóng viên thường xuyên yêu cầu ta rời khỏi văn phòng.

- Stephanie có nói với ông về một vụ điều tra tầm cỡ mà cô ấy đang thực hiện không? Tôi hỏi thêm. Cô ấy khẳng định là có một cuộc gặp quan trọng liên quan đến vụ điều tra đó vào tối thứ Hai…

Tôi cố tình nói mập mờ, vì không muốn đi sâu hơn vào các chi tiết. Nhưng Michael Bird lắc đầu.

- Không, ông ta bảo tôi, cô ấy chưa từng nói gì với tôi về cuộc điều tra nào cả.

Khi ra khỏi tòa soạn, cho rằng không có điều gì phải lo lắng, Montagne đề nghị tôi rời khỏi thành phố.

- Sếp Gulliver muốn biết liệu anh có đi khỏi đây bây giờ không.

- Có, tôi trả lời, tôi nghĩ tôi đã đi hết những nơi cần đi rồi.

Khi quay trở vào trong xe của mình, tôi mở chiếc phong bì lấy được trong hộp thư của Stephanie. Đó là một bản sao kê thẻ tín dụng. Tôi chăm chú xem xét.

Ngoài những chi tiêu cho cuộc sống hằng ngày (xăng xe, mua sắm ở siêu thị, vài lần rút tiền ở cây ATM, vài lần mua sắm ở nhà sách Orphea), tôi nhận thấy có nhiều khoản phí đường bộ tại cổng vào Manhattan: thời gian gần đây Stephanie thường xuyên đến New York. Nhưng đáng chú ý nhất là cô đã mua một vé máy bay đi Los Angeles: một chuyến bay khứ hồi từ ngày 10 đến ngày 13 tháng Sáu. Vài khoản chi tiêu tại chỗ - đặc biệt là tiền thuê phòng khách sạn - khẳng định rằng đúng là cô đã thực hiện chuyến đi đó. Có lẽ cô có bạn trai ở California. Dù sao đi nữa, đây là một cô gái trẻ di chuyển rất nhiều. Không có gì đáng ngạc nhiên khi cô vắng mặt thế này. Tôi hoàn toàn có thể thông cảm với cảnh sát địa phương: không có yếu tố nào thiên về giả thuyết một vụ mất tích. Stephanie đã trưởng thành và có quyền tự do làm điều gì cô muốn mà không phải báo cáo với bất cứ ai. Không có thông tin gì thêm, đến lượt tôi sắp sửa từ bỏ vụ điều tra này, thì bỗng một chi tiết đập vào mắt tôi. Có một yếu tố không ổn: tòa soạn Thời báo Orphea. Cách bài trí của nó không phù hợp chút nào với hình ảnh mà tôi tự xây dựng cho mình về Stephanie. Đúng là tôi không biết rõ về cô ta, nhưng thái độ táo bạo của cô khi chất vấn tôi ba ngày trước đã khiến tôi hình dung rằng cô phải làm việc cho New York Times thì đúng hơn là cho một tờ báo địa phương tại một thành phố nhỏ ở bờ biển Hamptons. Chính chi tiết này đã thôi thúc tôi tìm hiểu sâu hơn, và đến thăm bố mẹ Stephanie, họ sống ở Sag Harbor, cách nơi tôi đang ở chừng hai mươi phút lái xe.

Lúc đó là 19 giờ.

Cùng lúc ấy, trên đường phố chính của Orphea, Anna Kanner dừng xe trước nhà hàng Café Athene nơi cô có hẹn ăn tối cùng với Lauren, cô bạn thân từ thuở thiếu thời, và Paul, chồng Lauren.

Lauren và Paul nằm trong số những bạn bè mà Anna gặp gỡ thường xuyên nhất kể từ khi cô rời khỏi New York để đến lập nghiệp tại Orphea. Bố mẹ Paul sở hữu một căn nhà nghỉ mát tại Southampton, cách đây chừng mười lăm dặm, nơi họ thường đến nghỉ những kỳ nghỉ cuối tuần dài, rời khỏi Manhattan ngay từ thứ Năm để tránh tắc đường.

Đang sắp sửa xuống xe thì Anna nhìn thấy Lauren và Paul, hai người họ đã ngồi vào bàn trên hàng hiên của nhà hàng, và nhất là cô nhận thấy có một người đàn ông ngồi cùng họ. Lập tức hiểu đang xảy ra chuyện gì, Anna gọi điện thoại cho Lauren.

- Cậu đã thu xếp cho tớ một cuộc hẹn đấy à, Lauren? Cô hỏi Lauren ngay khi cô nàng này nhấc máy.

Một khoảng im lặng ngượng ngùng.

- Có lẽ là đúng thế, cuối cùng Lauren cũng trả lời. Làm sao cậu biết được chuyện đó?

- Bản năng của tớ, Anna nói dối. Rốt cuộc, cậu nói đi Lauren, tại sao cậu làm thế với tớ?

Lời trách móc duy nhất mà Anna có thể nói với cô bạn gái là Lauren đã dành thời gian để can dự vào cuộc sống tình cảm của cô, bằng cách cố gán ghép cô với bất cứ người đàn ông nào mà Lauren tìm được.

- Người này ấy, cậu sẽ thích anh ấy thôi, Lauren đảm bảo, sau khi đi xa khỏi bàn để người đàn ông đi cùng họ không nghe thấy nội dung câu chuyện. Hãy tin tớ, Anna ạ.

- Cậu biết gì không, Lauren, thực ra tối nay không phải là thời điểm lý tưởng đâu. Tớ vẫn đang ở văn phòng và còn cả đống giấy tờ phải giải quyết cho xong.

Anna thích thú nhìn Lauren khua khoắng chân tay trên hàng hiên.

- Anna, tớ cấm cậu cho tớ leo cây! Cậu 33 tuổi rồi, cậu cần một anh chàng! Đã bao lâu rồi cậu không được ngủ với ai, hả?

Đó chính là lập luận mà Lauren viện đến như giải pháp cuối cùng. Nhưng Anna không thực sự có tâm trạng phù hợp để chấp nhận một cuộc hẹn đã được sắp đặt trước.

- Tớ rất tiếc, Lauren ạ. Hơn nữa, tớ đang phiên trực…

- Ồ, đừng có giở cái bài phiên trực ra với tớ nữa! Chẳng bao giờ có chuyện gì xảy ra ở cái thành phố này đâu. Cậu cũng có quyền vui vẻ một chút chứ!

Đúng lúc đó, một tài xế bấm còi và Lauren nghe thấy tiếng còi của anh ta cả trên đường phố lẫn qua điện thoại.

- Ái chà, cô bạn, cậu bị lộ tẩy rồi nhé! cô kêu lên và lao chạy ra vỉa hè. Cậu đang ở đâu?

Anna không kịp phản ứng.

- Tớ nhìn thấy cậu rồi! Lauren hét lên. Cậu tưởng bây giờ mà cậu vẫn có thể cứ thế mà chuồn rồi cho tớ leo cây được chắc? Cậu nhận ra là phần lớn các buổi tối cậu đều ở một mình, chẳng khác nào một bà già! Cậu biết đấy, tớ đang tự hỏi liệu cậu có lựa chọn đúng không khi đến chôn vùi bản thân ở đây…

- Ôi, làm ơn đi, Lauren! Tớ có cảm giác như đang nghe bố tớ nói vậy!

- Nhưng nếu cứ tiếp tục thế này, cậu sẽ chết trong cô độc đấy, Anna ạ!

Anna phá lên cười rồi ra khỏi xe. Nếu mỗi lần nghe thấy câu nói ấy mà cô được cho một đồng xu, thì có lẽ ngày nay cô đã bơi trong một bể bơi đầy tiền rồi. Tuy nhiên, cô cũng buộc phải thú nhận rằng đến giai đoạn này, cô không thể cho rằng Lauren nói không đúng: cô vừa mới ly hôn, không con cái, và đang sống một mình ở Orphea.

Theo Lauren, có hai nguyên nhân dẫn đến những thất bại liên tiếp trong tình trường của Anna: một mặt là do Anna thiếu thiện chí, và một mặt là do nghề nghiệp của cô “khiến đàn ông sợ hãi”. “Tớ không bao giờ nói trước với họ về công việc của cậu, Lauren đã nhiều lần giải thích khi nói với Anna về những cuộc hẹn mà cô nàng sắp xếp cho Anna. Tớ nghĩ chuyện đó sẽ khiến họ cảm thấy e ngại.”

Anna đến bên hàng hiên, ứng cử viên của ngày hôm nay tên là Josh. Anh ta có cái vẻ kinh khủng của những người đàn ông quá tự tin vào bản thân. Anh ta chào Anna và ngấu nghiến cô bằng ánh mắt một cách ngượng ngùng, phả ra thứ hơi thở mệt mỏi. Cô lập tức biết rằng tối nay sẽ không phải là tối cô gặp được bạch mã hoàng tử Nhà hát.

- Chúng tôi rất lo lắng, đại úy Rosenberg ạ, ông bà Trudy và Dennis Mailer, bố mẹ của Stephanie, đồng thanh nói với tôi, trong phòng khách căn nhà điệu đà của họ ở Sag Harbor.

- Tôi đã gọi điện thoại cho Stephanie vào sáng thứ Hai, bà Trudy Mailer giải thích. Con bé nói với tôi rằng nó đang họp ban biên tập tờ báo, và sẽ gọi lại cho tôi. Nhưng sau đó nó không hề gọi lại.

- Stephanie luôn gọi lại, ông Dennis Mailer khẳng định.

Tôi lập tức hiểu ra tại sao ông bà Mailer lại khiến cảnh sát khó chịu. Với họ, mọi chuyện đều trở nên trầm trọng, bi thảm, kể cả cốc cà phê mà tôi từ chối khi mới đến:

- Anh không thích uống cà phê sao? Bà Trudy Mailer hỏi bằng giọng đầy tuyệt vọng.

- Có lẽ anh thích dùng trà hơn chăng? Ông Dennis Mailer hỏi.

Cuối cùng, sau khi đã thu hút được sự chú ý của họ, tôi hỏi họ vài câu mào đầu. Stephanie có vấn đề gì không? Không, họ kiên quyết khẳng định. Cô ấy có dùng ma túy không? Cũng không. Cô ấy có đính hôn với ai không? Có bạn trai không? Theo họ biết thì không. Liệu có lý do gì khiến cô ấy biến mất khỏi dòng đời không? Không có lý do nào hết.

Ông bà Mailer bảo đảm với tôi rằng con gái họ không thuộc loại người giấu giếm họ bất cứ chuyện gì. Nhưng tôi nhanh chóng phát hiện ra là mọi chuyện không chính xác như thế.

- Tại sao Stephanie lại đến Los Angeles hai tuần trước? Tôi hỏi.

- Đến Los Angeles ư? bà mẹ ngạc nhiên. Ý anh muốn nói gì?

- Cách đây hai tuần, Stephanie đã đi một chuyến ba ngày đến California.

- Chúng tôi không biết gì vế chuyện đó cả, ông bố tỏ vẻ buồn rầu. Đi Los Angeles mà không báo cho chúng tôi biết như thế chẳng giống cách hành xử của con bé chút nào. Có thể chuyện đó liên quan gì với tòa soạn báo chăng? Con bé lúc nào cũng giữ kín thông tin về các bài báo mà nó đang thực hiện.

Tôi nghi ngờ việc Thời báo Orphea có thể cho phép mình cử phóng viên đến đầu kia đất nước để làm phóng sự. Và chính câu hỏi về công việc của Stephanie tại tờ báo đó khiến tôi nảy sinh một số băn khoăn khác.

- Stephanie đến Orphea khi nào, và vì lý do gì? Tôi hỏi.

- Những năm trước con bé sống ở New York, bà Trudy Mailer giải thích với tôi. Con bé học ngành văn chương ở Đại học Notre-Dame. Từ khi còn rất nhỏ, nó đã muốn trở thành nhà văn. Nó đã xuất bản được một số truyện ngắn, hai trong số đó được đăng tải trên tờ Người New York. Sau khi học xong, nó làm việc cho Tạp chí văn chương New York, nhưng nó đã bị sa thải hồi tháng Chín.

- Vì lý do gì vậy?

- Hình như là do khó khăn về tài chính. Mọi việc diễn ra nhanh chóng: nó đã tìm được một công việc ở Thời báo Orphea và quyết định quay về sinh sống trong vùng này. Có vẻ con bé hài lòng khi rời xa Manhattan và tìm được một môi trường yên bình hơn.

Hai người họ phân vân một lát. Rồi ông bố của Stephanie nói với tôi:

- Đại úy Rosenberg này, chúng tôi không thuộc loại người thích làm phiền cảnh sát vô cớ, anh hãy tin tôi. Vợ chồng tôi, chúng tôi sẽ không báo động nếu không tin chắc rằng đang xảy ra một chuyện gì đó bất thường. Cảnh sát Orphea đã nói rõ để chúng tôi hiểu rằng không có bất cứ chi tiết nào là có thể xác thực được. Nhưng, ngay cả khi chỉ đi New York rồi lại về ngay trong ngày, Stephanie luôn gửi tin nhắn cho chúng tôi, hoặc gọi cho chúng tôi khi về đến nhà để báo rằng mọi chuyện đều ổn cả. Tại sao con bé lại gửi tin nhắn cho ông tổng biên tập mà không gửi cho bố mẹ nó? Nếu không muốn chúng tôi lo lắng, nó cũng sẽ gửi tin nhắn cho cả chúng tôi nữa.

- Nhân nói đến New York, tôi bật lại, tại sao Stephanie lại đến Manhattan thường xuyên như thế?

- Tôi không nói là con bé đến đó thường xuyên, ông bố giải thích, tôi chỉ đang lấy một ví dụ thôi.

- Không, cô ấy đến đó rất thường xuyên, tôi nói. Thường là vào những ngày và những giờ nhất định. Như thể cô ấy có một cuộc hẹn đều đặn. Cô ấy đến đó làm gì?

Một lần nữa, có vẻ như ông bà Mailer không biết tôi đang nói với họ chuyện gì. Hiểu rằng mình đã không hoàn toàn thuyết phục được tôi về mức độ nghiêm trọng của tình hình, bà Trudy Mailer liền hỏi tôi:

- Anh đã đến nhà con bé phải không, đại úy Rosenberg?

- Không, tôi cũng rất muốn vào kiểm tra căn hộ của cô ấy, nhưng cửa khóa mà tôi thì không có chìa khóa.

- Anh có muốn đến đó xem qua một chút bây giờ không? Có thể anh sẽ nhìn thấy điều gì đó mà chúng tôi không nhìn thấy.

Tôi chấp nhận, chỉ với mục đích duy nhất là kết thúc vụ này. Ghé qua nhà Stephanie một lần sẽ giúp tôi tự thuyết phục bản thân rằng cảnh sát Orphea có lý: không có bất cứ yếu tố nào có thể khiến ta nghĩ rằng đây là một vụ mất tích đáng lo ngại. Stephanie có thể đến Los Angeles hoặc New York bao nhiêu lần tùy thích. Còn về công việc của cô ta tại Thời báo Orphea, ta hoàn toàn có thể cho rằng sau khi bị sa thải, cô ta đã nắm bắt một cơ hội trong lúc chờ đợi một thời vận tốt hơn.

Vừa đúng 20 giờ khi chúng tôi đến dưới chân tòa nhà nơi Stephanie ở, trên đường Bendham Road. Cả ba chúng tôi leo lên đến tận căn hộ của cô ta. Bà Trudy Mailer đưa chìa khóa cho tôi để tôi mở cửa, nhưng khi tôi xoay chìa trong ổ khóa thì nó bị vướng lại. Cánh cửa không khóa. Tôi cảm thấy một luồng adrenalin bốc lên: trong nhà đang có người. Là Stephanie chăng?

Tôi khẽ ấn tay vào tay nắm cửa, cánh cửa liền mở hé. Tôi ra hiệu cho ông bà Mailer im lặng. Tôi nhẹ nhàng đẩy cánh cửa, nó mở ra êm ru. Lập tức tôi nhìn thấy phòng khách rất bừa bộn: có ai đó đã đến lục lọi ở căn hộ này.

- Ông bà xuống dưới đi, tôi thì thầm với bố mẹ của Stephanie. Hãy quay trở ra xe và chờ đến khi tôi xuống gặp ông bà.

Ông Dennis Mailer gật đầu và kéo bà vợ đi cùng với mình. Tôi rút súng ra khỏi bao, đi vài bước vào trong căn hộ. Mọi thứ đều bị đảo lộn. Tôi bắt đầu bằng việc kiểm tra phòng khách: các giá sách bị lật tung, những chiếc gối tựa trên ghế xô pha bị chọc thủng lòi ruột. Đủ loại đồ đạc vứt ngổn ngang khắp sàn thu hút sự chú ý của tôi, khiến tôi không nhìn thấy cái bóng đầy đe dọa đang lặng lẽ tiến lại gần. Chỉ khi quay người để vòng sang các phòng khác, tôi mới thấy mình đang mặt đối mặt với một bóng người, kẻ đó xịt thẳng hơi cay vào mặt tôi. Hai mắt tôi bỏng rát, hơi thở tôi nghẹn lại. Tôi gập người làm đôi, không nhìn thấy gì nữa. Và lãnh trọn một cú đánh.

Một tấm rèm đen tối chụp xuống.

20 giờ 05 phút tại nhà hàng Café Athéna.

Có vẻ như Tình yêu luôn xuất hiện mà không báo trước, nhưng rõ ràng là vị thần này đã quyết định ở nhà vào tối hôm nay, đồng thời vẫn bắt Anna phải chịu đựng bữa tối này. Cho đến lúc ấy, đã là một tiếng đồng hồ Josh nói không ngừng nghỉ. Màn độc thoại của anh ta quả là một kỳ tích. Mặc dù đã không còn nghe anh ta nói nữa, nhưng Anna vẫn thích thú đếm những từ tôicủa tôi phát ra từ miệng anh ta, chẳng khác nào những con gián nhỏ cứ sau mỗi từ lại khiến cô chán ghét anh ta thêm một chút. Lauren không còn biết phải trốn vào đâu, cô nàng đã uống đến cốc vang trắng thứ năm, trong khi Anna chỉ nhấm nháp những ly cocktail không cồn.

Cuối cùng, hẳn là mệt nhoài vì phải nghe những lời nói của chính mình, Josh vớ lấy một cốc nước và uống một hơi cạn sạch, việc đó khiến anh ta phải im lặng trong một lát. Sau khoảng im lặng đúng lúc ấy, anh ta quay sang phía Anna và hỏi cô bằng giọng đầy kiểu cách: “Thế còn em, Anna, công việc của em là gì? Lauren không muốn nói cho anh biết.” Đúng lúc đó, điện thoại của Anna đổ chuông. Nhìn thấy số điện thoại hiển thị trên màn hình, cô lập tức hiểu ra là có việc gấp.

- Xin thứ lỗi, cô lên tiếng, tôi phải nhận cuộc gọi này.

Cô đứng dậy rời khỏi bàn, và bước tách ra xa vài bước, trước khi nhanh chóng quay trở lại bàn và thông báo rằng rất đáng tiếc nhưng cô phải đi.

- Đã đi rồi ư? Josh tiếc nuối, tỏ rõ vẻ thất vọng. Thậm chí chúng ta còn chưa kịp làm quen với nhau.

- Em biết hết mọi thông tin về anh rồi, thật sự là rất… thú vị.

Anna hôn tạm biệt Lauren và chồng cô bạn, khẽ vẫy tay chào Josh, cử chỉ của cô có nghĩa là “không bao giờ gặp lại nữa!”, rồi nhanh chóng rời khỏi hàng hiên. Có lẽ anh chàng Josh tội nghiệp kia thấy cô rất vừa mắt, bởi vì anh ta bám theo cô, đi cùng cô ra đến tận vỉa hè.

- Em có muốn anh chở em đến đâu không? Anh chàng hỏi Anna. Anh có một…

- Một chiếc Mercedes Coupé, cô ngắt lời anh ta. Em biết, anh đã nói với em điều đó hai lần. Anh thật tốt bụng, nhưng em đỗ xe ở ngay đây rồi.

Cô mở cốp xe, trong lúc Josh đứng sững đằng sau cô.

- Anh sẽ xin Lauren số điện thoại của em, anh ta nói, anh thường qua lại khu này, chúng ta có thể hẹn nhau đi uống cà phê.

- Cũng được, Anna trả lời cốt để cho anh chàng đi khỏi, đồng thời mở một cái túi vải to tướng choán hết chỗ trong cốp xe.

Josh nói tiếp:

- Mà này, em vẫn chưa nói cho anh biết em làm nghề gì đấy.

Anh ta vừa nói xong câu đó, thì Anna lấy từ trong túi ra một chiếc áo chống đạn và mặc lên người. Trong lúc chỉnh áo cho vừa với thân hình, cô thấy Josh trợn tròn mắt và nhìn chăm chăm vào tấm phù hiệu phản quang, trên đó ghi rõ ràng bằng những chữ cái viết hoa:

CẢNH SÁT

- Em là đồn phó đồn cảnh sát Orphea, cô vừa bảo với anh ta vừa lấy ra cái túi đựng khẩu súng, rồi giắt nó vào thắt lưng.

Josh chăm chăm nhìn cô, vừa sững sờ vừa nghi hoặc. Anna bước vào trong chiếc xe công vụ rồi nổ máy phóng vù đi, bật đèn hiệu để những ánh xanh đỏ sáng lên lấp lóa trong bóng chiều chạng vạng, rồi cho còi hụ hú vang, thu hút ánh nhìn của tất cả các khách bộ hành.

Theo tin báo từ trung tâm, một nhân viên cảnh sát bang vừa bị tấn công trong một tòa chung cư ngay gần đó. Tất cả các đội tuần tra hiện có cũng như sĩ quan trực đều được huy động để can thiệp.

Anna lái xe lao hết tốc lực dọc đường phố chính: những người đi bộ đang qua đường quay trở lại ẩn náu trên vỉa hè, và ở cả hai hướng lưu thông, những chiếc xe tạt vào lề đường khi thấy xe cô lại gần. Cô lái xe như bay giữa đường, chân ga nhấn sát sàn xe. Cô đã có kinh nghiệm với những cuộc gọi khẩn cấp vào giờ cao điểm ở New York.

Khi Anna đến chân tòa chung cư, một đội cảnh sát tuần tra đã có mặt từ trước. Khi xông vào tiền sảnh, cô gặp ngay một trong các đồng nghiệp đang chạy xuống cầu thang. Anh chàng hét lên với cô:

- Kẻ tình nghi đã bỏ trốn qua cửa sau của tòa nhà!

Anna băng qua toàn bộ tầng trệt, đến tận lối thoát hiểm ở đằng sau tòa nhà, thông ra một con phố nhỏ vắng hoe. Nơi đây im ắng đến lạ lùng: cô căng tai lắng nghe, rình chờ một âm thanh có thể định hướng cho cô, trước khi tiếp tục lao chạy đến tận công viên nhỏ vắng vẻ. Một lần nữa, lại là tĩnh mịch hoàn toàn.

Dường như cô nghe thấy một tiếng động trong lùm cây rậm rạp: cô rút súng ra khỏi bao rồi lao vào trong công viên. Không có gì hết. Đột nhiên, dường như cô nhìn thấy một bóng người đang chạy. Cô lao mình đuổi theo, nhưng nhanh chóng để mất dấu vết. Cuối cùng, cô dừng lại, mất phương hướng, thở hổn hển. Mạch máu ở hai bên thái dương nện thình thịch. Cô nghe thấy một tiếng động đằng sau rặng cây bụi: cô chậm rãi tiến lại gần, tim đập loạn lên. Cô nhìn thấy một bóng người đang nhón bước rất khẽ khàng. Cô chờ đến thời điểm thuận lợi, rồi nhảy bổ ra, giương súng nhắm thẳng vào kẻ tình nghi, ra lệnh cho hắn không được cử động. Chính là Montagne, anh ta cũng đang giơ súng nhắm vào cô.

- Chết tiệt, Anna, cô điên à? Anh ta hét lên.

Anna thở dài rồi bỏ lại súng vào bao, đồng thời gập người làm đôi để hít thở trở lại.

- Montagne, anh làm trò gì ở đây thế? Cô hỏi anh ta.

- Cho phép tôi đặt lại câu hỏi đó với cô! Tối nay có phải phiên trực của cô đâu!

Với tư cách là đồn phó, về mặt kỹ thuật, Montagne là cấp trên trực tiếp của Anna. Cô chỉ là đồn phó thứ hai.

- Tôi thuộc bộ phận thường trực, Anna giải thích. Trung tâm đã gọi cho tôi.

- Suýt thì tôi đã tóm được hắn rồi! Montagne cáu kỉnh nói.

- Tóm được hắn ư? Tôi đã đến trước anh. Chỉ có một đội cảnh sát tuần tra đằng trước tòa nhà.

- Tôi đi từ con phố đằng sau. Lẽ ra cô phải cho biết vị trí của mình qua bộ đàm. Các thành viên trong một đội đều phải làm như thế. Người ta trao đổi thông tin với nhau, chứ không hành động theo kiểu bốc đồng.

- Lúc ấy tôi chỉ có một mình, tôi không có bộ đàm.

- Cô có bộ đàm trong xe mà, không phải sao? Cô thật phiền phức, Anna ạ! Ngay từ ngày đầu tiên đến đây, cô đã làm phiền tất cả mọi người!

Montagne nhổ phẹt xuống đất rồi quay trở về phía tòa nhà. Anna đi theo anh ta. Lúc này, đường Bendham Road đang đầy xe cấp cứu.

- Anna! Montagne! Đồn trưởng Ron Gulliver hét gọi khi nhìn thấy họ đi đến.

- Chúng ta để mất hắn rồi, sếp ạ, Montagne càu nhàu. Lẽ ra tôi đã tóm được hắn nếu Anna không làm hỏng việc, như thường lệ.

- Anh cút đi, Montagne! Anna kêu lên.

- Cô mới là người nên cút khỏi đây, Anna ạ! Montagne nổi xung. Cô có thể về nhà được rồi đấy, đây là vụ án của tôi!

- Không, đây là vụ án của tôi! Tôi đến đây trước anh.

- Hãy trả lại công việc cho chúng tôi rồi biến khỏi đây ngay! Montagne gầm gừ.

Anna nghiêng người sang phía Gulliver, những mong được ông ủng hộ.

- Sếp… ông có thể can thiệp không?

Gulliver rất ghét những vụ xung đột.

- Hôm nay không phải phiên trực của cô, Anna ạ, ông nói bằng giọng xoa dịu.

- Tôi thuộc bộ phận thường trực!

- Hãy để vụ này cho Montagne, Gulliver dứt khoát.

Montagne nở một nụ cười chiến thắng rồi đi về phía tòa nhà, để mặc Anna đứng lại cùng Gulliver.

- Như thế là không công bằng, thưa sếp! Cô nổi nóng. Mà sao ông lại để Montagne ăn nói với tôi kiểu đó?

Gulliver không muốn nghe gì hết.

- Làm ơn đi, Anna, đừng có gây chuyện rắc rối nữa! Ông ân cần bảo cô. Mọi người đang nhìn chúng ta đấy. Lúc này, tôi không cần chuyện đó đâu.

Ông chăm chú nhìn vào mặt cô gái trẻ bằng ánh mắt tò mò, rồi hỏi cô:

- Cô có hẹn sao?

- Sao ông lại nói thế?

- Cô đã đánh son.

- Tôi thường xuyên đánh son mà.

- Lần này thì khác. Cô đang có vẻ mặt của một người có hẹn. Tại sao cô không quay lại đó? Ngày mai chúng ta sẽ gặp nhau ở đồn cảnh sát.

Đến lượt Gulliver tiến về phía tòa nhà, để Anna đứng lại một mình. Đột nhiên, cô nghe thấy một giọng nói gọi tên cô, liền quay đầu lại. Là Michael Bird, tổng biên tập tờ Thời báo Orphea.

- Anna này, ông vừa hỏi vừa đi đến bên cô, ở đây đang xảy ra chuyện gì vậy?

- Tôi không biết phải bình luận thế nào, Anna trả lời, tôi không phụ trách bất cứ chuyện gì hết.

- Cô sắp thành người phụ trách rồi, ông mỉm cười.

- Ý ông muốn nói gì?

- À, nghĩa là khi cô nắm quyền chỉ đạo sở cảnh sát thành phố! Phải chăng vì việc đó mà cô vừa cãi nhau với đồn phó Montagne?

- Tôi không biết ông đang nói gì, Michael ạ, Anna khẳng định.

- Thật sao? Ông đáp lại, cố giả vờ ngạc nhiên. Tất cả mọi người đều biết rằng cô sẽ là đồn trưởng đồn cảnh sát kế tiếp mà.

Anna bỏ đi mà không trả lời, cô quay trở ra xe. Cô cởi áo chống đạn, ném nó lên băng ghế sau rồi nổ máy. Cô có thể quay trở lại nhà hàng Café Athéna, nhưng không muốn thế chút nào. Cô về nhà mình, rồi ngồi dưới mái vòm với một ly rượu và một điếu thuốc lá, tận hưởng bầu không khí mát dịu của buổi tối.

một tờ giấy đã ố vàng vì thời gian, trên đó có một dòng chữ đánh máy: Nơi đây ĐÊM ĐEN bắt đầu. Chẳng khác nào điểm khởi đầu của một trò chơi săn tìm kho báu. Chi tiết cụ thể duy nhất mà chúng tôi có được là cú điện thoại gọi đi từ nhà hàng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.