Mẩu quảng cáo tìm được trên tạp chí của trường Đại học Notre-Dame không giúp chúng tôi lần ra người đăng tin. Tại tòa soạn báo, người phụ trách quảng cáo không nắm được bất cứ thông tin gì: mẩu quảng cáo đó được vào sổ ngay tại quầy tiếp đón, và được trả bằng tiền mặt. Bí ẩn hoàn toàn. Ngược lại, nhân viên tòa soạn tìm được mẩu quảng cáo đó trong tài liệu lưu trữ, nó được đăng tải đúng một năm trước. Và cả năm trước nữa. Vào các số báo mùa thu. Tôi hỏi:
- Vào mùa thu, có điều gì đặc biệt hơn vậy?
- Đó là số báo được nhiều người đọc nhất, nhân viên tòa soạn giải thích với tôi. Đó là số báo ra vào mùa khai giảng.
Derek liền đưa ra một giả thuyết: mùa khai giảng đánh dấu sự xuất hiện của các sinh viên mới, cũng là các ứng cử viên tiềm năng cho việc viết cuốn sách mà người đặt hàng kia xiết bao mong muốn.
- Nếu tôi là người đó, Derek khẳng định, tôi sẽ không dừng ở một tạp chí duy nhất, mà sẽ đăng tải quảng cáo đó rộng rãi hơn.
Vài cuộc gọi đến tòa soạn của các tạp chí thuộc khoa văn tại nhiều trường đại học khác nhau ở New York và các vùng lân cận cho phép chúng tôi xác minh giả thuyết của anh: một quảng cáo giống hệt cũng được đăng tải trên mỗi số báo mùa thu từ nhiều năm nay. Nhưng người yêu cầu đăng tải thì không để lại dấu vết gì.
Tất cả những gì chúng tôi biết được chỉ là người đó là đàn ông, có mặt tại Orphea vào năm 1994, đang nắm giữ những thông tin cho phép nghĩ rằng Ted Tennenbaum không phải là kẻ sát nhân, và người đó cho rằng tình huống đủ nghiêm trọng để viết một cuốn sách, nhưng lại không thể tự mình viết được. Vấn đề đó là kỳ lạ nhất. Derek cao giọng thắc mắc:
- Người nào lại muốn viết nhưng không thể viết được? Đến mức phải tuyệt vọng tìm kiếm một người khác để làm việc đó, bằng cách đăng quảng cáo suốt nhiều năm liền trên các tạp chí dành cho sinh viên?
Anna liền dùng bút dạ đen viết lên tấm bảng từ tính một câu hỏi bí hiểm chẳng khác nào một câu đố của nhân sư ở Thebes:
Tôi muốn viết sách; nhưng tôi không thể viết được. Tôi là ai?
Vì không có thông tin gì cụ thể ngay lúc này, nên chúng tôi chỉ còn cách tiếp tục tìm kiếm trong những bài báo đăng tải trên Thời báo Orphea mà chúng tôi đã xem lướt qua nhưng không thu được kết quả gì. Đột nhiên, đang chăm chú đọc, Derek bỗng bồn chồn khoanh một đoạn bằng mực đỏ. Anh có vẻ nghi ngờ, và thái độ của anh khiến chúng tôi để ý.
- Anh tìm thấy điều gì sao? Anna hỏi.
- Nghe này, anh nghi hoặc nói, mắt vẫn nhìn vào bản sao bài báo mà anh cầm trên tay. Đây là một bài báo đăng trên Thời báo Orphea ngày 2 tháng Tám năm 1994. Trong này có viết: “Theo một nguồn tin của cảnh sát, có lẽ đã có một nhân chứng thứ ba xuất hiện. Lời chứng của nhân vật này có thể rất quan trọng đối với cảnh sát, vì cho đến lúc này họ vẫn hầu như chưa có được bất cứ thông tin nào.”
- Chuyện này là gì thế? Tôi ngạc nhiên. Nhân chứng thứ ba ư? Hồi đó chỉ có hai nhân chứng, là hai cư dân sống trong khu phố.
- Tối biết thế, Jesse ạ, Derek nói, anh cũng ngạc nhiên không kém gì tôi.
Anna lập tức gọi cho Michael Bird. Ông không nhớ gì về nhân chứng đó, nhưng nhắc lại với chúng tôi rằng ba ngày sau vụ án mạng giết chết bốn người, thành phố ngập tràn tin đồn. Đáng buồn là không thể hỏi thông tin từ tác giả bài báo, người đã qua đời mười năm trước, nhưng Michael nói thêm với chúng tôi rằng nguồn tin của cảnh sát rất có thể là đồn trưởng Gulliver, người vẫn hay tiết lộ thông tin một cách dễ dãi.
Gulliver không có ở sở cảnh sát. Khi quay lại, ông vào phòng làm việc của Anna để gặp chúng tôi. Tôi giải thích vời ông rằng chúng tôi đã phát hiện ra thông tin nhắc đến nhân chứng thứ ba, ông lập tức trả lời:
- Chính là Marty Connors. Hồi ấy anh ta làm việc ở một trạm xăng gần Penfield Crescent.
- Tại sao chúng tôi không bao giờ nghe nói đến anh ta?
- Bởi vì sau khi xác minh, lời chứng của anh ta không có giá trị gi.
- Lẽ ra chúng tôi phải được đích thân đánh giá chuyện đó, tôi nói.
- Anh biết đấy, hồi đó, có đến vài chục lời chứng kiểu ấy, và chúng tôi đã kiểm tra cẩn thận trước khi chuyển lại cho các anh. Người ta liên hệ với chúng tôi vì bất cứ chuyện vớ vẩn nào: họ cảm thấy có ai đó, họ nghe thấy một tiếng động lạ, họ nhìn thấy một cái đĩa bay. Tóm lại toàn những chuyện ngớ ngẩn kiểu đó. Chúng tôi buộc phải chắt lọc, nếu không có lẽ các anh sẽ thực sự bị ngập trong mớ thông tin. Nhưng chúng tôi làm việc rất cẩn thận.
- Tôi không nghi ngờ gì về điều đó. Ông là người hỏi thông tin anh ta sao?
- Không. Tôi không biết ai đã làm việc đó nữa.
Khi sắp rời khỏi phòng, Gulliver bỗng dừng lại trên ngưỡng cửa rồi tuyên bố:
- Một người cụt tay.
Cả ba chúng tôi nhìn ông chằm chằm. Cuối cùng, tôi hỏi ông:
- Ông đang nói về chuyện gì thế, hả sếp?
- Cái cậu ghi trên bảng kia: Tôi muốn viết, nhưng tôi không thể viết được. Tôi là ai? Câu trả lời: một người cụt tay.
- Cảm ơn sếp.
Chúng tôi liên hệ với trạm xăng mà Gulliver đã nói đến, và hiện nó vẫn còn tồn tại. Thật may mắn, hai mươi năm sau, Marty Connors vẫn làm việc ở đó.
- Marty phụ trách bơm xăng ban đêm, nữ nhân viên nghe điện thoại cho tôi biết. Ông ấy nhận ca lúc 23 giờ.
- Tối nay ông ấy có làm việc không?
- Có. Anh có muốn tôi nhắn gì cho ông ấy không?
- Không, cô thật tử tế. Tôi sẽ đến gặp trực tiếp ông ấy.
Những người không có thời gian để mất sẽ bay từ Manhattan đến Hamptons. Xuất phát từ sân bay trực thăng ở mũi phía Nam của hòn đảo, chỉ cần hai mươi phút ngồi máy bay trực thăng là đủ để đến New York từ bất cứ thành phố nào khác thuộc Long Island.
Trên bãi đỗ xe của sân bay Orphea, Jerry Eden đang chờ đợi, ông ngồi trong xe, trước tay lái. Tiếng động cơ ầm ĩ kéo ông ra khỏi dòng suy nghĩ. Ông ngước mắt lên và nhìn thấy chiếc trực thăng đang bay đến. Ông ra khỏi xe. Cỗ máy đậu xuống đường băng cách ông vài chục mét. Sau khi động cơ đã tắt và cánh quạt đã ngừng quay, cánh cửa bên hông máy bay mở ra và Cynthia Eden từ đó bước xuống, theo sau là luật sư của nhà Eden, Benjamin Graff. Họ đi qua hàng rào ngăn cách đường băng với bãi đỗ xe, và Cynthia nhào vào vòng tay chồng, òa khóc nức nở.
Vừa vòng tay ôm vợ, Jerry vừa thân mật bắt tay viên luật sư.
- Benjamin này, ông hỏi, liệu Dakota có nguy cơ phải ở tù không?
- Cô ấy có bao nhiêu ma túy trên người?
- Tôi không biết.
- Chúng ta hãy đến thẳng sở cảnh sát, luật sư gợi ý, phải chuẩn bị cho phiên tòa. Bình thường thì tôi không thấy có gì phải lo lắng cả, nhưng đã có tiền sự là vụ Tara Scalini. Nếu thẩm phán chuẩn bị hồ sơ đúng luật, ông ta sẽ biết thông tin vụ đó, và có thể sẽ xem xét nó. Như thế sẽ rất rắc rối cho Dakota.
Jerry run lên. Hai chân ông như nhũn ra. Đến mức phải nhờ Benjamin cầm lái giúp. Mười lăm phút sau, ba người họ có mặt tại sở cảnh sát Orphea. Họ được đưa vào một phòng hỏi cung, sau đó người ta đưa Dakota đến, cô bị còng tay. Khi nhìn thấy bố mẹ, cô òa khóc nức nở. Viên cảnh sát tháo còng cho cô, và cô lập tức nhào vào vòng tay họ. “Bé con của mẹ!” Cynthia kêu lên, ra sức ôm siết lấy con gái.
Cảnh sát để họ ở riêng với nhau trong phòng, bốn người liền ngồi vào xung quanh một chiếc bàn bằng nhựa. Benjamin Graff lấy từ trong cặp táp ra một tập hồ sơ và một tập giấy ghi chép, rồi lập tức bắt tay vào việc.
- Dakota này, ông hỏi, chú cần biết chính xác cháu đã nói những gì với cảnh sát. Và nhất là, chú cần biết cháu có nói với họ về Tara không.
Tại Nhà hát lớn, các màn diễn thử vẫn tiếp tục. Trên sân khấu, thị trưởng Brown đã đến ngồi cạnh Kirk Harvey để thúc ông này nhanh chóng chốt bảng phân vai. Nhưng không có ứng cử viên nào phù hợp.
- Toàn bọn bất tài, Kirk Harvey nhắc đi nhắc lại. Đây phải là vở diễn thế kỷ, thế mà tôi thấy diễu qua trước mặt tôi chỉ toàn là những gì còn lại sau cơn giận dữ của Chúa.
- Cố gắng chút đi, Kirk! Thị trưởng nài nỉ.
Harvey gọi các thí sinh tiếp theo lên sân khấu. Trái ngược với yêu cầu, hai người đàn ông xuất hiện trước mặt ông: Ron Gulliver và Meta Ostrovski.
- Cả hai người làm trò khỉ gì ở đây thế?
- Tôi đến diễn thử! Ostrovski hét lên.
- Cả tôi cũng thế! Gulliver cũng gào theo.
- Yêu cầu đưa ra rất rõ ràng: một nam và một nữ. Cả hai người đều bị loại.
- Tôi đến trước cơ mà! Ostrovski phản đối.
- Hôm nay tôi phải trực, nên không thể đợi đến lượt được. Tôi có quyền ưu tiên.
- Ron à? Thị trưởng Brown ngạc nhiên. Nhưng ông không thể diễn kịch được đâu!
- Tại sao lại không? Đồn trưởng Gulliver phản đối. Tôi sẽ xin nghỉ phép. Đây là cơ hội duy nhất, tôi có quyền tận dụng. Với lại, vào năm 1994, đồn trưởng Harvey cũng được quyền trình diễn mà.
- Tôi sẽ cho các ông một cơ hội, Kirk lên tiếng cắt ngang. Nhưng một trong hai người phải đóng vai nữ.
Ông liền gọi người mang đến một bộ tóc giả, khiến buổi diễn thử bị gián đoạn chừng hai mươi phút, khoảng thời gian người ta tìm phụ kiện. Rốt cuộc, một tình nguyện viên đã quen thuộc với Nhà hát lớn quay trở lại với một bộ tóc dài nhuộm vàng hoe mà cô tìm thấy trong hậu trường, và Ostrovski đội lên đầu. Sau khi phục sức như vậy, tay cầm tờ giấy miêu tả cảnh đầu tiên, ông lắng nghe Harvey đọc lời thuyết minh.
Đó là một buổi sáng âm u. Trời mưa. Trên một con đường vùng quê, giao thông bị tê liệt: một đoạn tắc đường dài dằng dặc đã hình thành. Các lái xe giận dữ bấm còi như điên. Một cô gái trẻ đang đi trên lễ đường ngược dòng xe cộ bất động. Cô đi tận đến một trạm gác của cảnh sát, và hỏi nhân viên cảnh sát đang trực.
Ostrovski lại gần Gulliver, làm bộ như đang bước đi trên đôi giày cao gót, và bắt đầu màn đối đáp.
OSTROVSKI (hét lên như điên, bằng giọng kim the thé):
Có chuyện gì thế?
ĐỒN TRƯỞNG GULLIVER (thử đến ba lần): Một người chết. Tai nạn mô tô thảm khốc.
Họ diễn thật quá tồi. Nhưng sau màn diễn của họ, Kirk Harvey đứng bật dậy và đập tay vào nhau rồi kêu lên:
- Cả hai người đều được nhận!
- Anh chắc chứ? Thị trưởng Brown thì thầm với ông. Họ diễn tồi kinh khủng.
- Chắc như đinh đóng cột! Harvey phấn khởi kêu lên.
- Có những thí sinh khác diễn hay hơn, thế mà anh lại loại họ.
- Tôi đã nói với ông rồi, tôi tin chắc vào lựa chọn của mình, Alan ạ!
Rồi Kirk hét về phía khán phòng, tuyên bố với các thí sinh:
- Đây là hai diễn viên đầu tiên của chúng ta.
Ostrovski và Gulliver xuống khỏi sân khấu trong tiếng vỗ tay của các thí sinh khác, rồi bị lóa mắt trước ánh đèn flash của phóng viên ảnh Thời báo Orphea, và bị tóm gọn bởi một phóng viên muốn nghe cảm xúc của họ. Khuôn mặt Ostrovski rạng rỡ. Ông nghĩ: Đám đạo diễn đòi thuê mình, đám phóng viên quấy rầy mình, vậy là mình đã trở thành một nghệ sĩ được ca tụng và nổi tiếng. Ôi danh vọng yêu quý, ta thèm muốn ngươi đã lâu, và cuối cùng thì ngươi cũng đến !
Trước cửa Nhà hát lớn, Alice đang chờ trong chiếc xe mà Steven đã đỗ vội. Trong lúc họ chuẩn bị quay trở về New York, ông muốn ngó qua màn diễn thử, trong chốc lát, để có thông tin hoàn thiện bài báo biện minh cho kỳ nghỉ cuối tuần của ông ở Orphea.
“Năm phút thôi”, ông đã hứa với Alice như thế khi cô bắt đầu càu nhàu. Năm phút sau, ông ra khỏi tòa nhà. Thế là xong, mọi chuyện đã kết thúc với Alice. Họ đã nói với nhau về chuyện chia tay, cuối cùng cô nói cô đã hiểu và sẽ không gây chuyện rắc rối. Nhưng khi Steven chuẩn bị vào xe, ông nhận được điện thoại của Skip Nalan, phó tổng biên tập dưới quyền ông.
- Hôm nay mấy giờ thì ông về, hả Steven? Skip hỏi bằng giọng kỳ lạ. Tôi phải nói chuyện với ông, chuyện rất quan trọng đấy.
Nghe giọng Skip, Bergdorf lập tức hiểu rằng đang có chuyện gì đó, ông liền nói dối:
- Tôi chưa biết, còn phụ thuộc ở buổi diễn thử nữa. Mọi chuyện ở đây đang rất thú vị. Có chuyện gì vậy?
- Steven, kế toán vừa đến gặp tôi. Cô ấy cho tôi xem sao kê thẻ tín dụng của Tạp chí mà ông quản lý: có những giao dịch thực sự lạ lùng. Đủ loại lệnh mua, nhất là trong các cửa hàng đồ xa xỉ.
- Trong các cửa hàng đồ xa xỉ ư? Steven nhắc lại như thể ông vô cùng ngạc nhiên. Có kẻ nào đó xâm nhập vào thẻ của tôi chăng? Hình như là ở Trung Quốc…
- Thẻ được sử dụng ở Manhattan, Steven ạ, chứ không phải ở Trung Quốc. Còn có cả nhiều đêm nghỉ ở Plaza, những biên lai nhà hàng đắt khủng khiếp nữa.
- Lại còn thế nữa! Steven nói, tiếp tục giả vờ ngạc nhiên.
- Steven này, ông có liên quan gì đến chuyện này không?
- Tôi ư? Đương nhiên là không, Skip ạ. Rốt cuộc, cậu hình dung tôi có thể làm chuyện như thế sao?
- Không, quả thực là không. Nhưng có một khoản thuê phòng nghỉ ở Khách sạn bên hồ, tại Orphea. Và khoản đó thì chỉ có thể là của ông.
Steven run rẩy. Tuy nhiên, ông vẫn cố giữ giọng bình tĩnh.
- Chuyện đó thì không bình thường chút nào, ông nói, và cậu đã làm đúng khi báo cho tôi biết: tôi chỉ dùng thẻ tín dụng cho các khoản phụ trội. Tòa thị chính đã đảm bảo với tôi là họ chịu trách nhiệm trả tiền phòng. Chắc là nhân viên quầy lễ tân đã nhầm lẫn. Tôi sẽ gọi cho họ về việc này.
- Tốt rồi, Skip nói, tôi yên tâm rồi. Không giấu gì ông, suýt thì tôi đã tưởng là…
Steven phá lên cười:
- Cậu nghĩ tôi thuộc loại người đi ăn tối ở Plaza sao?
- Không, quả thực là không, Skip thích thú. Tóm lại, có một tin vui, đó là theo ngân hàng, có lẽ chúng ta sẽ không phải trả bất cứ khoản nào bởi vì có thể họ sẽ tìm ra trò gian lận đó. Họ nói đã từng xảy ra những trường hợp tương tự: có những kẻ dò ra được số thẻ tín dụng và chế ra một bản sao.
- Cậu thấy đấy, tôi cũng vừa nói với cậu như thế! Steven kết luận, ông đã hoàn toàn bình tĩnh trở lại.
- Nếu có thể, hôm nay khi trở về, ông nên ghé qua sở cảnh sát để đâm đơn kiện. Ngân hàng đang yêu cầu trả tiền. Cứ nhìn vào số tiền đó, thì họ muốn tìm ra kẻ gian lận. Họ khá chắc chắn là hắn sống ở New York.
Bergdorf cảm thấy nỗi hoảng sợ lại xâm chiếm ông một lần nữa: ngân hàng sẽ chẳng mấy mà xác định được rằng đó là ông. Tại một số cửa hàng, đám nhân viên bán hàng gọi ông bằng tên riêng. Ông không thể quay về New York hôm nay, trước hết ông phải tìm ra một giải pháp đã.
- Tôi sẽ đâm đơn kiện ngay khi trở về, ông đảm bảo với Skip. Nhưng phải ưu tiên cho chuyện ở đây đã: vở kịch này thực sự tuyệt vời, trình độ của các thí sinh rất cao, quá trình sáng tác thực sự là độc nhất vô nhị, nên tôi quyết định sẽ nhập cuộc. Tôi sẽ dự tuyển và viết một bài báo với tư cách một người trong cuộc. Vở kịch nhìn từ bên trong. Sẽ là một bài báo phi thường. Cứ tin vào tài đánh hơi của tôi, Skip ạ, sẽ rất tốt cho Tạp chí đấy. Cầm chắc giải Pulitzer rồi!
Giải Pulitzer. Đó chính xác là thứ mà Steven viện ra khi nói chuyện với vợ ông, Tracy.
- Nhưng anh còn ở lại đó bao nhiêu ngày nữa? Bà lo lắng hỏi.
Ông cảm thấy rằng Tracy không cắn câu, nên buộc phải xuất chiêu hạng nặng:
- Bao nhiêu lâu thì anh làm sao mà biết được. Nhưng điều quan trọng nhất, đó là Tạp chí chi trả tiền làm thêm giờ cho anh, để anh ở lại đây. Và cứ nhìn vào thái độ làm việc của anh, thì sẽ là một khoản kha khá đấy! Do đó, ngay khi anh quay về, chúng ta sẽ đi nghỉ ở Yellowstone!
- Vậy là chúng ta sẽ đi nghỉ ở đó? Tracy vui vẻ hỏi.
- Tất nhiên rồi, chồng bà trả lời. Anh đang rất phấn khởi đây.
Steven gác máy rồi mở cánh cửa xe, phía bên ghế hành khách.
- Chúng ta không thể đi được, ông nghiêm giọng nói.
- Tại sao lại không? Alice hỏi.
Steven đột ngột hiểu ra là ông cũng không thể nói sự thật với cô. Ông liền ép mình nở một nụ cười và tuyên bố:
- Tạp chí muốn em tham gia diễn thử rồi viết một bài báo với tư cách người trong cuộc về vở kịch này. Một bài báo quan trọng, thậm chí có cả ảnh em trên trang bìa.
- Ôi, Stevie, thật tuyệt vời! Bài báo đầu tiên của em!
Cô nồng nhiệt hôn ông rồi họ chạy vào bên trong Nhà hát. Họ chờ suốt nhiều giờ, đợi đến lượt mình. Khi rốt cuộc họ cũng được gọi lên sân khấu, Harvey đã loại tất cả các thí sinh trước, còn thị trưởng Brown, ngồi bên cạnh ông, đang hối thúc ông tìm thêm các thí sinh khác. Mặc dù không mấy thích thú phần diễn thử của Alice và Steven, Kirk vẫn quyết định nhận họ để Alan thôi rên rỉ.
- Cùng với Gulliver và Ostrovski, như thế là đã có bốn trong số tám diễn viên, thị trưởng nói, ông có vẻ nhẹ nhõm hơn đôi chút. Chúng ta đã tuyển được một nửa rồi.
Chiều bắt đầu tàn khi trong phòng xử án chính thuộc tòa án Orphea, sau khoảng thời gian chờ đợi dài dằng dặc, Dakota Eden cuối cùng cũng được đưa đến trước mặt thẩm phán Abe Cooperstin.
Với một cảnh sát đi kèm, cô đến tận trước mặt thẩm phán bằng những bước chân run rẩy, cả người mệt rũ vì phải qua đêm trong phòng giam, đôi mắt đỏ ngầu vì khóc nhiều.
- Ở đây, chúng ta đang có ca số 23450, hội đồng thị chính thành phố Orphea kiện cô Dakota Eden, thẩm phán Cooperstin tuyên bố trong lúc xem lướt bản báo cáo được trình lên cho ông. Cô Eden, tôi đọc thấy ở đây là cô đã bị bắt vào chiều hôm qua, khi ngồi sau tay lái một chiếc xe hơi, đang hít heroin bằng đường mũi. Có đúng như thế không?
Dakota đưa ánh mắt hoảng hốt nhìn sang luật sư Benjamin Graff, ông khẽ gật đầu để khuyến khích cô trả lời theo những gì họ đã thống nhất cùng nhau.
- Đúng thế, thưa quý tòa, cô trả lời bằng giọng nghẹn ngào vì khóc quá nhiều.
- Tôi có thể biết, thưa cô, tại sao một cô gái dễ thương như cô lại sử dụng ma túy không?
- Tôi đã phạm một sai lầm nghiêm trọng, thưa quý tòa. Tôi đang ở vào giai đoạn khó khăn trong cuộc đời. Nhưng tôi đang làm tất cả để thoát ra. Tôi đang được một bác sĩ tâm thần ở New York điều trị.
- Vậy đây không phải là lần đầu tiên cô sử dụng ma túy?
- Không, thưa quý tòa.
- Vậy là cô thường xuyên sử dụng ma túy?
- Không, thưa quý tòa. Tôi không nói như thế.
- Tuy nhiên, cảnh sát đã tìm thấy một lượng lớn ma túy trên người cô.
Dakota cúi đầu. Jerry và Cynthia Eden cảm thấy dạ dày quặn lên trong bụng: nếu vị thẩm phán này biết được bất cứ điều gì liên quan đến Tara Scalini, con gái họ sẽ gặp rắc rối lớn.
- Cô làm nghề gì? Cooperstin hỏi.
- Ngay lúc này, tôi không làm gì đáng kể, Dakota thừa nhận.
- Tại sao thế?
Dakota òa khóc. Cô muốn nói hết với ông, kể với ông về Tara. Cô đáng bị đi tù. Bởi vì cô không thể kiềm chế để trả lời câu hỏi, Cooperstin nói tiếp:
- Thú thật với cô, thưa cô, là trong báo cáo của cảnh sát có một điểm khiến tôi rất băn khoăn.
Tất cả cùng im lặng trong một lát. Jerry và Cynthia cảm thấy tim họ như sắp vỡ tung trong lồng ngực: vị thẩm phán này biết rõ mọi chuyện. Dakota cầm chắc phải đi tù. Nhưng Cooperstin lại hỏi:
- Tại sao cô lại đến trước ngôi nhà đó để hít ma túy? Ý tôi muốn nói, bất kỳ ai khác cũng sẽ vào rừng, ra bãi biển, đến một nơi nào đó kín đáo, đúng không? Nhưng cô, cô lại đừng xe trước cổng một ngôi nhà. Cứ thế, ngay giữa lối đi. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi cư dân ở đó báo cho cảnh sát. Cô cũng thừa nhận rằng chuyện đó là rất lạ, đúng không?
Jerry và Cynthia không trụ thêm được nữa, họ đã quá đỗi căng thẳng.
- Đó từng là ngôi nhà nghỉ mát của chúng tôi, Dakota giải thích. Bố mẹ tôi đã phải bán nó đi vì tôi.
- Vì cô ư? Vị thẩm phán tò mò nhắc lại.
Jerry những muốn đứng dậy, hoặc hét lên, hoặc làm bất cứ điều gì để cắt ngang phiên tòa. Nhưng Benjamin Graff đã làm việc đó thay ông. Vị luật sư nhân lúc Dakota ngập ngừng để trả lời thay cho cô:
- Thưa quý tòa, khách hàng của tôi chỉ đang tìm cách chuộc lỗi và hòa nhập trở lại với cuộc đời. Hành vi ngày hôm qua của cô ấy là một lời kêu cứu, rõ ràng là thế. Cô ấy dừng xe đằng trước ngôi nhà đó bởi vì cô ấy biết rằng chúng tôi sẽ tìm thấy cô ấy ở đó. Cô ấy biết rằng bố mình sẽ nghĩ đến việc tới đó tìm con. Dakota và bố cô ấy đã đến Orphea để tìm lại chính mình, rồi sau đó sẽ thoải mái quay trở lại với cuộc đời.
Thẩm phán Cooperstin rời mắt khỏi Dakota, ông quan sát vị luật sư một lát rồi lại trở lại với bị cáo.
- Có đúng thế không, cô gái?
- Vâng, cô thì thầm.
Thẩm phán có vẻ hài lòng với câu trả lời. Jerry kín đáo thở dài nhẹ nhõm: cú lừa của Benjamin Graff thật hoàn hảo.
- Tôi tin rằng cô xứng đáng nhận được cơ hội thứ hai, Cooperstin tuyên bố. Nhưng lưu ý: cô phải nắm lấy cơ hội này. Bố cô có mặt ở đây không?
Jerry lập tức đứng dậy.
- Tôi đây, thưa quý tòa. Tôi là Jerry Eden, bố của Dakota.
- Thưa ông Eden, tất cả những chuyện này cũng liên quan đến ông, bởi vì tôi hiểu rằng ông đến đây cùng con gái để tìm lại chính mình.
- Đúng là như thế, thưa quý tòa.
- Ông đã dự định sẽ làm gì tại Orphea cùng con gái ông?
Câu hỏi khiến Jerry bất ngờ. Nhận thấy sự lưỡng lự của ông, thẩm phán nói thêm:
- Thưa ông, đừng có nói với tôi là ông đến đây chỉ để con gái ông kéo lê nỗi chán nản bên bể bơi của một khách sạn đấy chứ?
- Không, thưa quý tòa. Chúng tôi… chúng tôi muốn cùng tham gia buổi diễn thử tuyển diễn viên cho vở kịch. Khi Dakota còn nhỏ, con bé vẫn thường nói muốn trở thành diễn viên. Thậm chí ba năm trước, con bé còn ghi danh tham gia một vở kịch.
Thẩm phán suy nghĩ một lát. Ông quan sát Jerry, rồi đến Dakota, sau đó tuyên bố:
- Được rồi. Cô Eden, tôi tạm hoãn hình phạt với điều kiện cô cùng bố cô tham gia vở kịch.
Jerry và Cynthia nhìn nhau, nhẹ nhõm.
- Cảm ơn, thưa quý tòa, Dakota mỉm cười với thẩm phán. Tôi sẽ không làm ông thất vọng.
- Tôi hy vọng là thế, cô Eden ạ. Chúng ta phải nói rõ với nhau: nếu cô không làm tròn bổn phận, hoặc nếu cô bị bắt gặp tàng trữ ma túy một lần nữa, tòa sẽ không khoan hồng nữa đâu. Hồ sơ của cô sẽ do tòa án bang xử lý. Nói cho thật rõ ràng, điều đó có nghĩa là trong trường hợp tái diễn, cô sẽ đến thẳng nhà tù, trong nhiều năm liền.
Dakota hứa hẹn rồi nhào vào vòng tay bố mẹ. Họ quay về Khách sạn bên hồ. Dakota mệt nhoài, và vừa ngồi xuống ghế xô pha trong phòng suite, cô đã ngủ thiếp đi. Jerry dẫn Cynthia ra hàng hiên để được yên tĩnh trò chuyện với nhau.
- Hay là em ở lại cùng bố con anh? Cả gia đình sẽ có thời gian bên nhau.
- Anh đã nghe thẩm phán nói rồi đấy, Jerry, chỉ có anh và Dakota thôi.
- Chẳng có gì ngăn cản em ở lại đây với bố con anh…
Cynthia lắc đầu:
- Không, anh không hiểu rồi. Em không thể dành thời gian cho gia đình, bởi vì lúc này em có cảm giác chúng ta không còn là một gia đình nữa. Em… em không còn sức nữa, Jerry ạ. Em không còn nghị lực. Đã nhiều năm liền anh để mặc em giải quyết mọi chuyện. Đúng là anh chi trả toàn bộ cuộc sống của hai mẹ con, Jerry ạ, và em chân thành cảm ơn anh về điều đó, đừng coi em là kẻ vô ơn. Nhưng lần cuối cùng anh để tâm đến gia đinh này là khi nào, ngoại trừ khía cạnh tài chính? Suốt từng ấy năm anh để mặc em một mình chèo lái tất cả, sao cho cái gia đình này được yên ổn. Còn anh, anh chỉ biết đi làm. Và không một lần, Jerry ạ, không một lần nào anh hỏi xem em thế nào. Em làm thế nào để giải quyết mọi chuyện. Không một lần, Jerry ạ, không một lần nào anh hỏi xem em có hạnh phúc không. Anh suy đoán, anh nghĩ rằng ở Saint- Barth hoặc trong một căn hộ nhìn ra Central Park, chắc chắn người ta phải hạnh phúc. Không một lần, Jerry ạ, không một lần anh hỏi em cái câu hỏi chết tiệt đó.
- Thế còn em? Jerry hỏi lại. Em có bao giờ hỏi xem anh có hạnh phúc không chưa? Em có bao giờ hỏi anh xem cái công việc chết tiệt kia, cái công việc mà Dakota và em ghét cay ghét đắng ấy, phải chăng anh cũng ghét nó?
- Điều gì ngăn cản anh từ chức chứ?
- Sở dĩ anh làm tất cả những việc đó, Cynthia ạ, chỉ là để mang lại cho hai mẹ con một cuộc đời như mơ ước. Mà xét cho cùng hai mẹ con không hề muốn.
- Ồ, thật vậy sao, Jerry? Anh sắp nói với em rằng anh thích căn phòng trọ gia đình kia hơn là ngôi nhà của chúng ta bên bờ biển chăng?
- Có thể thế lắm, Jerry thì thầm.
- Em không tin!
Cynthia lặng lẽ ngắm nhìn chồng trong một lát. Rồi bà nói vời ông bằng giọng nghẹn ngào:
- Em cần anh sửa chữa lại gia đình chúng ta, Jerry ạ. Anh đã nghe thẩm phán nói rồi đấy: lần tới, Dakota sẽ phải vào tù. Anh sẽ làm thế nào để đảm bảo rằng sẽ không có lần tới, hả Jerry? Anh sẽ làm thế nào để bảo vệ con gái anh khỏi chính con bé, và ngăn cản để nó khỏi phải vào tù?
- Cynthia, anh…
Bà không để ông nói hết câu.
- Jerry ạ, em quay về New York đây. Em để anh lại đây, với nhiệm vụ giúp con gái chúng ta hồi phục. Đây là tối hậu thư đấy. Hãy cứu Dakota. Hãy cứu con bé, nếu không em sẽ từ bỏ anh. Em không thể sống như thế này nữa.
- Chính là ở đây, Jesse ạ, Derek bảo tôi rồi chỉ vào trạm xăng cũ kỹ ở tận cuối đường Penfield Road.
Tôi đánh tay lái để rẽ vào con đường trải bê tông, rồi đỗ xe đằng trước cửa hàng tối om. Lúc này là 23 giờ 15 phút. Không có người nào trực bơm xăng: nơi này như thể bị bỏ hoang.
Bên ngoài, không khí vẫn ngột ngạt mặc dù trời đã khuya. Bên trong trạm xăng, điều hòa phả ra một luồng không khí lạnh giá. Chúng tôi bước đi giữa các giá bày tạp chí, đồ uống và khoai tây chiên, đến tận quầy thanh toán, nơi một người đàn ông tóc bạc đang xem ti vi, khuất sau một tủ kính bày những thanh sô cô la. Ông chào tôi, mắt vẫn không rời màn hình.
- Bơm nào thế? Ông hỏi.
- Tôi không đến để bơm xăng, tôi trả lời và giơ tấm thẻ sĩ quan cảnh sát ra.
Ông lập tức tắt ti vi.
- Có chuyện gì thế? Ông vừa hỏi vừa đứng dậy.
- Ông có phải là Marty Connors không?
- Đúng, chính tôi đây. Có chuyện gì thế?
- Thưa ông Connors, chúng tôi đang điều tra về cái chết của thị trưởng Gordon.
- Thị trưởng Gordon ư? Nhưng chuyện xảy ra cách đây hai chục năm rồi kia mà.
- Theo các thông tin tôi có được, có lẽ ông đã chứng kiến điều gì đó vào tối hôm ấy.
- Đúng, chính xác là thế. Nhưng hồi ấy tôi đã kể với cảnh sát, và họ bảo tôi là chuyện đó chẳng có ý nghĩa gì.
- Tôi cần biết ông đã nhìn thấy điều gì.
- Một chiếc xe màu đen lao hết tốc lực. Nó chạy đến từ phía Penfield Road, và đi về hướng Sutton Street. Thẳng tắp. Lao như tên bắn. Lúc đó tôi đang bơm xăng, nên chỉ kịp nhìn thấy nó lướt qua.
- Ông có nhận ra dòng xe không?
- Đương nhiên. Một chiếc xe tải nhỏ, dòng xe Ford E-150, với một hình vẽ kỳ quặc đằng sau.
Derek và tôi nhìn nhau: chính xác là hồi đó Tennenbaum cũng lái một chiếc Ford E-150. Tôi liền hỏi:
- Ông có nhìn thấy lái xe là ai không?
- Không, chẳng nhìn thấy gì cả. Ngay lúc đó, tôi đã nghĩ là bọn thanh niên đang chơi trò rồ dại.
- Và chính xác lúc đó là mấy giờ?
- Khoảng 19 giờ, nhưng giờ chính xác thì tôi không biết. Có thể là 19 giờ đúng, cũng có thể là 19 giờ 10 phút. Anh biết đấy, mọi chuyện chỉ xảy ra trong một tích tắc, và tôi không thực sự để ý cho lắm. Chỉ sau này, khi biết được chuyện xảy ra ở nhà ông thị trưởng, tôi mới tự nhủ có lẽ có mối hên hệ gì đó. Và tôi đã gọi cho cảnh sát.
- Ông đã nói chuyện đó với ai? Ông có nhớ tên viên cảnh sát đó không?
- Có chứ, tất nhiên, đích thân trưởng đồn cảnh sát đã đến hỏi chuyện tôi. Đồn trưởng Kirk Harvey.
- Thế rồi…?
- Tối đã kể với ông ta đúng như vừa kể với anh, và ông ta nói rằng chuyện đó chẳng có liên quan gì với vụ điều tra cả.
Đúng là Lena Bellamy đã nhìn thấy chiếc xe tải nhỏ của Ted Tennenbaum đang ở đằng trước nhà của thị trưởng Gordon vào năm 1994. Lời chứng của Marty Connors, người đã nhận ra cùng chiếc xe đó chạy tới từ hướng Penfield Road, khẳng định với chúng tôi điều đó. Thế tại sao Kirk Harvey lại giấu chúng tôi thông tin này?
Rời khỏi cửa hàng ở trạm xăng, chúng tôi ở lại bãi đỗ xe một lúc lâu. Derek trải tấm bản đồ thành phố ra, và chúng tôi nghiên cứu hành trình của chiếc xe tải nhỏ, theo lời Marty Connors.
- Chiếc xe đã đi theo đường Sutton Street, Derek vừa nói vừa dùng ngón tay vạch vào đường đó trên bản đồ, mà đường Sutton Street thì nối vào đầu đường phố chính.
- Nếu anh còn nhớ, thì tối biểu diễn mở màn Liên hoan sân khấu, đầu phố chính bị cấm xe cộ, ngoại trừ một lối đi trên đầu phố, dành cho các xe được phép đến Nhà hát lớn.
- Được phép, ý cậu muốn nói là có giấy phép đi qua hoặc giấy phép dừng mà nhân viên trực cứu hỏa được cấp vào tối đó?
Hồi ấy, chúng tôi đã băn khoăn tìm hiểu liệu có người nào đó nhớ ra là đã từng nhìn thấy Tennenbaum đi qua trạm kiểm soát đường bộ trên phố chính, địa điểm cho phép tiếp cận Nhà hát lớn, hay không. Nhưng kết quả điều tra của chúng tôi với các tình nguyện viên và cảnh sát thay ca nhau ở trạm kiểm soát đã cho thấy nơi đó lộn xộn đến mức chẳng ai nhìn thấy gì cả. Chính thành công của Liên hoan sân khấu đã biến nó trở thành nạn nhân của chính nó: phố chính đông đặc người, các bãi đỗ xe quá tải. Tất cả ê kíp kiểm soát đã bị choáng ngợp. Các yêu cầu giải tỏa đám đông không duy trì được lâu: mọi người bắt đầu đỗ xe bất cứ chỗ nào, và đi bộ ở tất cả những nơi còn chỗ trống, phá hỏng các thảm hoa. Thế nên, hoàn toàn không thể biết được người nào đã đi qua trạm kiểm soát, và vào giờ nào.
- Vậy là Tennenbaum đã đi qua lối Sutton Street, rồi quay trở lại Nhà hát lớn, chính xác như chúng ta từng nghĩ, Derek bảo tôi.
- Nhưng tại sao Harvey lại chưa từng nói gì với chúng ta? Nhờ lời chứng đó, có lẽ chúng ta đã tóm cổ Tennenbaum sớm hơn rất nhiều. Phải chăng Harvey muốn hắn thoát tội?
Marty Connors đột ngột hiện ra ở ngưỡng cửa rồi chạy về phía chúng tôi:
- May quá, các anh vẫn còn ở đây, ông nói với chúng tôi, tôi vừa nhớ ra một chi tiết: hồi đó tôi nói về chiếc xe với một người khác.
- Người đó là ai vậy? Derek hỏi.
- Tôi không còn nhớ tên anh ta. Nhưng tôi biết anh ta không phải là người ở đây. Trong cái năm tiếp theo năm xảy ra vụ án mạng, anh ta thường xuyên quay trở lại Orphea. Anh ta nói là đang tiến hành cuộc điều tra của riêng mình.