JESSE ROSENBERG Chủ nhật ngày 27 tháng Bảy năm 2014 Ngày hôm sau đêm biểu diễn khai mạc

Sự Thật Vụ Mất Tích Nữ Nhà Báo Stephanie Mailer

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 9 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2 - 2
Hoang Tàn Chủ Nhật Ngày 27 Tháng Bảy Thứ Tư Ngày 30 Tháng Bảy Năm 2014

❊ ❊ ❊

7 giờ sáng. Bầu trời đã sáng lên trên thành phố Orphea. Suốt đêm không ai ngủ.

Trung tâm thành phố chỉ còn là cảnh hoang tàn. Đường phố chính bị phong tỏa hoàn toàn, vẫn còn bị chặn bởi những chiếc xe cấp cứu, rải rác cảnh sát và ngập ngụa những đống đồ đạc đủ loại do đám khán giả bỏ lại trong cơn hoảng loạn khổng lồ sau khi tiếng súng nổ vang trong Nhà hát lớn.

Trước tiên là giai đoạn hành động. Đến tận nửa đêm, các nhóm can thiệp của cảnh sát đã miệt mài phong tỏa toàn bộ khu vực, nhằm tìm kiếm kẻ bắn súng. Tốn công vô ích. Ngoài ra còn phải bảo đảm an ninh trong thành phố, tránh tình trạng các cửa hàng bị phá hoại trong cảnh hỗn loạn. Những căn lều cứu hộ đầu tiên đã được dựng lên bên ngoài phạm vi an ninh để sơ cứu cho những người bị thương nhẹ, phần lớn là nạn nhân của cảnh xô đấy, và những người đang bị sốc. Còn về Dakota Eden, cô được vận chuyển bằng máy bay trực thăng đến một bệnh viện ở Manhattan, trong tình trạng rất tồi tệ.

Ngày mới đã rạng, tất cả yên tĩnh trở lại. Phải tìm hiểu chuyện đã xảy ra ở Nhà hát lớn. Kẻ nào đã bắn? Và hắn làm thế nào để mang được một khẩu súng vào trong khán phòng, bất chấp tất cả các biện pháp an ninh mà cảnh sát đã áp dụng?

Ở sở cảnh sát Orphea, nơi cảnh náo động sôi sục còn chưa giảm bớt, Anna, Derek và tôi chuẩn bị hỏi cung toàn bộ đoàn diễn viên, họ chính là những nhân chứng trực tiếp nhất trước các sự kiện. Bị cuốn theo dòng người hoảng loạn, họ đã phân tán khắp thành phố: tìm ra và gom họ lại không phải là việc dễ dàng. Lúc này, họ đã được đưa vào một phòng họp, đang ngủ trên sàn hoặc nằm dài trên chiếc bàn kê giữa phòng, chờ đến lượt mình lấy cung. Chỉ còn thiếu Jerry Eden, ông đã đi cùng Dakota trên máy bay, và Alice Eilmore, cho đến lúc này vẫn chưa tìm thấy cô ta.

Người đầu tiên bị chất vấn là Kirk Harvey, và cuộc thảo luận giữa chúng tôi với ông ta đã xoay theo chiều hướng mà chúng tôi còn lâu mới hình dung được. Kirk không còn ai đứng ra bảo vệ, và chúng tôi bắt đầu đối xử với ông ta không chút nể nang.

- Ông biết điều gì, mẹ kiếp! Derek vừa hét vừa túm lấy Harvey mà lắc. Tôi muốn có một cái tên ngay lập tức, nếu không tôi đập gãy răng ông. Tôi muốn một cái tên! Ngay lập tức!

- Nhưng tôi chẳng biết gì cả, Kirk rên rỉ, tôi thề đấy.

Bằng một động tác điên cuồng, Derek xô mạnh ông ta vào tường. Harvey ngã sụp xuống đất. Tôi kéo ông ta dậy rồi để ông ta ngồi vào một chiếc ghế.

- Ông phải nói ra, ngay bây giờ, Kirk ạ, tôi ra lệnh, phải nói hết với chúng tôi. Câu chuyện này đã đi quá xa rồi.

Kirk rũ rượi, ông ta sắp òa khóc đến nơi.

- Dakota thế nào rồi? Ông ta nghẹn ngào hỏi.

- Rất tệ! Derek hét lên. Vì ông đấy!

Harvey đưa hai tay lên ôm đầu, và tôi nói với ông ta bằng giọng cứng rắn nhưng không gây hấn:

- Phải kể hết với chúng tôi, Kirk ạ. Tại sao lại có vở kịch đó? Ông biết điều gì?

- Vở kịch của tôi là một trò lừa bịp, ông ta thì thầm. Tôi chưa bao giờ biết được bất cứ điều gì về danh tính thủ phạm gây ra vụ án mạng giết chết bốn người kia.

- Nhưng hồi ấy ông đã biết rằng chính Meghan Padalin mới là đối tượng bị nhắm đến vào tối 30 tháng Bảy năm 1994, chứ không phải thị trưởng Gordon, đúng không?

Ông ta gật đầu.

- Vào tháng Mười năm 1994, khi cảnh sát bang thông báo rằng Ted Tennenbaum chính là thủ phạm gây ra vụ án mạng giết chết bốn người đó, tôi vẫn cảm thấy nghi ngờ. Bởi vì Ostrovski kể với tôi rằng ông ta đã nhìn thấy Charlotte ngồi sau tay lái chiếc xe tải nhỏ của Tennenbaum, và tôi không thể giải thích được việc đó. Nhưng có lẽ tôi sẽ không tìm hiểu sâu thêm, nếu vài ngày sau hàng xóm sát nhà Gordon không gọi cho tôi: họ vừa phát hiện ra hai vết đạn găm vào cột cửa ga ra nhà họ. Dấu vết không rõ ràng: họ chỉ phát hiện ra khi muốn sơn lại cánh cửa. Tôi liền đến tận nơi, lấy hai viên đạn ra khỏi tường, rồi trực tiếp yêu cầu đội cảnh sát khoa học thuộc cảnh sát bang tiến hành so sánh với những viên đạn tìm thấy trên người các nạn nhân bị sát hại: chúng được bắn ra từ cùng một khẩu súng. Căn cứ vào đường đi của những viên đạn, chúng được bắn ra từ công viên: đó chính là lúc tôi hiểu ra tất cả: chính Meghan là người bị nhắm đến. Kẻ sát nhân đã bắn hụt cô ấy trong công viên, cô ấy bỏ chạy về phía ngôi nhà của ông thị trưởng, hẳn là để tìm người giúp, nhưng đã bị hắn đuổi kịp và bắn chết. Rồi đến lượt gia đình Gordon bị giết bởi vì họ là nhân chứng của vụ giết người.

Tôi nhận ra Harvey từng là một cảnh sát cực kỳ tinh tường.

- Tại sao chúng tôi không được biết chuyện đó? Derek hỏi.

- Hồi ấy tôi đã tìm cách liên hệ với các cậu đến tuyệt vọng, Harvey bào chữa. Tôi gọi điện thoại đến trụ sở cảnh sát bang để gặp cậu và Rosenberg, nhưng hoài công vô ích. Họ nói với chúng tôi là đã có một tai nạn, và hai người bị đình chỉ công việc một thời gian. Khi tôi nói rằng chuyện liên quan đến vụ án mạng giết bốn người, thì họ giải thích với tôi rằng vụ điều tra đã hoàn tất. Tôi liền đến nhà tìm từng người một. Ở nhà cậu, Derek ạ, tôi bị một cô gái tống cổ ra ngoài, cô ấy cầu xin tôi đừng quay lại nữa và hãy để cho cậu yên, nhất là nếu để nói về vụ án này. Rồi tôi đến bấm chuông nhà Jesse, nhiều lần, nhưng không ai mở cửa!

Derek và tôi nhìn nhau, hiểu ra rằng hồi ấy chúng tôi đã đi chệch khỏi vụ việc xa đến mức nào.

- Sau đó, ông đã làm gì? Derek hỏi.

- Xì! Vô cùng tối tệ! Kirk Harvey giải thích. Tôi tóm tắt lại: Charlotte Brown đã bị nhìn thấy sau tay lái chiếc xe tải nhỏ của Ted Tennenbaum vào thời điểm xảy ra vụ án mạng, nhưng Tennenbaum lại là thủ phạm chính thức theo kết luận của cảnh sát bang, thế nên tôi tin chắc rằng đã có nhận định sai lầm về nạn nhân chính. Tệ hơn nữa, tôi không thể nói chuyện đó với bất kỳ ai: các đồng nghiệp của tôi ở sở cảnh sát Orphea không còn nói chuyện với tôi kể từ khi tôi bịa chuyện bố tôi bị ung thư để xin nghỉ phép, còn hai cảnh sát bang phụ trách vụ điều tra - nghĩa là hai cậu - thì mất tích mất tăm. Tình cảnh quả thật là khốn nạn. Tôi liền tìm cách gỡ rối vụ này một mình: tôi điều tra về các vụ án khác mới xảy ra trong vùng. Chẳng có vụ nào cả. Vụ chết người khả nghi duy nhất là một gã đi mô tô tự gây tai nạn trên đoạn đường thẳng ở Ridgesport. Cũng đáng để tìm hiểu. Tôi đã liên hệ với cảnh sát đường bộ, và hỏi thông tin viên cảnh sát phụ trách vụ tai nạn, qua đó tôi biết được rằng một đặc vụ thuộc ATF đã đến hỏi anh ta nhiều câu. Tôi liền liên hệ với đặc vụ ATF đó, ông ấy nói với tôi rằng gã đi xe mô tô đó là một tay anh chị không thể tóm cổ, và ông ấy không cho rằng hắn tự gây ra tai nạn cho mình. Vào thời điểm đó, tôi sợ rằng mình phải dí mũi vào một vụ việc bẩn thỉu liên quan đến các băng nhóm xã hội đen, và đã muốn nói chuyện đó với Lewis Erban, một trong các đồng nghiệp của tôi. Nhưng Lewis không hề đến gặp tôi tại địa điểm đã hẹn. Tôi lại càng đơn độc hơn bao giờ hết, trước một vụ án vượt quá khả năng. Thế nên tôi đã quyết định biến mất.

- Bởi vì ông thấy sợ trước những gì ông đang trên đà phát hiện ra?

- Không, bởi vì tôi quá đơn độc! Đơn độc, các cậu hiểu không? Và tôi không thể chịu nổi cảnh cô đơn ấy. Tôi tự nhủ rằng mọi người sẽ lo lắng nếu không còn gặp tôi. Hoặc muốn biết tại sao tôi lại đột ngột xin thôi việc trong ngành cảnh sát. Hai cậu có biết tôi đã ở đâu trong suốt hai tuần “mất tích” đầu tiên không? Tôi ở nhà tôi! Trong nhà tôi. Chờ ai đó đến bấm chuông và hỏi thăm tin tức của tôi. Nhưng chẳng có ai đến. Kể cả hàng xóm. Không-một-ai. Tôi ở tịt trong nhà, tôi không đi chợ, tôi không ra khỏi nhà. Không một cú điện thoại. Người duy nhất đến thăm tôi là bố tôi, ông mang đến cho tôi mấy món hàng. Ông ngồi với tôi trên chiếc xô pha trong phòng khách suốt nhiều giờ liền. Im lặng. Rồi ông hỏi tôi: “Chúng ta đang chờ đợi điều gì vậy?” Tôi trả lời: “Một ai đó, nhưng con không biết là ai.” Rốt cuộc, tôi đã quyết định sẽ chuyển đến sống ở đầu kia của đất nước, và bắt đầu lại cuộc đời. Tôi tự nhủ rằng đây chính là cơ hội để toàn tâm toàn ý với việc viết một vở kịch. Và còn có chủ đề nào thú vị hơn là vụ án mạng mà tôi cho là vẫn chưa giải quyết được? Một đêm, trước khi rời đi mãi mãi, tôi bí mật đột nhập sở cảnh sát, nơi tôi vẫn còn giữ chìa khóa, và lấy đi toàn bộ hồ sơ điều tra về vụ án mạng giết chết bốn người.

- Nhưng tại sao ông lại thay vào đó dòng chữ: “Đây là nơi ĐÊM ĐEN bắt đầu” Anna hỏi.

- Bởi vì tôi ra đi với ý định một ngày nào đó sẽ trở lại Orphea, khi đã tiến hành điều tra xong, và công bố toàn bộ sự thật. Kể lại mọi chuyện dưới dạng một vở kịch thành công rực rỡ. Tôi đã rời bỏ Orphea như một kẻ khốn khổ, tôi quyết chí quay trở lại nơi đây như một người hùng, và có thể trình diễn vở Đêm đen.

- Tại sao ông lại lấy lại cái tên ấy? Anna hỏi.

- Bởi vì đó sẽ là lời chế giễu tối hậu dành cho tất cả những kẻ từng sỉ nhục tôi. Đêm đen, dưới hình thức ban đầu của nó, không còn tồn tại nữa: các đồng nghiệp của tôi đã phá hủy tất cả các bản nháp và các bản viết tay mà tôi nâng niu cất giữ tại sở cảnh sát, để trả thù cho căn bệnh ung thư giả mạo của bố tôi, và cuốn kịch bản duy nhất còn sót lại, mà tôi đã ký gửi ở hiệu sách, lại nằm trong tay thị trưởng Gordon.

- Làm sao ông biết điều đó? Tôi hỏi.

- Chính Meghan Padalin, hồi ấy đang làm việc ở hiệu sách, là người đã nói với tôi. Chính cô ấy đã gợi ý là tôi nên để một cuốn kịch bản trong căn phòng dành riêng cho các tác giả địa phương. Đôi khi có những nhân vật nổi tiếng ở Hollywood đến hiệu sách, và biết đâu đấy, nó có thể được một nhân vật quan trọng nào đó đọc và đánh giá cao. Nhưng vào trung tuần tháng Bảy năm 1994, sau vụ chơi xỏ của các đồng nghiệp, khi tôi muốn lấy lại cuốn kịch bản ở hiệu sách, thì Meghan nói với tôi rằng thị trưởng Gordon vừa mua nó. Tôi liền đến yêu cầu ông ta trả nó cho tối, nhưng ông ta khẳng định là không còn giữ nó nữa. Tôi đã nghĩ là ông ta muốn hại tôi: ông ta đã đọc vở kịch, và ông ta ghét nó! Thậm chí ông ta còn xé nó trước mặt tôi! Tại sao ông ta lại mua lại cuốn kịch bản ở hiệu sách, nếu không phải là để gây rắc rối cho tôi? Thế nên, khi rời khỏi Orphea, tôi muốn chứng tỏ rằng không điều gì có thể ngăn cản tôi hoàn thành tác phẩm nghệ thuật đó. Các người có thể đốt, chê bai, ngăn cấm, kiểm duyệt: tất cả sẽ tái sinh. Các người tưởng đã hủy hoại được tôi sao? Thế thì tôi đây, mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Tôi đã tưởng tượng như thế đấy. Và tôi giao cho bố tôi nhiệm vụ bán căn nhà, còn tôi thì chuyển đến sống ở California. Với số tiền bán nhà, tôi có điều kiện để chờ đợi một thời gian. Tôi lại chúi mũi vào hồ sơ điều tra. Nhưng tôi hoàn toàn mắc kẹt: tôi cứ quay lòng vòng mãi. Và càng ít tiến triển thì vụ án này lại càng ám ảnh tôi.

- Vậy là ông tìm hiểu về vụ này suốt hai mươi năm nay? Derek hỏi.

- Đúng thế.

- Các kết luận ông đạt được là gì?

- Chẳng có kết luận nào cả. Một bên là vụ tai nạn mô tô, và một bên là Meghan. Đó là tất cả những gì tôi có.

- Ông nghĩ rằng Meghan đang điều tra về vụ tai nạn mô tô của Jeremiah và có thể bị giết vì chuyện đó sao?

- Tôi không biết. Tôi bịa ra chuyện đó để cho vở kịch có nội dung thôi. Tôi tự nhủ đó sẽ là một cảnh mở màn thú vị. Thực sự là có một mối liên hệ giữa Meghan và vụ tai nạn sao?

- Đấy chính là vấn đề, tôi trả lời. Chúng tôi cũng tin chắc như ông là có mối liên hệ giữa cái chết của Meghan và cái chết của Jeremiah Fold, nhưng dường như không có bất cứ mối liên hệ nào giữa Meghan và Jeremiah.

- Các cậu thấy đấy, Kirk thở dài, thực sự là có điều gì đó rất kỳ quặc.

Kirk Harvey không còn chút gì giống với tay đạo diễn điên cuồng và không thể chịu nổi trong những tuần vừa qua. Tại sao ông ta lại gách vác vai trò này? Tại sao lại có vở kịch không đầu không cuối này? Tại sao lại có những hành động và lời nói ngông cuồng đến thế? Khi tôi hỏi ông ta câu đó, ông ta trả lời, như thể đó là một sự hiển nhiên.

- Thì để sống, Rosenberg! Để tồn tại! Để thu hút sự chú ý! Để rốt cuộc người ta cũng nhìn nhận tôi! Tôi tự nhủ mình sẽ chẳng bao giờ tìm được giải pháp cho vụ điều tra này. Tôi đang ở đáy hố. Sống trong một cái xe cắm trại, không gia đình, không bạn bè. Chỉ gây ấn tượng với những diễn viên tuyệt vọng bằng cách khiến họ lóa mắt vì một niềm vinh quang chẳng bao giờ đến. Tôi sẽ trở thành thứ gì? Khi Stephanie Mailer đến gặp tôi tại Los Angeles hồi tháng Sáu, tôi đã hy vọng sẽ hoàn tất được vở kịch. Tôi kể cho cô ấy nghe tất cả những gì tôi biết, vì nghĩ rằng cô ấy cũng sẽ làm như thế.

- Vậy là Stephanie có biết rằng chính Meghan Padalin mới là người bị nhắm đến?

- Đúng thế. Chính tôi đã tiết lộ với cô ấy.

- Vậy cô ấy biết điều gì?

- Tôi không biết. Khi hiểu ra rằng tôi không biết kẻ nào là thủ phạm, cô ấy đã muốn rời đi ngay lập tức. Cô ấy bảo tôi: “Không thể để mất thời gian thêm nữa.” Tôi đòi cô ấy phải chia sẻ với tôi ít nhất là những thông tin mà cô ấy nắm giữ, nhưng cô ấy từ chối. Chúng tôi đã có một trận cãi cọ nho nhỏ ở Beluga Bar. Vì muốn giữ cô ấy lại, tôi đã túm lấy túi xách của cô ấy, làm nó dốc hết ra đất. Những tài liệu điều tra, chiếc bật lửa, chùm chìa khóa có treo một khối cầu màu vàng kỳ quặc. Tôi giúp cô ấy nhặt chúng lên, cố gắng nhân lúc đó đọc các ghi chép của cô ấy. Nhưng không thành công. Rồi sau đó, đến lượt cậu xuất hiện, Rosenberg tử tế ạ. Lúc đầu, tôi định không tiết lộ với cậu bất kỳ điều gì: tôi sẽ không để mình bị gài bẫy hai lần đâu. Thế rồi tôi tự hỏi có thể đây là cơ hội cuối cùng để quay lại Orphea và biểu diễn trong đêm khai mạc Liên hoan sân khấu.

- Mà không hề có vở kịch thực thụ?

- Tôi chỉ muốn niềm vinh quang ấy kéo dài chừng mười lăm phút thôi. Đó là tất cả những gì quan trọng nhất. Và tôi đã có được. Trong suốt hai tuần người ta nói về tôi. Tôi là trung tâm chú ý, tôi được lên báo, tôi điều khiển các diễn viên và biến họ thành người như tôi mong muốn. Tôi để nhà phê bình vĩ đại Ostrovski mặc quần sịp và bắt ông ấy hét lên bằng tiếng La tinh, ông ấy đã từng nói rất nhiều điều tồi tệ về tôi nhờ vào danh tiếng của mình từ năm 1994. Rồi tôi cũng làm như thế với gã Gulliver rác rưởi: ông ta đã sỉ nhục tôi đến thế nào vào năm 1994. Cũng nên gặp cả Gulliver nữa. Phải để cả ông ta cũng bị mọi người nhìn thấy trong bộ dạng cởi trần, bế theo một con chồn gu lô nhồi bông. Tôi đã trả thù, tôi đã được công nhận. Tôi đã sống.

- Nhưng ông hãy giải thích cho tôi nghe, Kirk: phần cuối vở kịch chỉ toàn những trang giấy trắng. Tại sao vậy?

- Tôi không lo chuyện đó. Tôi nghĩ rằng các cậu sẽ tìm ra thủ phạm trước đêm biểu diễn khai mạc. Tôi trông cậy ở các cậu. Tôi chỉ dừng ở việc thông báo cái danh tính mà ai nấy đều đã biết, rồi sẽ than thở rằng các cậu đã làm hỏng hết mọi chuyện.

- Nhưng chúng tôi không tìm ra hắn.

- Do đó tôi đã dự kiến để Dakota ngừng lời ở đó, và có lẽ sẽ tiếp tục cho biểu diễn Vũ điệu xác chết. Tôi sẽ sỉ nhục Ostrovski và Gulliver suốt nhiều giờ liền. Thậm chí có thể đó sẽ là một vở diễn không hồi kết, kéo dài đến tận nửa đêm. Tôi sẵn sàng làm bất cứ chuyện gì.

- Nhưng ông sẽ bị coi là một gã ngốc, Anna nhận xét.

- Cũng không bằng thị trưởng Brown. Liên hoan sân khấu của ông ta sẽ thất bại, khán giả có thể sẽ đòi hoàn tiền vé. Ông ta sẽ mất mặt, và vụ bầu cử cũng vì thế mà hỏng bét.

- Vậy là ông làm tất cả những chuyện đó để gây hại cho ông ấy?

- Tất cả những chuyện đó là để tôi không còn cô đơn nữa. Bởi vì nói cho cùng, Đêm đen là nỗi cô đơn sâu thẳm của tôi. Nhưng tất cả những gì tôi đạt được chỉ là làm hại mọi người. Và bây giờ, vì lỗi của tôi, mà cô gái trẻ Dakota tuyệt vời đó đang trong cảnh thập tử nhất sinh.

Tất cả im lặng một lát. Cuối cùng tôi nói với Kirk:

- Ông nói đúng về mọi chuyện. Chúng tôi đã tìm lại được vở kịch của ông. Thị trưởng Gordon cất giữ nó trong một cái két ở ngân hàng. Trong kịch bản, dưới dạng mật mã, có ghi tên của Jeremiah Fold, kẻ đã chết vì tai nạn mô tô. Như vậy, đúng là có một mối liên hệ giữa Jeremiah, thị trưởng Gordon và Meghan Padalin. Ông đã hiểu ra tất cả, Kirk ạ. Ông đã nắm giữ tất cả các miếng ghép hình trong tay. Lúc này, chỉ cần ghép chúng lại với nhau.

- Hãy để tôi giúp các cậu, Kirk nài nỉ. Đó sẽ là cách để tôi chuộc lỗi.

Tôi gật đầu.

- Với điều kiện ông phải cư xử đúng mực.

- Tôi hứa, Jesse ạ.

Trước tiên, chúng tôi muốn tìm hiểu xem tối qua, ở Nhà hát lớn, đã xảy ra chuyện gì.

- Lúc đó tôi đang ở rìa sân khấu và quan sát Dakota, Kirk nói với chúng tôi. Bên cạnh tôi còn có Alice Filmore và Jerry Eden. Bỗng nhiên tiếng súng vang lên. Dakota gục xuống. Jerry và tôi vội lao đến bên cô ấy, ngay sau đó Charlotte cũng chạy đến.

- Ông có nhìn thấy những phát súng đó bắn ra từ đâu không? Derek hỏi. Từ hàng ghế đầu? Hay từ rìa sân khấu?

- Tôi không biết. Khán phòng chìm trong bóng tối mà đèn chiếu lại rọi vào chúng tôi. Dù sao đi nữa, kẻ bắn súng cũng ở phía khán giả, chắc chắn là thế, bởi vì Dakota bị bắn vào vùng ngực, mà khi đó cô ấy đang đứng quay mặt ra khán phòng. Điều tôi không hiểu nổi, đó là tại sao kẻ đó lại mang được súng vào khán phòng. Cảnh sát đã áp dụng những biện pháp an ninh rất gắt gao cơ mà.

Để tìm cách trả lời cho câu hỏi ấy, và trước khi hỏi cung các thành viên khác của đoàn kịch, chúng tôi họp với thiếu tá McKenna, Montagne và thị trưởng Brown trong phòng hội thảo, để tổng kết tình hình lần đầu tiên.

Đến lúc này, chúng tôi tuyệt nhiên vẫn không có bất cứ chỉ dẫn nào về kẻ bắn súng. Không một dấu vết. Trong Nhà hát lớn không có camera, và các khán giả được hỏi đều không nhìn thấy gì cả. Tất cả đều nhắc lại cùng một điệp khúc: khán phòng hoàn toàn chìm trong bóng tối khi tiếng súng vang lên. “Trong phòng tối om, họ nói. Có hai tiếng nổ, cô gái ngã xuống, rồi sau đó tất cả mọi người đều hoảng loạn. Nữ diễn viên tội nghiệp ấy thế nào rồi?”

Chúng tôi không biết tin tức gì.

McKenna cho chúng tôi biết rằng không tìm thấy khẩu súng cả trong khán phòng lẫn trong các con phố lân cận.

- Có lẽ hung thủ đã nhân lúc hoảng loạn để trốn khỏi Nhà hát lớn rồi vứt bỏ khẩu súng đâu đó, McKenna nói với chúng tôi.

- Chúng tôi không thể ngăn mọi người đổ ra ngoài, Montagne nói thêm, như thể anh ta muốn vớt vát uy tín. Nếu làm thế có thể họ sẽ giẫm đạp lên nhau, có thể sẽ có người chết. Không ai có thể tưởng tượng rằng mối nguy hiểm lại đến từ bên trong, vì toàn bộ khán phòng đã được kiểm soát an ninh.

Chính ở điểm đó mà, mặc dù không có bất cứ manh mối cụ thể nào, chúng tôi vẫn tiến được một bước chắc chắn trong vụ điều tra.

- Làm sao mà một người mang theo vũ khí lại có thể đi vào bên trong Nhà hát lớn? Tôi hỏi.

- Tôi cũng không giải thích nổi, McKenna trả lời, các cảnh sát phụ trách bảo vệ cửa vào đã quen với những sự kiện rất nhạy cảm.

Họ từng đảm bảo an ninh cho các hội thảo quốc tế, các lễ duyệt binh, những lần di chuyển của nguyên thủ quốc gia đến New York. Quy trình rất chặt chẽ: khán phòng được rà soát trước bằng đội chó nghiệp vụ chuyên đánh hơi thuốc nổ và súng, rồi sau đó đặt dưới chế độ giám sát toàn diện. Không ai xâm nhập trong đêm được. Sau đó, toàn bộ khán giả và đoàn diễn viên đều phải đi qua bên dưới các máy dò kim loại trước khi vào trong khán phòng.

Chắc chắn chúng tôi đã bỏ sót điều gì đó. Chúng tôi phải tìm hiểu xem tại sao lại có một khẩu súng trong khán phòng. Để biết rõ ngọn ngành, McKenna cho gọi viên sĩ quan thuộc cảnh sát bang, người chịu trách nhiệm đảm bảo an ninh cho khán phòng. Người này nhắc lại với chúng tôi quy trình mà thiếu tá McKenna đã giải thích với họ, chính xác đến từng từ.

- Sau khi rà soát, khán phòng tiếp tục được đảm bảo an ninh trong suốt thời gian sau đó, viên sĩ quan nói với chúng tôi. Tôi có thể để tổng thống Mỹ vào đó cũng được ấy chứ.

- Và sau đó tất cả mọi người đều bị kiểm tra? Derek hỏi.

- Tất cả mọi người, không ngoại lệ, viên sĩ quan khẳng định.

- Chúng tôi không bị kiểm tra, Anna nhận xét.

- Các cảnh sát có xuất trình phù hiệu thì không bị lục soát, viên sĩ quan thừa nhận.

- Có nhiều cảnh sát vào khán phòng không? Tôi hỏi.

- Không đâu, đại úy ạ, chỉ có một nhóm cảnh sát mặc thường phục, vài gã ở chỗ chúng tôi. Chủ yếu là đi lại giữa khán phòng và bên ngoài để chắc chắn là mọi việc đều ổn.

-Jesse, McKenna lo lắng lên tiếng, đừng có nói với tôi là bây giờ cậu đang nghi ngờ một cảnh sát đấy nhé.

- Tôi chỉ muốn tìm hiểu, thế thôi, tôi trả lời rồi yêu cầu viên sĩ quan trình bày chi tiết toàn bộ quá trình lục soát.

Để trả lời chính xác ở mức cao nhất, anh ta cho gọi người phụ trách đội chó nghiệp vụ, để người này giải thích cho chúng tôi biết họ đã tiến hành công việc như thế nào.

- Chúng tôi có ba vùng, người phụ trách đội chó nghiệp vụ giải thích. Hội trường, khán phòng, phần hậu trường, bao gồm cả phòng thay đồ của các diễn viên. Chúng tôi luôn tiến hành tuần tự hết vùng này đến vùng khác, để chắc chắn là không bị nhầm lẫn. Có một số diễn viên đang diễn tập trong khán phòng, do đó chúng tôi bắt đầu từ các hành lang và các lô. Đó là phần công việc quan trọng nhất, bởi vì có một hầm ngầm khá rộng. Khi đã làm xong mọi việc, chúng tôi yêu cầu các diễn viên ngừng tập trong lúc chúng tôi lục soát khán phòng, để lũ chó khỏi phân tâm.

Thế lúc đó các diễn viên đi đâu? Tôi hỏi.

- Vào hậu trường. Họ có thể quay trở lại khán phòng, nhưng trước hết phải đi qua máy dò kim loại để đảm bảo rằng vùng đó vẫn được an toàn. Như vậy, họ có thể đi từ vùng này sang vùng khác không vấn đề gì.

Derek vỗ trán:

- Các diễn viên có bị lục soát khi đến Nhà hát lớn ngày hôm đó không? Anh hỏi.

- Không. Nhưng toàn bộ túi xách của họ đều bị chó nghiệp vụ đánh hơi trong các phòng thay đồ, và sau đó họ đi qua máy dò kim loại.

- Thế nhưng, Derek liền nói, nếu một diễn viên mang theo một khẩu súng khi đến Nhà hát lớn, và giữ nó trong suốt buổi tập, trong khi các anh đang lục soát trong các phòng thay đồ, thì sau đó hắn có thể quay lại phòng thay đồ của hắn, nơi các anh đã lục soát trước đó, và hắn có thể để vũ khí lại trong phòng mình, được coi là một vùng an toàn. Sau đó, anh ta có thể quay trở lại khán phòng mà không làm ảnh hưởng đến cái máy dò kim loại.

- Trong trường hợp như thế thì đúng, lũ chó nghiệp vụ có thể đã bị bỏ qua. Chúng tôi đã không cho chúng đánh hơi các diễn viên.

- Vậy đó là cách khẩu súng được đưa vào Nhà hát lớn, tôi nói. Mọi chuyện đã được hoàn tất từ hôm qua. Các biện pháp đảm bảo an ninh đã được công bố trên báo chí, kẻ nổ súng đã có thời gian để dự kiến mọi chuyện. Vũ khí đã ở trong Nhà hát lớn rồi. Hung thủ chỉ cần lấy nó trong phòng thay đồ của mình vào hôm qua, trước khi vở kịch bắt đầu.

- Vậy là hung thủ đó có thể là một trong các diễn viên? Thị trưởng Brown thất kinh hỏi.

- Không còn chút nghi ngờ nào nữa, Derek gật đầu.

Kẻ nổ súng ở đó, trong căn phòng bên cạnh. Ngay trước mắt chúng tôi.

Lúc đầu, chúng tôi cho từng diễn viên thực hiện một bài test để phát hiện thuốc súng: nhưng chẳng ai có dấu vết gì cả trên tay lẫn trên quần áo. Chúng tôi cũng test các trang phục biểu diễn, cử các nhóm đi lục soát các phòng thay đồ, các phòng khách sạn và nhà ở của từng người. Nhưng cũng tốn công vô ích. Trên thực tế, việc chúng tôi không tìm ra bất cứ dấu vết nào có thể giải thích được bằng việc hung thủ đeo găng tay, thậm chí là khoác áo choàng khi nổ súng. Sau đó, hắn đã có thời gian để vứt bỏ khẩu súng, thay quần áo, tắm gội.

Kirk nói ông ta ở cùng Alice và Jerry khi tiếng súng vang lên. Chúng tôi có thể liên lạc với Jerry Eden qua điện thoại: Dakota vẫn ở trong phòng cấp cứu suốt những giờ qua. Chưa hề có tin tức gì. Nhưng Jerry khẳng định rằng Alice và Kirk ở bên cạnh ông vào thời điểm con gái ông bị bắn. Chúng tôi có thể dựa vào lời chứng của Jerry Eden, người được coi là hoàn toàn đáng tin cậy: ông ta không liên quan gì đến các sự kiện năm 1994, và khó mà hình dung được ông ta lại muốn hạ sát chính con mình. Điều này cho phép loại bỏ luôn cả Kirk và Alice Filmore ra khỏi danh sách tình nghi.

Sau đó, chúng tôi dành cả ngày để hỏi cung các diễn viên khác. Nhưng không thu được kết quả gì. Không ai nhìn thấy gì cả. Còn về vị trí của mỗi người khi tiếng súng vang lên, thì tất cả đều khẳng định họ ở đâu đó trong hậu trường, bên cạnh Kirk Harvey. Nhưng không ai nhớ là đã nhìn thấy người nào khác. Quả thật là đau đầu.

Đến cuối buổi chiều, chúng tôi vẫn chưa tiến triển được gì.

- Sao lại thế, các anh chưa có thông tin gì ư? Thiếu tá McKenna giận dữ khi chúng tôi thông báo tình hình với ông.

- Không có dấu vết thuốc súng trên bất kỳ người nào. Và không ai nhìn thấy gì cả, tôi giải thích.

- Nhưng bởi vì rất có khả năng một trong số họ là kẻ đã nổ súng, chúng ta đều biết thế còn gì!

- Tôi hoàn toàn ý thức được điều đó, thưa sếp. Nhưng không có bất cứ yếu tố nào có thể xem là bằng chứng. Không có bất cứ dấu vết nào. Cứ như thể họ bao che cho nhau vậy.

- Thế các cậu đã hỏi cung tất cả bọn họ chưa? McKenna hỏi tiếp.

- Tất cả, ngoại trừ Alice Filmore.

- Thế cô ta đâu? McKenna cáu kỉnh.

- Đơn giản là không thể tìm thấy cô ta, Derek trả lời. Điện thoại của cô ta tắt máy. Steven Bergdorf nói rằng họ đã cùng rời khỏi Nhà hát, và cô ta có vẻ vô cùng hoảng sợ. Hình như cô ta có nói đến chuyện quay về New York. Nhưng cô ta đã được loại ra khỏi diện tình nghi nhờ Jerry Eden. Hai người họ ở bên cạnh Harvey khi súng nổ. Tuy nhiên, ông có muốn chúng tôi vẫn liên hệ với cảnh sát New York không?

- Không, McKenna nói, không cần thiết phải làm thế, vì cô ta đã được loại khỏi diện tình nghi rồi. Chỉ làm việc với những người thuộc diện khả nghi đã đủ việc cho các cậu rồi.

- Nhưng chúng ta sẽ làm gì với các diễn viên còn lại đây? Tôi hỏi. Chúng ta đã giữ họ ở đây mười hai giờ đồng hồ rồi.

- Nếu các cậu không có bằng chứng gì chống lại họ, thì hãy để họ đi đi. Chúng ta không có cách nào khác. Nhưng hãy yêu cầu họ đừng rời khỏi bang New York.

- Sếp có tin tức gì về Dakota không? Anna hỏi.

- Ca phẫu thuật đã hoàn tất. Các bác sĩ đã lấy ra từ cơ thể cô ấy hai viên đạn, và đang cố gắng khắc phục tổn thương chúng gây ra cho các cơ quan nội tạng. Nhưng cô ấy bị mất máu rất nhiều, nên đang được đặt vào cơn hôn mê nhân tạo. Các bác sĩ sợ rằng cô ấy không qua khỏi đêm nay.

- Ông có thể yêu cầu phân tích các viên đạn đó không, thưa sếp? Tôi hỏi.

- Tôi sẽ làm thế nếu các cậu muốn. Để làm gì vậy?

- Tôi đang tự hỏi liệu chúng có bắn ra từ một khẩu súng của cảnh sát không?

Im lặng hồi lâu. Rồi McKenna đứng dậy khỏi ghế và kết thúc cuộc họp.

- Các cậu nghỉ ngơi đi, ông nói. Trông các cậu chẳng khác gì xác sống cả.

Về đến nhà, Anna khó chịu khi nhìn thấy Mark, chồng cũ của cô, đang ngồi dưới vòm cổng.

- Mark đấy à? Nhưng anh làm trò quái quỷ gì ở đây thế?

- Tất cả bọn anh đều lo muốn chết, Anna ạ. Trên ti vi chỉ toàn nói về vụ nổ súng ở Nhà hát lớn. Em không trả lời cả các cuộc gọi lẫn các tin nhắn của bọn anh.

- Chỉ còn thiếu nước này nữa thôi đấy, Mark ạ. Em vẫn khỏe, cảm ơn anh. Anh có thể về nhà anh được rồi.

- Khi biết thông tin về chuyện xảy ra ở đây, anh đã nghĩ đến cửa hiệu kim hoàn Sabar.

- Ôi trời, xin anh đấy, đừng có bắt đầu nữa!

- Mẹ em cũng nói với anh như thế!

- Thế thì lẽ ra anh nên kết hôn với bà ấy, hai người có vẻ hợp nhau quá đấy.

Mark vẫn ngồi, tỏ ý cho cô thấy là anh không có ý định rời đi. Anna mệt mỏi ngồi phệt xuống bên cạnh anh.

- Anh cứ tưởng em đến Orphea vì niềm hạnh phúc được ở trong một thành phố không xảy ra chuyện gì bao giờ, anh nói.

- Đúng thế mà, Anna trả lời.

Mark cười cay đắng.

- Cứ như thể hồi ấy em gia nhập đơn vị giải cứu con tin ở New York chỉ để khiến anh phát cáu.

- Đừng có lúc nào cũng đóng vai nạn nhân nữa, Mark ạ. Em nhắc lại để anh nhớ rằng khi gặp anh thì em đã là cảnh sát rồi.

- Đúng thế, Mark thừa nhận. Và thậm chí anh còn phải nói rằng anh thích em một phần cũng vì điều đó. Nhưng đã bao giờ em thử đặt mình vào vị trí của anh, dù chỉ trong một thoáng? Một hôm, anh gặp một người phụ nữ tuyệt vời: xuất sắc, xinh đẹp rạng ngời, thú vị. Thậm chí anh còn biết đến niềm hạnh phúc là được kết hôn với cô ấy. Nhưng rồi người phụ nữ tuyệt vời đó sáng nào cũng mặc áo chống đạn để đi làm. Và khi cô ấy đi qua cửa căn hộ, khẩu súng bán tự động giắt ở thắt lưng, anh tự hỏi liệu anh có gặp lại cô ấy còn sống không? Và mỗi hồi còi hụ, mỗi lời cảnh báo, mỗi lần ti vi thông báo có đấu súng hoặc có tình huống khẩn cấp, anh lại tự hỏi không biết cô ấy có bị kẹt giữa tất cả những chuyện đó không. Và khi có người bấm chuông: phải chăng là một hàng xóm ghé qua xin muối? Hay là cô ấy quên chìa khóa? Hay là một sĩ quan mặc đồng phục đến thông báo với anh rằng vợ anh đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ? Rồi còn nỗi sợ hãi ngày một tăng khi cô ấy về muộn! Và nỗi lo lắng gặm nhấm anh khi cô ấy không gọi cho anh trong khi anh đã gửi cho cô ấy cả đống tin nhắn! Lại còn giờ giấc làm việc bất thường và luôn thay đổi, khiến cô ấy đi ngủ khi anh đã dậy, khiến anh phải sống ngược với quy luật! Lại còn những cuộc gọi trong đêm tối cùng những lần đi thực hiện nhiệm vụ vào nửa đêm! Lại còn làm thêm giờ! Lại còn những kỳ nghỉ cuối tuần bị hủy bỏ! Cuộc sống của anh khi ở bên em là thế đấy, Anna ạ.

- Đủ rồi đấy, Mark ạ!

Nhưng anh không có ý định dừng tại đó.

- Anh hỏi em điều này, Anna. Khi rời bỏ anh, em có bao giờ dành ra vài phút để thử đặt mình vào địa vị của anh không? Và cố gắng thấu hiểu những gì anh có thể đã phải trải qua? Khi lẽ ra chúng ta sẽ gặp nhau tại nhà hàng để ăn tối sau giờ làm, và bởi vì quý cô có việc khẩn cấp vào phút chót, anh đã chờ suốt nhiều giờ liền, để rồi về nhà đi ngủ mà không ăn gì. Và số lần em nói với anh “Em đang đến đây” rồi rốt cuộc lại không đến bởi vì có việc gì đó chưa xong. Nhưng lạy Chúa, trong số hàng ngàn cảnh sát tạo nên cái Sở cảnh sát New York chết tiệt ấy, em không bao giờ tìm thấy, chỉ rất hãn hữu thôi, bất cứ đồng nghiệp nào để phó thác công việc và đến ăn tối cùng anh sao? Bởi vì anh đây, trong khi quý cô Anna đang bận cứu thế giới, trong số tám triệu cư dân New York, anh cảm thấy mình như người số tám triệu, kẻ được người ta quan tâm đến sau cùng! Nghề cảnh sát đã cướp mất vợ của anh!

- Không đâu, Mark ạ, Anna phản bác, chính anh mới là người để mất em. Chính anh mới là người không biết cách giữ em lại!

- Hãy cho anh thêm một cơ hội, anh xin em.

Anna lưỡng lự hồi lâu rồi trả lời:

- Em đã gặp một người khác. Một người phù hợp. Em nghĩ là em yêu anh ấy rồi. Em xin lỗi.

Mark nhìn cô chăm chăm hồi lâu, trong bầu không khí hoàn toàn im ắng và lạnh lẽo. Dường như anh bị suy sụp. Cuối cùng anh thốt lên, đầy cay đắng:

- Có lẽ em nói đúng, Anna ạ. Nhưng đừng quên rằng sau những gì đã xảy ra tại cửa hiệu kim hoàn Sabar, em không còn là chính em nữa. Và lẽ ra chúng ta đã có thể tránh được việc đó! Tối đó, anh đã không muốn em đi! Anh đã yêu cầu em đừng nghe cuộc điện thoại chết tiệt đó, em còn nhớ không?

- Em còn nhớ.

- Nếu em không đến cửa hiệu kim hoàn ấy, nếu chỉ một lần em nghe anh, thì có lẽ ngày nay chúng ta vẫn sống bên nhau.

một tờ giấy đã ố vàng vì thời gian, trên đó có một dòng chữ đánh máy: Nơi đây ĐÊM ĐEN bắt đầu. Chẳng khác nào điểm khởi đầu của một trò chơi săn tìm kho báu. Chi tiết cụ thể duy nhất mà chúng tôi có được là cú điện thoại gọi đi từ nhà hàng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.