Sáng hôm đó, khi Derek và tôi đến phòng tài liệu lưu trữ của Thời hao Orphea, Anna đã dán lên tường những bức ảnh chụp sổ nhật ký của Meghan Padalin.
- Meghan đúng là người đã gọi cuộc điện thoại nặc danh mà Alan Brown nhận được vào năm 1994, báo cho ông ta biết rằng thị trưởng Gordon tham nhũng, cô giải thích với chúng tôi. Theo như tôi hiểu, thì Meghan biết được chuyện này từ một người nào đó có tên là Fecility. Tôi không biết người này nói gì với cô ta, nhưng Meghan vô cùng oán ghét thị trưởng Gordon về chuyện đó. Khoảng hai tháng sau cuộc điện thoại nặc danh, ngày 1 tháng Tư năm 1994, trong lúc chỉ có một mình ở hiệu sách, cuối cùng Meghan cũng đối mặt với Gordon khi ông ta đến mua một cuốn sách. Cô ta đã nói với Gordon là cô ta đã biết hết mọi chuyện, và gọi ông ta là kẻ tội phạm.
- Cô ta có nói về các vụ tham nhũng không? Derek hỏi.
- Tôi cũng tự đặt cho mình câu hỏi đó, Anna trả lời rồi chuyển sang trang tiếp theo. Bởi vì hai ngày sau, trong lúc đang chạy thể dục, Meghan ngẫu nhiên gặp Gordon trước cửa nhà ông ta, và lại chửi rủa ông ta lần nữa. Cô ta ghi lại trong nhật ký: “Tôi giống con mắt dõi theo Cain”
- Con mắt dõi theo Cain bởi vì Cain đã giết người, tôi nhận xét. Thị trưởng Gordon đã giết ai đó chăng?
- Đó chính xác là điều tôi đang băn khoăn, Anna nói. Trong những tháng tiếp theo cho đến tận lúc chết, ngày nào Meghan cũng chạy đến trước nhà thị trưởng Gordon vào lúc cuối chiều. Cô ta ở trong công viên rình ông ta về nhà, và khi nhìn thấy ông ta, Meghan sẽ gây chuyện bằng cách nhắc lại tội lỗi của ông ta.
- Vậy là thị trưởng Gordon hoàn toàn có lý do để giết Meghan, Derek nói.
- Đúng là một thủ phạm hợp lý, Anna gật đầu. Nếu ông ta không bị chết trong cùng vụ nổ súng đó.
- Chúng ta có biết thêm điều gì khác về cái người có tên là Felicity đó không? Tôi hỏi.
- Felicity Daniels, Anna trả lời và khẽ mỉm cười đầy thỏa mãn. Tôi chỉ cần gọi một cuộc điện thoại cho Samuel Padalin là lần ra được người đó. Hiện nay, bà ấy sống ở Coram, và đang chờ chúng ta. Lên đường thôi.
Felicity Daniels đã 60 tuổi, bà đang làm việc trong một cửa hàng đồ điện gia dụng tại trung tâm thương mại Coram, nơi chúng tôi đến gặp bà. Bà chờ chúng tôi đến rồi mới nghỉ giải lao, và chúng tôi vào quán cà phê bên cạnh.
- Các vị không phiến nếu tôi ăn một chiếc bánh sandwich chứ? Bà hỏi. Nếu không tôi sẽ không kịp ăn trưa mất.
- Mời bà cứ tự nhiên, Anna trả lời.
Bà gọi nhân viên phục vụ để yêu cầu lấy bánh. Tôi thấy bà có vẻ buồn rầu và mệt mỏi.
- Các vị nói muốn nói chuyện về Meghan? Felicity hỏi.
- Đúng thế thưa bà, Anna đáp. Có lẽ bà cũng đã biết, chúng tôi đang mở lại cuộc điều tra liên quan đến cái chết của Meghan cũng như của các thành viên trong gia đình Gordon. Meghan là một trong số các bạn gái của bà, có đúng thế không?
- Đúng thế. Chúng tôi gặp nhau ở câu lạc bộ tennis và thân nhau luôn. Cô ấy trẻ hơn tôi, chúng tôi cách nhau khoảng mười tuổi. Tôi không nói là chúng tôi rất gắn bó, nhưng sau nhiều lần cùng ngồi uống một ly sau trận đấu, chúng tôi đã biết về nhau khá rõ.
- Bà miêu tả Meghan là người thế nào?
- Cô ấy thuộc tuýp người lãng mạn. Hơi mơ mộng, hơi ngây thơ. Rất tình cảm.
- Bà sống ở Coram lâu chưa?
- Hơn hai mươi năm. Tôi đến đây cùng với lũ trẻ sau khi chồng tôi qua đời ít lâu. Ông ấy mất ngày 16 tháng Mười một năm 1993, đúng sinh nhật ông ấy.
- Bà có gặp lại Meghan từ khi bà chuyển nhà đến khi cô ấy chết không?
- Có, cô ấy thường xuyên đến Coram, để ghé chào tôi. Cô ấy mang cho tôi những món ăn cô ấy tự nấu, thỉnh thoảng là một cuốn sách hay. Nói thật lòng, tôi chẳng đòi hỏi ở cô ấy điều gì, cô ấy hơi có chút áp đặt. Nhưng tất cả đểu xuất phát từ mối thiện cảm.
- Meghan có phải là một phụ nữ hạnh phúc không?
- Có, cô ấy có mọi thứ. Đám đàn ông rất thích cô ấy, ai nấy đều ngất ngây khi nhìn thấy cô ấy. Những kẻ độc mồm độc miệng thường nói rằng chính nhờ cô ấy mà hồi ấy hiệu sách Orphea làm ăn tốt đến thế.
- Vậy là cô ấy thường xuyên lừa dối chồng?
- Tôi không nói thế. Với lại, cô ấy không thuộc loại người ưa thích phiêu lưu.
- Tại sao lại không?
Felicity bĩu môi:
- Tôi không biết. Có thể là bởi vì cô ấy không đủ can đảm. Không phải là kiểu người thích sống theo cách ngụy hiểm.
- Tuy nhiên, Anna đáp lại, theo nhật ký của cô ấy, thì Meghan có quan hệ với một người đàn ông trong những tháng cuối cùng của cuộc đời cô ấy.
- Thật thế sao? Felicity ngạc nhiên.
- Đúng thế, một người đàn ông mà cô ấy gặp vào tối 31 tháng Mười hai năm 1993 tại khách sạn Bông hồng phương Bắc ở Bridgehampton. Meghan có nhắc đến những lần hẹn gặp thường xuyên với người đó cho đến tận đầu tháng Sáu năm 1994. Sau đó, không còn gì nữa. Cô ấy không bao giờ kể về người đó với bà sao?
- Không bao giờ, Felicity khẳng định. Người đó là ai?
- Tôi không biết, Anna trả lời. Tôi đã hy vọng bà có thể cho tôi biết thêm nhiều thông tin hơn. Meghan có bao giờ nói với bà là cô ấy có cảm giác bị đe dọa không?
- Đe dọa ư? Không, không đâu, lạy Chúa! Các vị biết đấy, chắc chắn có nhiều người biết rõ về cô ấy hơn là tôi. Tại sao các vị lại hỏi tôi những câu này?
- Bởi vì theo nhật ký của Meghan, vào tháng Hai năm 1994, bà đã tâm sự với cô ấy một chuyện liên quan đến thị trưởng Orphea, Joseph Gordon, hình như ông ta khiến cô ấy khá bối rối.
- Ôi, lạy Chúa! Felicity Daniels thì thầm và giơ một bàn tay lên che miệng.
- Đó là chuyện gì vậy? Anna hỏi.
- Đó là chuyện về Luke, chồng tôi, Felicity trả lời bằng giọng nghẹn ngào. Lẽ ra tôi không bao giờ nên kể chuyện ấy với Meghan.
- Đã xảy ra chuyện gì với chồng bà?
- Luke nợ như chúa chổm. Anh ấy có một công ty điều hòa không khí, nhưng nó bị phá sản. Anh ấy phải sa thải toàn bộ nhân viên. Anh ấy bị dồn ép từ khắp các phía. Trong suốt nhiều tháng ròng, anh ấy không nói chuyện gì với ai. Tôi chỉ phát hiện ra tất cả sau ngày anh ấy chết. Sau khi phải bán ngôi nhà để trả các hối phiếu, tôi cùng các con rời khỏi Orphea, và tìm được chân bán hàng ở đây.
- Bà Daniels này, chồng bà chết vì lý do gì vậy?
- Anh ấy tự sát. Treo cổ trong phòng ngủ của chúng tôi, vào tối sinh nhật anh ấy.
Ngày 3 tháng Hai năm 1994
Lúc đó là sẩm tối trong căn hộ có đầy đủ đồ dùng mà Felicity Daniels thuê tại Coram. Meghan đã ghé qua lúc cuối chiểu để mang cho Felicity món bánh mì dẹt, để rồi bắt gặp cô trong tình trạng hoàn toàn tuyệt vọng. Lũ trẻ cãi nhau chí chóe, không chịu làm bài tập, phòng khách lộn tùng phèo, Felicity đang nằm vật trên ghế xô pha mà khóc, không còn đủ sức để kiểm soát tình hình nữa.
Meghan liền can thiệp: cô yêu cầu lũ trẻ trật tự, giúp chúng làm xong bài tập về nhà, rồi đưa chúng tắm, ăn tối và lên giường đi ngủ. Sau đó cô mở chai rượu vang mà cô mang tới và rót cho Felicity một cốc lớn.
Felicity không có ai để tâm sự, đành mở lòng với Meghan.
- Chị không thể chịu nổi nữa, Meg ạ. Giá mà em biết mọi người nói gì về Luke. Gã hèn nhát đó đã treo cổ đúng vào sinh nhật trong phòng ngủ, trong khi vợ con gã đang chuẩn bị tiệc sinh nhật ở tầng trệt. Chị hình dung ra các phụ huynh khác nhìn chị thế nào rồi. Chị không thể chịu nổi ánh mắt pha trộn giữa bài xích và hạ cố ấy nữa.
- Em rất tiếc, Meghan nói.
Felicity nhún vai. Cô tự rót thêm cho mình một cốc vang nữa, rồi dốc một hơi cạn sạch. Có hơi men giúp sức, sau một hồi im lặng buồn bã, cuối cùng cô cất tiếng:
- Luke lúc nào cũng quá trung thực. Thế nên mới đến nông nỗi này.
- Chị muốn nói gì? Meghan hỏi.
- Chẳng gì cả.
- Không đâu, Felicity. Chị đã nói với em quá nhiều, hoặc chưa đủ!
- Meghan này, nếu chị kể chuyện này với em, em phải hứa với chị là sẽ không kể lại với bất kỳ ai.
- Đương nhiên rồi, chị có thể hoàn toàn tin tưởng ở em.
- Những năm vừa qua, công ty của Luke làm ăn rất ổn. Mọi chuyện đều rất tốt đẹp với bọn chị. Cho đến cái ngày thị trưởng Gordon hẹn gặp anh ấy trong văn phòng của ông ta. Chính là trước khi khởi công công trình cải tạo các tòa nhà của thành phố. Gordon đã bảo với Luke rằng ông ta sẽ dành cho anh ấy toàn bộ thị trường cung cấp các hệ thống thông gió, đổi lại ông ta sẽ nhận được một khoản tiến chênh lệch.
- Ý chị muốn nói là tiền hối lộ? Meghan hỏi.
- Đúng thế, Felicity gật đầu. Và Luke đã từ chối. Anh ấy nói rằng bộ phận kế toán sẽ phát hiện ra, anh ấy sẽ có nguy cơ mất hết. Gordon đe dọa sẽ hủy hoại anh ấy. Ông ta nói rằng đó là cách làm phổ biến trong toàn thành phố. Nhưng Luke không nhượng bộ. Thế nên anh ấy không nhận được hợp đồng lần đó. Cả các lần khác nữa. Và để trừng phạt anh ấy vì đã chống lại ông ta, thị trưởng Gordon hãm hại anh ấy. Ông ta chơi trò chọc gậy bánh xe, khiến anh ấy mang tiếng xấu, ra sức ngăn cản mọi người làm việc với anh ấy. Và Luke nhanh chóng mất hết khách hàng. Nhưng anh ấy không chịu nói gì với chị, vì không muốn chị phải lo lắng. Chị chỉ biết toàn bộ chuyện đó vào hôm trước ngày anh ấy mất. Phòng kế toán của công ty đã đến nói với chị về chuyện công ty sắp phá sản, các nhân viên rơi vào cảnh thất nghiệp tạm thời, còn chị, con ngốc khốn khổ, chị chẳng biết gì hết. Tối đó chị đã hỏi Luke, anh ấy kể hết mọi chuyện cho chị nghe. Chị đã trấn an anh ấy rằng bọn chị sẽ cùng chiến đấu, và anh ấy trả lời là bọn chị chẳng thể làm gì để chống lại lão thị trưởng cả. Chị bảo anh ấy là phải đâm đơn kiện. Anh ấy nhìn chị bằng ánh mắt của kẻ thất bại: “Em không hiểu gì cả, Felicity ạ, cả thành phố dính vào vụ hối lộ này. Tất cả bạn bè của anh. Cả anh trai em nữa. Chứ em tưởng anh ấy đã làm thế nào để có được tất cả các hợp đồng trong hai năm vừa qua? Họ sẽ mất hết nếu chúng ta tố cáo họ. Họ sẽ phải vào tù. Chúng ta không thể nói gì được, tất cả mọi người đều bị trói chân trói tay hết rồi.” Tối hôm sau, anh ấy treo cổ.
- Ôi, lạy Chúa, Felicity ơi! Meghan thốt lên kinh hãi. Tất cả đểu là lỗi của Gordon sao?
- Em không được nói chuyện này với bất cứ ai, Meghan ạ.
- Phải để cho tất cả mọi người biết rằng thị trưởng Gordon là một kẻ sát nhân.
- Hãy thề với chị là em sẽ không nói gì đi, Meghan! Các công ty sẽ bị đóng cửa, các lãnh đạo sẽ bị kết án, các công nhân sẽ thất nghiệp…
- Vậy chúng ta cứ để yên cho lão thị trưởng tha hồ lộng hành mà không bị trừng phạt gì sao?
- Gordon rất mạnh. Mạnh hơn chúng ta tưởng nhiều.
- Em không sợ lão ta!
- Meghan, hãy hứa với chị là em sẽ không kể chuyện này với bất kỳ ai. Như thê này chị đã đủ chuyện phải lo phiền lắm rồi.
- Nhưng cô ấy đã nói ra, Anna bảo với Felicity Daniels.
- Đúng thế, cô ấy đã gọi một cuộc điện thoại nặc danh đến phó thị trưởng Brown để cảnh báo ông ta. Chuyện đó khiến tôi giận điên người.
- Tại sao?
- Những người tôi yêu quý sẽ gặp rủi ro rất lớn trong trường hợp cảnh sát tiến hành điểu tra. Tôi đã biết mất hết là như thế nào rồi. Tôi không mong điều đó xảy ra, dù là với kẻ thù tồi tệ nhất của tôi đi chăng nữa. Meghan đã hứa là sẽ không bao giờ nói về chuyện đó nữa. Nhưng hai tháng sau, cô ấy gọi cho tôi để nói rằng cô ấy đã chạm trán thị trưởng Gordon ở hiệu sách. Tôi đã hét lên với cô ấy, tôi chưa từng hét vào mặt ai như thế. Đó là lần cuối cùng tôi và Meghan liên hệ với nhau. Sau đó, tôi không nói chuyện với cô ấy nữa. Tôi quá giận dữ. Bạn bè thực sự thì không tiết lộ các bí mật của ta.
- Tôi tin rằng cô ấy muốn bảo vệ bà, Anna nhận xét. Cô ấy muốn công lý phải được thực thi dưới một hình thức nào đó. Ngày nào cô ấy cũng đến nhắc nhở thị trưởng rằng vì ông ta mà chồng bà mới tự sát. Cô ấy muốn đòi lại công bằng cho chồng bà. Bà nói rằng Meghan không được can đảm cho lắm ư? Ngược với bà, tôi tin rằng cô ấy rất can đảm. Cô ấy không sợ phải đối mặt với Gordon. Cô ấy là người duy nhất dám làm thế. Cô ấy còn can đảm hơn cả thành phố này cộng lại. Cô ấy đã phải trả giá bằng mạng sống.
- Cô muốn nói rằng chính Meghan là đối tượng bị nhắm đến? Felicity bàng hoàng hỏi.
- Chúng tôi nghĩ là đúng thế, Derek trả lời.
- Nhưng kẻ nào có thể làm chuyện đó chứ? Felicity thắc mắc. Thị trưởng Gordon ư? Ông ta chết cùng với cô ấy. Chuyện này thật vô lý.
- Đó chính là điều mà chúng tôi đang cố gắng tìm hiểu, Derek thở dài.
- Bà Daniels này, Anna liền hỏi, bà có biết tên một người bạn khác của Meghan có thể nói chuyện với chúng tôi về cô ấy không? Trong nhật ký của cô ấy, tôi đọc thấy có nhắc đến một người nào đó tên là Kate.
- Có đấy, Kate Grand. Cô ấy cũng là thành viên câu lạc bộ tennis. Tôi tin rằng cô ấy từng là bạn thân của Meghan.
Đúng lúc rời khỏi trung tâm thương mại Coram, Derek nhận được một cuộc điện thoại của chuyên gia đội cảnh sát đường bộ.
- Tôi đã phân tích xong những mảnh vỡ xe ô tô mà anh đưa cho tôi, anh ta nói với Derek.
- Thế anh kết luận thế nào?
- Anh nói đúng. Đó là một mảnh vỡ của thanh chắn sốc ngang bên phải. Xung quanh có lớp sơn xanh lục, nghĩa là màu sơn của chiếc xe. Tôi cũng tìm thấy trên đó những mảnh vỡ của một loại sơn màu xám, nghĩa là, theo hồ sơ cảnh sát mà anh chuyển cho tôi, cùng màu với sơn của chiếc mô tô có liên quan trong vụ tai nạn chết người vào ngày 16 tháng Bảy năm 1994.
- Vậy là có thể chiếc mô tô đã bị đâm rất mạnh nên mới lao vào gốc cây và nát bét? Derek hỏi.
- Chính xác, vị chuyên gia xác nhận. Bị đâm bởi một chiếc xe màu xanh lục.
Tại New York, đằng trước tòa chung cư nơi họ ở trong khu Brooklyn, gia đình Bergdorf vừa leo lên chiếc xe cắm trại.
- Xong rồi, lên đường thôi! Steven gào lên rồi khởi động xe.
Bên cạnh ông, Tracy vợ ông đang cài dây an toàn. Bà quay xuống phía hai đứa trẻ ngồi ở băng ghế sau:
- Ổn cả chứ, các con yêu?
- Ổn cả mẹ ạ, đứa con gái trả lời.
- Tại sao chúng ta lại mang theo chiếc xe ở đằng sau?
- Bởi vì như thế tiện hơn! Steven trả lời.
- Tiện ư? Tracy hỏi lại, cốp xe còn chẳng mở được.
- Để đi tham quan khu vườn quốc gia đẹp nhất thế giới, chúng ta không cần cốp xe. Trừ khi em muốn nhét bọn trẻ con vào đó.
Ông cười khẩy.
- Ba sẽ giam chúng con vào cốp xe sao? Đứa con gái lo lắng hỏi.
- Sẽ không có ai vào cốp xe cả, bà mẹ trấn an.
Chiếc xe cắm trại đi về hướng Manhattan Bridge.
- Khi nào thì chúng ta đến Yellowstone? Đứa con trai hỏi.
- Sẽ rất rất sớm thôi, Steven khẳng định.
- Chúng ta sẽ dành thời gian thăm thú đất nước một chút! Tracy giận dữ.
Rồi bà nói với đứa con trai:
- Trong nhiều ngày nữa, con yêu ạ. Con phải kiên nhẫn.
- Các vị đang ở trên chuyến tàu Tốc hành châu Mỹ! Steven thông báo. Sẽ không có người nào từ New York đến Yellowstone nhanh đến thế này đâu!
- Hoan hô, chúng ta sẽ đi rất nhanh! Đứa con trai hét lên.
- Không, chúng ta sẽ không đi rất nhanh đâu! Tracy cũng mất bình tĩnh hét lên.
Họ băng qua đảo Manhattan để đến đường hầm Holland Tunnel và đến New Jersey, trước khi đi vào đường quốc lộ 78 hướng về phía Tây.
Tại bệnh viện Mount Sinai, Cynthia Eden lao ra khỏi phòng Dakota và gọi một nữ y tá.
- Gọi bác sĩ giúp tôi! Cynthia gào lên. Con bé mở mắt rồi! Con gái tôi mở mắt rồi!
Trong phòng tài liệu lưu trữ, với sự hỗ trợ đắc lực của Kirk và Michael, chúng tôi nghiên cứu các kịch bản khả dĩ trong vụ tai nạn của Jeremiah.
- Theo chuyên gia, Derek giải thích, và xét theo mức độ tác động, có khả năng chiếc ô tô ở ngang tầm chiếc mô tô và húc nó vào vệ đường.
- Như vậy, đúng là Jeremiah Fold đã bị sát hại, Michael nói.
- Ta có thể cho là hắn bị sát hại nếu ta muốn, Anna giảm nhẹ sắc thái. Hắn đã bị bỏ mặc cho đến chết. Kẻ đâm hắn là một kẻ hoàn toàn không chuyên.
- Một kẻ sát nhân bất đắc dĩ! Derek thốt lên. Giống hệt với chân dung mà bác sĩ Singh đã vẽ ra vể kẻ sát nhân của chúng ta. Hắn không muốn giết người, nhưng lại buộc phải làm thế.
- Hẳn phải có rất nhiều người muốn giết Jeremiah Fold, tôi nhận xét.
- Thế nếu cái tên Jeremiah Fold mà ta tìm thấy trong cuốn kịch bản Đêm đen là một lệnh giết người thì sao? Kirk gợi ý.
Derek chỉ vào một bức ảnh trong hồ sơ của cảnh sát, chụp bên trong ga ra nhà Gordon. Có một chiếc xe hơi màu đỏ, phần cốp mở toang để lộ những chiếc va li bên trong.
- Thị trưởng Gordon có một chiếc xe hơi màu đỏ, Derek nhận xét.
- Thật nực cười, Kirk Harvey nói, theo như trí nhớ của tôi, thì đúng là ông ta lái một chiếc xe mui gập màu xanh da trời.
Nghe những lời này, một ký ức bỗng trồi lên trong tâm trí tôi, tôi liền lao đến bên tập hồ sơ điều tra năm 1994.
- Hồi ấy chúng ta đã nhìn thấy thứ này! Tôi kêu lên. Tôi còn nhớ có một bức ảnh chụp thị trưởng Gordon cùng chiếc xe của ông ta.
Tôi cuống quýt lật giở các báo cáo, những bức ảnh, những biên bản ghi lời khai của các nhân chứng, các chứng từ của ngân hàng. Đột nhiên, tôi bắt gặp nó. Bức ảnh do tay nhân viên môi giới bất động sản ở Montana chụp trộm, trong đó có thể nhìn thấy thị trưởng Gordon đang bê những chiếc thùng các tông ra từ cốp một chiếc xe mui gập màu xanh da trời, đằng trước ngôi nhà mà ông ta đã thuê ở Bozeman.
- Tay nhân viên môi giới bất động sản ở Montana đã nghi ngờ Gordon, Derek nhớ lại. Tay đó đã chụp ảnh Gordon đứng trước chiếc xe của ông ta để lưu giữ dấu vết biển số xe và khuôn mặt ông ta.
- Vậy đúng là thị trưởng Gordon có lái một chiếc xe ô tô màu xanh da trời, Michael nói.
Kirk lại gần bức ảnh chụp ga ra nhà Gordon và quan sát chiếc xe thật kỹ.
- Hãy nhìn vào kính hậu xe, ông vừa nói vừa chỉ vào bức ảnh. Có tên của đại lý xe. Có thể đến nay đại lý đó vẫn còn hoạt động.
Chúng tôi lập tức kiểm tra, quả đúng như thế. Một ga ra-đại lý xe hơi nằm trên đường Montautk, nó đã hiện diện ở đó từ bốn mươi năm nay. Chúng tôi lập tức đến đó và được ông chủ tiếp đón tại phòng làm việc của ông ta, căn phòng bẩn thỉu chất đầy đồ đạc.
- Cảnh sát muốn gì ở tôi? Ông ta hỏi chúng tôi bằng giọng ân cần.
- Chúng tôi đang tìm kiếm thông tin về một chiếc xe có lẽ đã được mua tại cửa hàng ông vào năm 1994.
Ông ta cười khẩy:
- Năm 1994? Thật sự tôi không thể giúp các vị được. Các vị nhìn thấy cảnh lộn xộn đang thống trị nơi đây rồi đấy.
- Trước hết, hãy xem qua loại xe đã, Derek gợi ý và đưa cho ông ta xem bức ảnh.
Ồng chủ cửa hàng khẽ liếc qua.
- Tôi đã bán cả mớ xe kiểu này. Có lẽ các vị biết tên người mua chứ?
- Là Joseph Gordon, thị trưởng Orphea.
Ông chủ đại lý bỗng tái mét mặt.
- Ái chà, đó là lần mua bán mà tôi không sẽ bao giờ quên được, ông ta nói, giọng bỗng trở nên nghiêm trọng. Hai tuần sau khi mua chiếc xe, người đàn ông tội nghiệp đó đã bị sát hại cùng cả gia đình ông ta.
- Vậy là ông ấy mua nó vào giữa tháng Bảy? Tôi hỏi.
- Đúng, vào khoảng ấy. Khi đến mở cửa ga ra, tôi thấy ông ta đứng trước cửa. Trông ông ta giống như một người suốt đêm không hề chợp mắt. Người ông ta nồng nặc mùi rượu. Nửa bên phải chiếc xe của ông ta bị hư hại hoàn toàn. Ông ta bảo tôi là đã đâm phải một con nai, và muốn đổi xe. Ông ta muốn mua một chiếc xe mới ngay lập tức. Tôi có ba chiếc Dodge màu đỏ trong kho, ông ta lấy một chiếc mà không bàn cãi gì. Ông ta trả bằng tiền mặt. Ông ta bảo tôi là đã lái xe trong lúc say rượu, phá hỏng một công trình của thành phố và chuyện đó có thể gây hại cho việc ông ta tái tranh cử vào tháng Chín. Ông ta biếu thêm năm nghìn đô la để tôi vui vẻ mà lái ngay chiếc ô tô của ông ta đến địa điểm tiêu hủy xe. Ông ta rời đi trên chiếc xe mới, và ai nấy đều hài lòng.
- Ông không thấy chuyện đó kỳ quặc sao?
- Vừa có lại vừa không. Những chuyện như thế, tôi gặp suốt. Các vị có biết bí mật khiến tôi thành công trên thương trường và sống thọ thế này không?
- Là gì vậy?
- Tôi ngậm miệng, và trong vùng này ai cũng biết điều đó.
Thị trưởng Gordon có đầy đủ các lý do để giết Meghan, nhưng ông ta lại giết Jeremiah Fold, kẻ không hề có liên hệ gì với ông ta. Tại sao?
Tối đó, khi rời khỏi Orphea, Derek và tôi có vô số câu hỏi trong đầu. Chúng tôi lặng lẽ trên suốt chặng đường về, mỗi người chìm đắm trong dòng suy nghĩ của riêng mình. Khi tôi dừng xe trước cửa nhà anh, anh không xuống khỏi xe. Mà vẫn ngồi yên trên ghế.
- Có chuyện gì thế? Tôi hỏi anh.
- Từ khi tiến hành lại cuộc điều tra này với cậu, Jesse ạ, cứ như thể tôi đang sống một cuộc đời mới. Đã lâu rồi tôi không cảm thấy hạnh phúc và thỏa mãn như thế này. Nhưng những bóng ma trong quá khứ lại trỗi dậy. Từ hai tuần nay, hằng đêm, cứ nhắm mắt là tôi lại thấy mình đang ở trong chiếc xe này, cùng với cậu và Natasha.
- Tôi cũng có thể là người lái chiếc xe này. Anh không hề có lỗi gì trong tất cả những chuyện đã xảy ra.
- Là cậu hoặc cô ấy, Jesse ạ! Tôi đã phải lựa chọn giữa cậu và cô ấy.
- Anh đã cứu mạng tôi, Derek ạ.
- Đồng thời tôi cũng phá hủy cuộc đời cậu, Jesse ạ. Hãy nhìn cậu hai mươi năm sau, vẫn độc thân, vẫn đang để tang.
- Derek, anh chẳng thể làm được gì trong chuyện này.
- Cậu sẽ làm gì nếu cậu là tôi, hả Jesse? Đó là câu hỏi mà tôi không ngừng đặt ra cho bản thân.
Tôi không trả lời. Chúng tôi lặng lẽ hút một điếu thuốc. Rồi thân mật vỗ vai nhau, và Derek đi vào nhà anh.
Tôi không muốn về ngay nhà mình. Tôi muốn gặp lại cô ấy. Tôi lái xe đến tận nghĩa trang. Vào giờ này, nghĩa trang đã đóng cửa. Tôi leo qua bức tường thấp không chút khó khăn, rồi lang thang giữa những lối đi tĩnh mịch. Tôi dạo bước giữa những ngôi mộ, thảm cỏ dày lún sâu dưới chân tôi. Mọi thứ đểu yên ả và đẹp đẽ. Tôi ghé qua chào ông bà tôi, họ đang yên ngủ, rồi đến trước mộ Natasha. Tôi ngồi xuống, lặng lẽ như thế thật lâu. Đột nhiên, tôi nghe tiếng bước chân đằng sau lưng. Chính là Darla.
- Làm sao em biết rằng anh ở đây? Tôi hỏi cô.
Cô mỉm cười:
- Anh không phải là người duy nhất trèo tường để vào thăm cô ấy.
Đến lượt tôi mỉm cười. Rồi tôi nói với cô:
- Anh xin lỗi về vụ nhà hàng, Darla ạ. Đó là một sáng kiến ngu ngốc.
- Không đâu, Jesse ạ, ý tưởng của anh rất tuyệt vời. Chính em mới là người phải xin lỗi vì đã phản ứng như thế.
Cô ngồi xuống cạnh tôi.
- Lẽ ra anh không bao giờ nên đưa cô ấy lên xe bọn anh hôm ấy, tôi hối tiếc. Tất cả là lỗi của anh.
- Thế còn em thì sao, hả Jesse? Lẽ ra em không bao giờ được để cô ấy xuống khỏi xe. Lẽ ra em và Natasha không nên có cuộc tranh cãi ngu ngốc ấy.
- Vậy là tất cả chúng ta đều cảm thấy mình tội lỗi, tôi thì thầm.
Darla gật đầu. Tôi nói tiếp:
- Đôi khi anh có cảm giác cô ấy đang ở đây, bên cạnh anh. Khi về nhà vào buổi tối, anh bắt gặp mình hy vọng gặp lại Natasha.
- Ôi, Jesse… tất cả chúng ta đều nhớ cô ấy. Hằng ngày. Nhưng anh phải tiến về phía trước. Anh không nên sống trong quá khứ nữa.
- Anh không biết liệu có ngày nào anh chữa lành được vết nứt vỡ này trong anh không, Darla ạ.
- Jesse ạ, cuộc sống sẽ chính là phương thuốc chữa lành mà.
Darla ngả đầu vào vai tôi. Chúng tôi cứ ngồi như thế hồi lâu, ngắm nghía tấm bia mộ trước mặt.
NATASHA DARRINSKI
02/04/1968 - 13/10/1994