Tân Tam Quốc Sách

Lượt đọc: 399 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Rồng cuộn hổ ngồi, thắng cảnh Đông Nam — Đông Nam (Thượng)

❊ ❊ ❊

I. Thế đối đầu Nam-Bắc và căn bản Đông Nam

Sự hình thành cục diện này thực sự có cơ sở từ địa lý của nó.

Trong lịch sử, thế đối đầu Nam-Bắc phần lớn là sự đối đầu giữa các chính quyền dân tộc thiểu số ở phương Bắc và chính quyền người Hán ở phương Nam. Ngoại trừ cuộc đối đầu ngắn ngủi giữa Tôn Ngô và Tào Ngụy (Tây Tấn), các cuộc đối đầu Nam-Bắc khác từng xuất hiện trong lịch sử Trung Quốc như Đông Tấn Nam triều với Thập lục quốc Bắc triều, Nam Tống với Kim, Nam Tống với Mông Cổ (Nguyên), thì các chính quyền phương Bắc đều do các dân tộc thiểu số thiết lập. Thế đối đầu về chính trị và quân sự dựa trên nền tảng môi trường địa lý cũng như phương thức sản xuất, sinh hoạt của mỗi bên.

Lãnh thổ Trung Quốc trải dài từ Nam chí Bắc, khí hậu, môi trường và thói quen con người ở hai miền khá khác biệt, khiến cho sở trường quân sự của đôi bên cũng có sự khác biệt lớn.

Các dân tộc thiểu số phương Bắc lấy du mục và săn bắn làm nghề nghiệp, nam giới đều tinh thông cưỡi ngựa bắn cung, ngày thường du mục, săn bắn, khi chiến tranh thì xuất chinh, có thể nói là binh dân hợp nhất. Trong chiến lược chiến thuật, họ lấy đột kích đường dài và kỵ binh dã chiến làm sở trường, chú trọng phát huy tính tích cực của cá nhân, người người tự tác chiến. Họ sinh trưởng ở phương Bắc, tính tình quen khí hậu lạnh, không chịu được nóng bức, cho nên các cuộc tác chiến nhắm vào phương Nam chủ yếu diễn ra vào mùa thu đông. Mùa thu đông khí trời mát mẻ, ngựa béo, mặt đất cứng cáp, rất có lợi cho kỵ binh rong ruổi.

Người Hán phương Nam lấy nông nghiệp làm nghề chính, trình độ văn minh xã hội tương đối cao, xã hội có mức độ tổ chức hóa cao, việc sử dụng thủy lợi là đặc điểm chính của xã hội họ. Cách trị quân, dụng binh của họ cũng thích ứng với các đặc điểm về môi trường, phương thức sản xuất và sinh hoạt này. Trị quân lấy tổ chức, trật tự và kỷ luật làm sở trường. Các đội quân tương đối nổi tiếng trong lịch sử phương Nam như Bắc Phủ Binh, Nhạc Gia Quân, Thích Gia Quân, Tương Quân đều nổi danh nhờ kỷ luật nghiêm minh, huấn luyện tinh nhuệ. Trong chiến lược chiến thuật, họ chú trọng mưu lược, chú trọng đội ngũ trận pháp, giỏi sử dụng thành quách làm căn cứ phòng thủ, sử dụng đường sông ở vùng bình nguyên để vận chuyển, thiết lập thủy sư. Các cuộc dụng binh chủ động của phương Nam nhắm vào phương Bắc chủ yếu diễn ra vào mùa xuân hè. Mùa xuân hè, đang là mùa mưa ở vùng gió mùa phía Đông Trung Quốc, sông ngòi nước dâng, thuận lợi cho việc sử dụng đường sông để vận chuyển, tiếp viện nhân lực vật lực.

Có thể nói đôi bên Nam-Bắc mỗi bên đều có sở trường riêng, kẻ tám lạng người nửa cân. Xét đặc điểm khí hậu và địa hình vùng Trung Nguyên, đôi bên đều có lợi và hại ngang nhau về thiên thời và địa lợi. Có lợi cho phương Nam thì bất lợi cho phương Bắc, có lợi cho phương Bắc thì bất lợi cho phương Nam. Đôi bên đều có cơ hội phát huy sở trường của mình, lợi dụng sở đoản của đối phương.

Trong thời kỳ đối kháng Nam-Bắc tương đối ổn định, đôi bên thường đạt đến thế cân bằng. Cuộc đối kháng giữa đôi bên ổn định trên một đường trung gian nào đó giữa Trường Giang và Hoàng Hà. Bất kỳ bên nào vượt qua đường trung gian này đều sẽ đối mặt với khó khăn lớn, cũng sẽ gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ. Đường trung gian này, ở khu vực phía Đông thường là Hoài Hà — mặc dù thế lực phương Nam thỉnh thoảng có thể tiến xa tới Hoàng Hà, thế lực phương Bắc đôi khi cũng có thể cho ngựa uống nước ở Trường Giang, nhưng đôi bên đại thể ổn định trên tuyến Hoài Hà; ở khu vực phía Tây, thì thường lấy Tần Lĩnh làm giới hạn.

Đồng bằng Hoàng-Hoài là chiến trường chính của đôi bên. Vùng này sự thay đổi theo mùa khá rõ rệt, vừa có đồng bằng khoáng đạt, lại vừa có sông ngòi dọc ngang. Mùa thu đông, mặt đất cứng cáp, đồng bằng khoáng đạt thích hợp cho kỵ binh phương Bắc rong ruổi, có lợi cho phương Bắc phát huy sở trường kỵ binh dã chiến của mình; mùa xuân hè, sông ngòi nước dâng, có lợi cho phương Nam phát huy sở trường thủy chiến và thủ thành của mình. Do đó, bất kể từ thời cơ hay địa lợi, đôi bên đều có lợi và hại ngang nhau, vì vậy dễ rơi vào cuộc giằng co kéo dài.

Tập hợp được sở trường của phương Nam thì không đâu bằng Đông Nam. Đông Nam nằm ở vùng á nhiệt đới, mưa nhiều, sông ngòi dọc ngang. Trường Giang, Hoài Hà chảy theo hướng Đông-Tây, chắn ngang giữa Nam và Bắc, cộng thêm các chi lưu của chúng, tạo thành một mạng lưới sông ngòi dày đặc, đủ để làm giảm lực xung kích của kỵ binh phương Bắc. Từ góc độ ngăn chặn lực xung kích của kỵ binh phương Bắc mà nói, Trường Giang quả thực là thiên hiểm khó vượt qua. Phương Nam có thể lợi dụng những đường sông này để xây dựng căn cứ quân sự, chốt giữ các tuyến đường trọng yếu, phát huy sở trường thủy chiến và thủ thành của mình. Trong toàn bộ khu vực phương Nam, không nơi nào có nhiều sông ngòi có thể lợi dụng như vùng Đông Nam. Ngoài ra, mùa mưa ở phương Nam ẩm ướt, người và gia súc phương Bắc đều không thích nghi được. Như vậy, nếu thế lực phương Bắc vượt qua Hoài Hà tiến sâu xuống phía Nam, sẽ phải đối mặt với những khó khăn to lớn về khí hậu và môi trường, thấy mình rơi vào tình thế bất lợi là vứt bỏ sở trường, đi vào sở đoản.

Điều kiện kinh tế của khu vực Đông Nam cũng khá tốt. Hạ lưu Trường Giang vùng Thái Hồ là một khu vực kinh tế giàu có, dân cư đông đúc. Thời Tây Hán, Ngô vương Lưu Tỵ từng "đúc núi nấu biển, quốc dụng phú nhiêu" (đúc tiền từ đồng trong núi, nấu nước biển làm muối, tài chính quốc gia dư dả), dựa vào thực lực kinh tế hùng hậu để chiêu dụ những kẻ lưu vong trong thiên hạ; Tư Mã Thiên mô tả tình hình kinh tế thời đó, gọi là "Đất Ngô, phía Đông có cái lợi của muối biển, cái lợi đồng của núi Chương, cái lợi của ba sông năm hồ, cũng là một đô hội của vùng Giang Đông." [Chú: Sử Ký, quyển một trăm hai mươi chín, Hóa Thực Liệt Truyện]. Sự khai phá vùng Giang Nam vốn tương đối muộn hơn so với phương Bắc, nhưng mỗi lần phương Bắc biến động đều dẫn đến lượng lớn lưu dân di cư về phương Nam, lưu dân mang kỹ thuật sản xuất tiên tiến tới phương Nam, thúc đẩy sự khai phá vùng Giang Nam và sự phát triển kinh tế Giang Nam.

Biến động cuối thời Đông Hán đã tạo ra làn sóng lưu dân di cư phương Nam đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, sau "Vĩnh Gia chi loạn", đại tộc và bách tính Trung Nguyên lại một lần nữa di cư về phương Nam với số lượng lớn. Lưu dân phương Bắc lần lượt di cư về phương Nam, thúc đẩy sự phát triển kinh tế khu vực Đông Nam. Đến thời Lưu Tống của Nam triều, Dương Châu vốn được gọi là "quyết điền hạ hạ" (đất đai thuộc hạng kém nhất) trong sách "Vũ Cống" đã hiện ra cảnh tượng vô cùng phồn hoa. Thẩm Ước thời Nam triều từng thuật lại sự phồn vinh của kinh tế vùng Giang Nam, cảm thán: "Giang Nam làm quốc gia, thịnh vượng thay!" Ông ca ngợi vùng Hội Kê "đai biển cạnh hồ, ruộng tốt cũng vài chục vạn khoảnh, đất đai màu mỡ, mỗi mẫu giá một lượng vàng, đất Vu, Đỗ (của Quan Trung) không thể sánh bằng." Ca ngợi Dương Châu "có cái màu mỡ của toàn vùng Ngô, có cái lợi của cá muối gỗ quý, sung mãn tám phương, cái giàu có của tơ lụa vải vóc, đủ áo mặc cho thiên hạ." [Chú: Tống Thư, quyển năm mươi bốn, Liệt truyện thứ mười bốn "Sử thần viết"]. Thời Lưu Tống Đại Minh, mật độ dân số Dương Châu gấp mấy lần các đại châu khác, chỉ một quận Hội Kê thôi cũng có thể sánh ngang với các đại châu như Kinh, Giang thời bấy giờ. Thời Tùy Đường, tài phú Đông Nam là chỗ dựa trọng yếu cho Quan Trung, sự phú quý của Dương Châu thường đứng đầu thiên hạ, thời đó gọi là "Dương Nhất Ích Nhị". Nhà Tùy mở Đại Vận Hà, nhà Đường quản lý tào vận (vận tải đường thủy), đều có ý đồ chuyển tài phú Đông Nam để cung cấp cho Quan Trung. Ba đời Nguyên, Minh, Thanh định đô ở Bắc Kinh, kinh tế cũng dựa vào Đông Nam, Đại Vận Hà được khơi thông lại, chuyển tài phú Đông Nam để cung cấp cho kinh sư. Khu vực Đông Nam sông ngòi dọc ngang, giao thông vận chuyển thuận tiện, vật dụng thiếu thốn cũng dễ dàng được bổ sung, cộng thêm đường biển, phạm vi giao thông thương mại của nó càng rộng lớn hơn. Những điều kiện này đã cung cấp nền tảng kinh tế cho địa vị chính trị, quân sự của Đông Nam.

Khu vực Đông Nam cổ đại dân phong mạnh mẽ ưa võ thuật, đây cũng là điều kiện mà các chính quyền lập túc (đứng chân) ở Đông Nam có thể dựa vào. "Hán Thư" Địa lý chí chép về phong tục Đông Nam rằng: "Vua Ngô, Việt đều ưa dũng cảm, cho nên dân chúng đến nay vẫn ưa dùng kiếm, coi thường cái chết, dễ phát động." [Chú: Hán Thư, quyển hai mươi tám, Địa lý chí hạ]. Nước Ngô, Việt thời Xuân Thu có thể tranh bá với các nước lớn Trung Nguyên như Tề, Tấn; Hạng Vũ dẫn tám nghìn tử đệ Giang Đông mà khiến người Tần mất mật, đều là nhờ dân phong mạnh mẽ ưa võ thuật của vùng Đông Nam. "Tùy Thư" Địa lý chí thuật lại dân phong Đông Nam, nói vùng Hoài Nam "tính người đều nóng nảy mạnh mẽ, khí khái quả quyết, che giấu tai họa, coi cái chết như về nhà, chiến tranh thì quý cái mưu kế gian trá, đây là phong tục cũ của họ. Từ sau khi bình định nước Trần, phong tục đó biến đổi khá nhiều, chuộng sự chất phác, ưa sự tiết kiệm, tang ma hôn nhân, đều dần dần theo lễ nghĩa." Vùng Kinh Khẩu "người ở đó vốn đều tinh thông chiến trận, được gọi là tinh binh của thiên hạ. Phong tục lấy ngày năm tháng năm làm trò chơi đọ sức, mỗi bên so sánh mạnh yếu đối địch, sự việc giống như giảng võ." Vùng Chiết Đông và Giang Tây cũng khá giống như vậy. [Chú: Tùy Thư, quyển ba mươi mốt, Địa lý chí hạ]. Đặc biệt là vùng Hoài Nam, là nơi lưu dân các đời di cư qua lại, lưu dân phần lớn kết tộc mà đi, quen với chiến loạn, trong cảnh phiêu bạt lầm than, tổ chức vũ trang để tự bảo vệ, đây là một lực lượng vũ trang tiềm tàng có thể lợi dụng. Thời Đông Tấn, Tạ Huyền, Lưu Dụ từng dẫn Bắc Phủ Binh nhiều lần phá vỡ cường địch phương Bắc chính là sự thể hiện của lực lượng này.

Các chính quyền xây dựng ở Đông Nam, phần lớn có thể thống nhất nửa vách núi Giang Nam, mà hình thành cục diện đối đầu Nam-Bắc, điều này cũng có quan hệ rất lớn với cơ sở xã hội của chính quyền Đông Nam.

Chính quyền Đông Nam phần lớn là chính quyền di cư, là nơi bảo tồn chính thống trong chính trị truyền thống Trung Quốc và văn hóa tiên tiến Trung Nguyên. Sau khi chính quyền Trung Nguyên di cư đến Đông Nam, văn hóa chính trị xã hội tiên tiến Trung Nguyên liền cấu thành nền tảng quan trọng cho sự cai trị của họ. Sau khi dân tộc thiểu số phương Bắc chiếm đóng khu vực phía Bắc, các chính quyền Đông Nam phần lớn có thể hợp nhất xã hội phương Nam, thống nhất nửa vách núi Giang Nam, đây là một nhân tố rất quan trọng. Tuy nhiên, trong đó còn tồn tại vấn đề kết hợp giữa thế lực di cư và thế lực địa phương. Tôn Ngô lập quốc ở Giang Đông, chính là kết quả của sự hòa lưu giữa tập đoàn Hoài Tứ và các đại tộc Giang Đông; nhà Tấn di cư về phía Nam, cũng là nhờ các đại tộc Vương, Tạ, Dữu, Hoàn... của Trung Nguyên kết hợp với các đại vọng tộc địa phương như Cố, Hạ... mới có thể đứng vững gót chân ở Giang Đông.

Từ khi nhà Tấn di cư về phương Nam, sĩ tộc và bách tính Trung Nguyên lũ lượt tránh nạn về Giang Đông, mang văn hóa và kỹ thuật sản xuất tiên tiến của Trung Nguyên vào Giang Đông, Đông Tấn Nam triều bảo giữ Giang Nam, chống chọi phương Bắc mấy trăm năm, sĩ tộc di cư là một nhân tố ổn định quan trọng. Theo sau việc người Nữ Chân và Mông Cổ lần lượt vào làm chủ Trung Nguyên, vương triều Triệu Tống lại di cư về phương Nam, Đông Nam lại trở thành nơi hội tụ của văn hóa chính trị xã hội Trung Nguyên. Lưu phong lan tỏa, ảnh hưởng sâu xa. Thời Minh, Thanh và cận đại, nhân tài Đông Nam thịnh vượng, khiến người ta chú mục.

Chính quyền di cư mang theo những ưu thế kể trên, nhưng bản thân chính quyền di cư lại là sản phẩm bị cường địch bức bách, buộc phải di cư, cho nên không tránh khỏi tính đặc trưng là cầu an và không cầu tiến. Trong lịch sử, các chính quyền đứng chân ở Đông Nam phần lớn lấy khẩu hiệu Bắc phạt, thu phục Trung Nguyên, nhưng Bắc phạt thành công thực sự lại rất ít. Các chính quyền đứng chân ở Đông Nam phần lớn có thể thống nhất nửa vách núi Giang Nam, hình thành cục diện đối đầu Nam-Bắc với phương Bắc, mà rất ít khi có thể thống nhất thiên hạ (chỉ có Chu Nguyên Chương thời Minh là một ngoại lệ), chính là có liên quan đến tính đặc trưng này của chính quyền di cư.

II. Hệ thống phòng ngự Giang-Hoài

Cục diện phòng ngự của toàn bộ Đông Nam là một hệ thống phòng ngự đa tầng dựa vào Trường Giang và Hoài Hà.

Các chính quyền xây dựng ở Đông Nam phần lớn lấy Kiến Khang (nay là Nam Kinh) làm trọng tâm chính trị. Kiến Khang là đô hội vùng Giang Nam thực sự có điều kiện trời phú. Kiến Khang giữ nơi hiểm yếu, gần sông, giao thông thuận tiện, phía Tây thông Ba Thục, Kinh Tương, phía Đông nối liền Tam Ngô, phía Bắc nhìn ra Lưỡng Hoài. Ba Thục, Kinh Tương đủ để che chắn thượng du; Tam Ngô giàu có, đủ để cung cấp hỗ trợ nhân lực, vật lực; vùng Lưỡng Hoài là nơi tiến lui công thủ, để công để thủ, đều nên lấy Kiến Khang làm căn bản.

Bản thân Kiến Khang "phía trước dựa vào đại giang, phía Nam giáp núi cao, dựa cao giữ sâu, hình thế thắng độc nhất." Xung quanh thành Nam Kinh cổ đại có rất nhiều đồi núi, như Chung Sơn, Phúc Chu Sơn, Mạc Phủ Sơn. Tôn Ngô ban đầu định đô tại đây, Gia Cát Lượng khen rằng: "Kim Lăng, Chung Sơn rồng cuộn, Thạch Đầu hổ ngồi, nhà của bậc đế vương vậy." [Chú: Đọc sử phương dư kỷ yếu, quyển hai mươi, Giang Nam nhị]. Nhà Tấn di cư về phương Nam, cũng định đô tại đây, sau đó, Tống, Tề, Lương, Trần thay thế nối tiếp nhau, nhưng đều không đổi lối cũ; thời Lương trải qua "Hầu Cảnh chi loạn", đổi đô về Giang Lăng, nhưng rất nhanh đã mất vào tay Tây Vệ. Nam Đường trong Ngũ đại thập quốc cũng định đô tại đây; sau khi nhà Minh thống nhất toàn quốc, cũng định đô tại đây, sau dù dời đô về Bắc Kinh, nhưng Kim Lăng vẫn luôn là bồi đô. Trong thời cận đại, Nam Kinh còn từng làm đô thành của Thái Bình Thiên Quốc và Trung Hoa Dân Quốc.

Phương Nam dựa vào để đối kháng phương Bắc, chủ yếu là dựa vào Trường Giang và Hoài Hà. Sự hình thành một số trọng trấn quân sự của phương Nam, đều dựa trên cơ sở này. (Xem hình 2-3-1)

Trường Giang chảy dọc từ Đông sang Tây, kéo dài mấy ngàn dặm, cộng thêm các chi lưu của nó, kết nối một vùng rộng lớn. Trường Giang thông phía trên tới Ba Thục, ở giữa qua Kinh Tương, phía Đông nối Ngô Việt, thượng hạ du giữa các bên hô ứng lẫn nhau, khiến cho thế cục của toàn bộ khu vực phương Nam được toàn vẹn. Ngoài ra, bản thân Trường Giang phát huy tác dụng là thiên hiểm ngăn chặn lực xung kích của kỵ binh phương Bắc. Ngụy Văn Đế Tào Phi nam chinh Tôn Ngô, quân đến Quảng Lăng, đối mặt với Trường Giang, không thể không cảm thán: "Ngụy tuy có võ kỵ ngàn đàn, không nơi dùng đến, chưa thể mưu tính được." [Chú: Tư Trị Thông Giám, quyển bảy mươi, Ngụy Kỷ nhị]. Năm sau, Ngụy chủ lại đại cử phạt Ngô, thấy nước sông sóng cuộn, lại cảm thán nói: "Than ôi! Quả là trời dùng để hạn chế Nam Bắc vậy." [Chú: Tư Trị Thông Giám, quyển bảy mươi, Ngụy Kỷ nhị]. Hai lần thân chinh, đều chỉ đành rút quân quay về. Phù Kiên phạt Tấn, cho rằng mình có binh hùng một triệu, "ném roi xuống sông, đủ để cắt đứt dòng chảy", nhưng cuối cùng không thể vượt qua Trường Giang mà diệt Tấn.

Hoài Hà và Trường Giang tương biểu lý (tương hỗ), phát huy tác dụng che chắn kép. Cố Tổ Vũ tổng kết rằng: "Từ khi Nam Bắc phân chia bờ cõi, thường lấy Trường Hoài làm bức màn che của đại giang." Lại nói: "Giang Nam lấy Giang Hoài làm hiểm, mà người giữ sông không bằng giữ Hoài. Nam được Hoài thì đủ để chống Bắc, Bắc được Hoài thì Nam không thể bảo toàn được nữa." [Chú: Đọc sử phương dư kỷ yếu, quyển mười chín, Giang Nam nhất]. Nếu nói sự phòng ngự của Trường Giang là thuần bị động, thì Hoài Hà lại kiêm cả hai ý nghĩa phòng thủ và chủ động tấn công. Phương Nam đối kháng phương Bắc, nói về thủ, thì giữ Hoài Hà có thể mượn vùng đất rộng lớn Hoài Nam làm chiều sâu; nói về công, thì xuất quân Hoài Bắc có thể tiến chiếm Trung Nguyên. Chi lưu Hoài Hà phần lớn bắt nguồn từ Hoài Bắc, đặc biệt là Tứ Thủy, chỉ cần khơi thông một chút, là có thể nối liền Hoàng Hà, từ đó khiến cho lực lượng phương Nam có thể vươn xa tới lưu vực Hoàng Hà; mà chỉ giữ Trường Giang, thì một nơi bị đột phá, đã là vào thẳng tâm phúc của nó. Những người bảo giữ Giang Nam qua các đời, đối với mối quan hệ môi răng của Hoài Hà và Trường Giang này đều có bàn luận nhiều, những nghị luận "giữ sông ắt trước hết phải giữ Hoài" cũng có thể thấy khắp nơi. Như Lữ Chỉ thời Nam Tống nói: "Hiểm yếu của Giang Hoài, là trời đất dùng để hạn chế Nam Bắc vậy. Từ xưa lập quốc ở Nam, thì giữ sông làm nhà cửa, phòng Hoài làm hàng rào." [Chú: Lữ Chỉ, "Đông Nam phòng thủ lợi tiện" của Giang Hoài biểu lý luận].

Việc giữ Trường Giang trọng yếu ở sự tương hỗ thượng hạ, việc giữ Hoài Hà trọng yếu ở sự hô ứng trong ngoài.

Lữ Chỉ thời Nam Tống dâng lên triều đình Tống "Đông Nam phòng thủ lợi tiện", đặc biệt viết ba luận: "Kiến Khang căn bản luận", "Giang lưu thượng hạ luận", "Giang Hoài biểu lý luận", kiến nghị: Lập đô Kiến Khang làm nền tảng hưng vương; đồn binh Giang Lăng, Tương Dương, Vũ Xương, Cửu Giang để củng cố thế thượng hạ du; giữ sông để trị trong, phòng Hoài để trị ngoài, biểu Hoài mà lý Giang, như vậy thì Trung Nguyên có thể khôi phục.

Sơn Đông và Kinh Tương giống như hai cánh của Đông Nam, che chắn cho toàn bộ hệ thống phòng ngự Giang-Hoài. Sơn Đông đủ để che chắn thượng du Hoài Tứ, Kinh Tương đủ để che chắn thượng du Giang Hán. Người xưa từng nói: "Muốn giữ Đông Nam, ắt phải tranh Giang Hán; muốn dòm ngó Trung Nguyên, ắt phải được Hoài Tứ. Có Giang Hán mà không có Hoài Tứ, nước ắt yếu; có Hoài Tứ mà không có thượng du Giang Hán, nước ắt nguy." [Chú: Đọc sử phương dư kỷ yếu, Giang Nam phương dư kỷ yếu tự]. Phía Bắc giữ Sơn Đông để củng cố thượng du Hoài Tứ, phía Tây bảo vệ Kinh Tương để củng cố thượng du Trường Giang, đó là thái thế tốt nhất cho người bảo giữ Đông Nam.

(I) Tuyến phòng thủ Trường Giang

Phương Nam bố trí một loạt trọng trấn quân sự dọc tuyến Trường Giang, chốt giữ mấy điểm trọng yếu của Trường Giang. Chỗ dễ vượt sông ở hạ lưu Trường Giang cổ đại có hai nơi, một là bến Thải Thạch, một là bến Qua Châu, phân chia ở thượng hạ du Kiến Khang. Địch ở Giang Bắc muốn vượt sông đánh Kiến Khang phần lớn xuất phát từ hai nơi này. Phía Kiến Khang cũng tăng cường phòng thủ hai bến đò này, ở bờ Nam của hai bến đò này, bố trí binh lực trấn thủ, lập thành trọng trấn, đó chính là Kinh Khẩu (nay là Trấn Giang) và Thải Thạch. Đối diện qua sông với hai nơi này, phía Đông là Quảng Lăng (nay là Dương Châu), phía Tây là Lịch Dương (nay là huyện Hòa), kỵ binh phương Bắc nam hạ, thường đông tới Quảng Lăng, tây tới Lịch Dương, nên cũng lập trọng trấn để giữ nó.

Kinh Khẩu tức thành phố Trấn Giang, Giang Tô ngày nay. Sớm nhất Tôn Quyền từng lập đô tại đây, gọi là Kinh Thành, sau khi dời đô về Kiến Nghiệp, lập thành Kinh Khẩu Trấn. Từ đó về sau, người lập quốc ở Đông Nam, đều lấy Kinh Khẩu làm trọng trấn. Thời Đông Tấn, Hi Giám kinh doanh Kinh Khẩu để dập tắt loạn Tô Tuấn, liền xây thành hùng trấn, gọi là Bắc Phủ, cùng với Tây Phủ Lịch Dương, Nam Châu Cô Thục cùng nhau củng cố kinh sư Kiến Khang. Hoàn Ôn chuyên quyền triều chính, coi Kinh Khẩu như cái gai trong mắt, từng nói: "Rượu Kinh Khẩu có thể uống, binh có thể dùng." [Chú: Tư Trị Thông Giám, quyển một trăm lẻ hai, Tấn Kỷ hai mươi bốn]. Mưu sĩ dưới trướng là Hi Siêu hiểu ý ông, ám thị cha là Hi Âm nhường Kinh Khẩu cho Hoàn Ôn. Tạ Huyền đánh bại đại quân Tiền Tần Phù Kiên ở Phì Thủy, dựa vào chủ yếu là Bắc Phủ Binh ở Kinh Khẩu. Hoàn Huyền từ Kinh Châu xuôi dòng về Đông, triều đình vốn muốn dựa vào Bắc Phủ Binh để chống lại Hoàn Huyền, nhưng tướng Bắc Phủ là Lưu Lao Chi dẫn binh đầu hàng Hoàn Huyền, Hoàn Huyền liền vào Kiến Khang. Hoàn Huyền thay Tấn, Lưu Dụ, Lưu Nghị... chiếm Kinh Khẩu khởi binh phản Huyền, nhờ đó mà diệt Huyền. Sau khi Lưu Dụ thay Tấn, vì thấy rõ địa vị chiến lược của Kinh Khẩu, từng di chiếu: "Kinh Khẩu là nơi đất hiểm yếu, cách đô ấp rất gần, tự mình không phải tông thất thân thích, không được ở đó" [Chú: Tống Thư, quyển bảy mươi tám, Lưu Diên Tôn Liệt Truyện]. Suốt triều Lưu Tống, bất kể là trong cuộc chiến chống kẻ địch phương Bắc, hay là trong cuộc đấu tranh chính trị nội bộ, địa vị của Kinh Khẩu đều vô cùng trọng yếu. Cuối thời Lương, Trần Bá Tiên trấn Kinh Khẩu, Vương Tăng Biện giữ Kiến Khang, Trần Bá Tiên tập kích giết Vương Tăng Biện, cũng là từ Kinh Khẩu mà phát, và cuối cùng lập nước Trần thay nhà Lương. Trong cuộc chiến nhà Tùy diệt Trần, Hạ Nhược Bật từ Qua Châu tiên phong vượt Trường Giang, chiếm Kinh Khẩu, cùng với Hàn Cầm Hổ vượt sông từ Thải Thạch bao vây Kiến Khang. Đầu thời Đường, Lý Tử Thông đánh Thẩm Pháp Hưng, cũng từ Quảng Lăng vượt sông chiếm Kinh Khẩu. Nam Tống cầu an ở Đông Nam, đại thần chủ chiến ra sức chủ trương kinh doanh Kiến Khang, Kinh Khẩu để mưu đồ Trung Nguyên, như Trần Lượng từng dâng thư cho Hiếu Tông hoàng đế nói: "Kinh Khẩu, ba mặt liền gò cao, mà đại giang vắt ngang, bên sông nhìn xa ngàn dặm, thế lực của nó đại lược như hổ ra khỏi hang." [Chú: Trần Lượng Tập, Trung Hoa thư cục bản tăng đính, quyển một].

Thải Thạch tức Thải Thạch Cơ ngày nay, cách sông đối diện với bến Hoành Giang, đất đó nhô ra giữa sông, có bến vượt sông tương đối tốt, là chỗ dễ vượt Trường Giang cổ đại. Tần Thủy Hoàng tuần du Đông Nam, chính là vượt sông từ nơi này. Tôn Sách lấy Giang Đông, cũng vượt sông từ nơi này; sau liền xây thành trọng trấn. Trong cuộc chiến Tây Tấn diệt Ngô, thừa tướng Ngô là Trương Đễ dẫn quân đến Thải Thạch, vượt sông đón đánh quân Tấn, bại trận, các quân thượng du của Tấn liền thừa cơ tiến thẳng, đến tận Kiến Nghiệp. Năm Vĩnh Gia nguyên niên (307), Trần Mẫn chiếm Kiến Nghiệp khởi binh, Tấn Dương Châu thứ sử Lưu Cơ từ Lịch Dương vượt sông đánh dẹp nó. Năm Hàm Hòa thứ ba (327), Tô Tuấn chiếm Lịch Dương khởi binh, dẫn quân từ Hoành Giang vượt sông chiếm Thải Thạch, ép phía Đông về Kiến Khang. Năm Hàm Khang nguyên niên (335), Hậu Triệu Thạch Hổ dẫn quân nam hạ, kỵ binh đi đến Lịch Dương, Đông Tấn gấp rút tăng cường đóng quân Thải Thạch, Vu Hồ, Từ Hồ để đề phòng. Năm Thái Thanh thứ hai (548) nhà Lương, Hầu Cảnh khởi binh phản Lương, từ Thọ Dương hướng tới Lịch Dương, Lịch Dương thái thú Trang Thiết dâng thành đầu hàng, và kiến nghị Hầu Cảnh nói: "Nên thừa dịp này nhanh chóng tới Kiến Khang, có thể binh không đổ máu mà lập đại công; nếu để triều đình thong thả phòng bị, trong ngoài hơi yên, phái quân lính gầy yếu ngàn người, thẳng chiếm Thải Thạch, đại vương tuy có giáp sắt tinh nhuệ một triệu, cũng không thể qua sông." [Chú: Tư Trị Thông Giám, quyển một trăm sáu mươi mốt, Lương Kỷ mười bảy]. Hầu Cảnh liền từ Hoành Giang vượt Thải Thạch, tập kích chiếm Cô Thục, xuôi Đông về Kiến Khang; trước đó, Lâm Xuyên thái thú Trần Hân tấu với Lương chủ: "Thải Thạch cấp thiết cần trọng trấn, thủy quân của Vương Chất yếu ớt, sợ không thể qua sông." [Chú: Tư Trị Thông Giám, quyển một trăm sáu mươi mốt, Lương Kỷ mười bảy]. Tùy diệt Trần, Hàn Cầm Hổ binh ra Lư Châu, từ Hoành Giang tế Thải Thạch, hãm Cô Thục, từ cánh phải bao vây Kiến Khang; trước đó, tướng Trần là Phàn Nghị nhắc nhở Trần chủ nói: "Thủy khẩu, Thải Thạch, đều là đất hiểm yếu, mỗi nơi cần năm ngàn tinh binh, hai trăm kim xí, dọc sông trên dưới, để làm phòng bị." [Chú: Tư Trị Thông Giám, quyển một trăm bảy mươi sáu, Trần Kỷ mười]. Năm Khai Bảo thứ tám (975) Bắc Tống, Tào Bân dẫn quân phạt Nam Đường, đại phá quân thủ Nam Đường ở Thải Thạch, chiếm lĩnh Thải Thạch, sau đó bắc cầu phao ở Thải Thạch, tiếp ứng quân Tống ở Giang Bắc, quân Tống liền thừa cơ tiến thẳng, như đi trên đất bằng. Năm Thiệu Hưng thứ ba mươi mốt (1161) Nam Tống, Kim chủ Hoàn Nhan Lượng nam xâm, cũng cố vượt sông từ Thải Thạch, bị Ngu Duẫn Văn đánh bại. Năm Chí Chính thứ mười lăm (1355) nhà Nguyên, Chu Nguyên Chương tập kích chiếm Hòa Châu, chuẩn bị tiến đánh Giang Nam, đại quân vượt Hoành Giang, đoạt chiếm Thải Thạch, liền chiếm Tập Khánh (nay là Nam Kinh), mở mang cơ nghiệp đại Minh.

Kinh Khẩu và Thải Thạch tuy cùng chốt giữ bến đò Trường Giang, nhưng trước đời Đường, tầm quan trọng của Thải Thạch có phần hơn Kinh Khẩu. Gần Thải Thạch, lòng sông hẹp hơn, vùng Kinh Khẩu, lòng sông rộng hơn, hơn nữa phía Bắc Kinh Khẩu, sông hồ dày đặc, kỵ binh phương Bắc rong ruổi không dễ; phía Bắc Thải Thạch, cách Hoài Tây mà thẳng đối diện Trung Nguyên, kỵ binh địch rong ruổi, dễ dàng đến nơi. Kỵ binh phương Bắc nam lại, xu hướng tới Thải Thạch dễ hơn xu hướng tới Kinh Khẩu. Cho nên người xưa có câu: "Từ xưa Giang Nam có việc, vượt từ Thải Thạch mười phần chín, vượt từ Kinh Khẩu mười phần một." [Chú: Đọc sử phương dư kỷ yếu, quyển mười chín, Giang Nam nhất]. Ngoài ra, Thải Thạch ngoài việc chốt giữ bến đò Trường Giang, còn cùng Cô Thục, Đông Lương Sơn cùng đóng vai trò ngăn chặn địch từ thượng du tới, che chắn Kiến Khang. Sau đời Đường, thế cục thay đổi đôi chút, một mặt do phù sa bồi đắp, lòng sông vùng Qua Châu hơi hẹp lại, mặt khác, theo sự khơi thông Đại Vận Hà và trọng tâm chính trị dời về phía Đông, nơi đây là nơihàm tiếp (tiếp nối) giữa Vận Hà và Trường Giang, trọng tâm chính trị phương Bắc và trọng tâm kinh tế phương Nam, do đó địa vị có sự nâng cao.

Cô Thục tức đương Đương Đồ ngày nay, đất nằm ở thượng du Kiến Khang, khống chế hai nơi hiểm yếu Thải Thạch và Đông Lương Sơn, che chắn cánh cho Kiến Khang. Đông Tấn Nam triều kiều lập Dự Châu (hoặc Nam Dự Châu) tại đây, gọi là Nam Châu, cùng với Bắc Phủ Kinh Khẩu, Tây Phủ Lịch Dương cùng nhau củng cố Kiến Khang. Cố Tổ Vũ gọi Cô Thục là "khống chế giữ sông núi, sát gần đất kinh kỳ, người từ thượng du tới, thì Lương Sơn đương chỗ hiểm yếu; người từ Hoành Giang vượt, thì Thải Thạch chốt nơi yết hầu. Kim Lăng có việc, Cô Thục là đất tất tranh." [Chú: Đọc sử phương dư kỷ yếu, quyển hai mươi bảy, Giang Nam cửu]. Đầu thời Đông Tấn, Vương Đôn chuyên quyền triều chính, từ thượng du dời trấn đến Cô Thục; họ Hoàn lấy thượng du Kinh Châu ép Kiến Khang, Hoàn Ôn, Hoàn Xung lần lượt dời Dự Châu trấn Cô Thục. Cuối thời Lưu Tống Nguyên Gia, Vũ Lăng vương Lưu Tuấn đánh Lưu Thiệu, quân đến Nam Châu (tức Cô Thục) thì người quy hàng nối tiếp nhau. Bởi vì, chiếm được Cô Thục là đã đoạt hiểm Lương Sơn, dỡ bỏ hàng rào cuối cùng ở thượng du Kiến Khang. Lương Sơn tức Đông Lương Sơn, cách phía Tây Nam Cô Thục ba mươi dặm, chặn đường hiểm yếu đường bộ thượng du Kiến Khang. Năm Hiếu Kiến nguyên niên (554) thời Lưu Tống, Lưu Nghĩa Tuyên, Tang Chất khởi binh ở thượng du, xuôi Đông về Kiến Khang, triều đình phái Liễu Nguyên Cảnh, Vương Huyền Mô... các tướng chống lại, quân phản loạn đến Vu Hồ, Tang Chất kiến nghị với Nghĩa Tuyên: "Nay nếu lấy một vạn quân chiếm Nam Châu, thì Lương Sơn giữa bị cắt đứt; một vạn quân vây Lương Sơn, thì Huyền Mô ắt không dám động; hạ quan giữa dòng khua chèo, thẳng tới Thạch Đầu, đây là thượng sách." [Chú: Tống Thư, quyển bảy mươi bốn, Tang Chất truyện]. Nghĩa Tuyên không dùng, mà dốc toàn tinh nhuệ đánh Lương Sơn, bị Vương Huyền Mô... đánh bại. Năm Vĩnh Nguyên nguyên niên (499) thời Tề, Trần Hiển Đạt chiếm Giang Châu khởi binh, Tề Đông Hôn Hầu phái tướng Hồ Tùng chốt Lương Sơn để chống lại. Cuối thời Lương, Bắc Tề Tiêu Quỹ hợp binh với hàng tướng nhà Lương là Từ Tự Huy... đánh Lương Sơn, Trần Bá Tiên dựng rào chốt Lương Sơn để chống lại. Lương Sơn và Thải Thạch cùng chốt giữ hai đường thủy bộ thượng du Kiến Khang, là hàng rào cuối cùng ở thượng du Kiến Khang.

Đối diện qua sông với hai nơi Kinh Khẩu, Thải Thạch là Quảng Lăng và Lịch Dương, hai nơi có thể nói là căn bản của Lưỡng Hoài. Kỵ binh phương Bắc nam hạ, người từ Hoài Đông tới, cuối cùng ắt xu hướng Quảng Lăng; người từ Hoài Tây tới, cuối cùng ắt xu hướng Lịch Dương. Phương Nam có việc với phương Bắc, hai nơi này chính là nơi tập kết nhân lực, vật lực của phương Nam, Quảng Lăng đủ để sách ứng Sơn Dương, Vu Di, Lịch Dương đủ để sách ứng Chung Ly, Thọ Xuân.

Quảng Lăng tức Dương Châu ngày nay, là căn bản Hoài Đông, che chắn Trường Giang. Bắc không được Quảng Lăng, thì không có cách nào vượt Qua Châu; Nam không được Quảng Lăng, thì không có cách nào tranh Hoài Bắc. Sau khi Đại Vận Hà thông suốt, Quảng Lăng chốt cửa khẩu giao thoa của Trường Giang và Vận Hà, địa vị càng quan trọng. Thời Tây Hán, Quảng Lăng là quốc đô của nước Ngô, Ngô vương Lưu Tỵ chiếm nơi này, nấu biển làm muối, đúc núi làm đồng, quốc dụng phú nhiêu, liền chiêu dụ kẻ lưu vong thiên hạ để phản Hán. Thời Tam Quốc, Quảng Lăng thuộc về Tào Ngụy, năm Hoàng Sơ thứ năm (224) nhà Tào Ngụy, Ngụy chủ Tào Phi thân dẫn thủy quân từ Thọ Xuân tới Quảng Lăng, muốn đánh Giang Đông; Tôn Quyền nhiều lần tranh Quảng Lăng mà không được, cho nên cuộc Bắc phạt của ông theo hướng Hoài Nam nhiều lần xuất quân mà không thành, cuối cùng chỉ đành lấy Trường Giang làm thủ. Thời Đông Tấn, Quảng Lăng là trị sở của Duyện Châu kiều lập, Lưu Tống theo đó. Năm Nguyên Gia thứ hai mươi bảy bắc phạt, trưng phát dân đinh, binh các quận dọc sông đều tập trung ở Quảng Lăng. Thời Hiếu Kiến, Cánh Lăng vương Lưu Đản bị Hiếu Vũ Đế nghi ngờ, ra trấn Quảng Lăng, Lưu Đản liền xây tường thành Quảng Lăng để tự cố, Hiếu Vũ Đế phát đại binh đánh nó, mới thắng. Cuối thời Lương "Hầu Cảnh chi loạn", Đông Ngụy thừa cơ nam xâm, đất Giang Bắc đều nhập vào Đông Ngụy, Quảng Lăng cũng thuộc về phương Bắc. Tùy thống nhất phương Bắc, mưu gộp Giang Nam, trước hết lấy Dương Châu tổng quản Hạ Nhược Bật trấn Quảng Lăng; trong cuộc chiến bình Trần, Hạ Nhược Bật tiên phong vượt Trường Giang, chiếm Kinh Khẩu, từ cánh trái bao vây Kiến Khang. Tùy thống nhất toàn quốc, để tăng cường liên hệ Nam Bắc, khơi thông Đại Vận Hà, Đại Vận Hà chảy vào Trường Giang gần Quảng Lăng. Tùy Dạng Đế phế châu đặt quận, lấy Quảng Lăng làm Giang Đô quận, thường xuyên đến ngự. Cuối thời Tùy thiên hạ đại loạn, Giang Đô bị Lý Tử Thông chiếm, Lý Tử Thông chiếm Giang Đô xưng đế, quốc hiệu Ngô. Cuối thời Đường phiên trấn cát cứ, Lư Châu thứ sử Dương Hành Mật vào chiếm Quảng Lăng, tự xưng Hoài Nam lưu hậu, chiếm hết đất Hoài Nam, kiến quốc Ngô, bao gồm hai mươi bảy châu Giang Hoài. Ngô sau bị Nam Đường thay thế, Nam Đường định đô Kim Lăng, mà lấy Giang Đô làm Đông Đô. Năm Hiển Đức thứ ba (956) thời Hậu Chu, Hậu Chu và Nam Đường giao chiến ác liệt ở Hoài Nam, quân Hậu Chu thừa cơ tập kích chiếm Dương Châu, năm sau, chúa Nam Đường xin hòa, dâng hết đất Giang Bắc, quốc thế Nam Đường liền yếu. Nam Tống định đô Lâm An, tuyến phòng thủ Giang Hoài ở phía Bắc Lâm An, quân Kim nam hạ, ắt hướng tới Lưỡng Hoài. Dương Châu là căn bản Hoài Đông, Triệu Phạm gọi là "Dương Châu, cửa ngõ phía Bắc của quốc gia, một là thống Hoài, một là che Giang, một là giữ Vận Hà, đều không thể không phòng bị." [Chú: Đọc sử phương dư kỷ yếu, quyển hai mươi ba, Giang Nam ngũ]. Quân Nguyên đột phá tuyến phòng thủ Kinh Tương, xuôi Đông về Lâm An, Lưỡng Hoài vẫn do Nam Tống giữ, Lý Đình Chi chiếm giữ Dương Châu. Văn Thiên Tường vẫn gửi hy vọng vào Lưỡng Hoài, kiến nghị triều đình Tống phân trong nước làm bốn trấn, gộp Hoài Tây vào Hoài Đông, lập khổn (tư lệnh) ở Dương Châu, chặn đánh phía sau quân Nguyên, để mưu khôi phục quốc thế, nhưng không thành. Đầu thời Minh định đô Kim Lăng, sự thế của Dương Châu với Kim Lăng, lại gần như tương đồng với Đông Tấn Nam triều, sau dù dời đô về Bắc Kinh, nhưng liên hệ giữa hai kinh Nam Bắc, sự chuyển tải tài phú Giang Nam, đều phải mượn Đại Vận Hà, mà Dương Châu chốt yết hầu của Vận Hà, tầm quan trọng của nó không cần phải nói.

Lịch Dương tức huyện Hòa ngày nay. Từ hướng Hoài Tây nam hạ về Kiến Khang, ắt qua Lịch Dương. Phía Nam Thọ Xuân, Phượng Dương, Sào Hồ đương chỗ yết hầu; phía Tây Sào Hồ, địa hình phức tạp, không lợi cho đại quân xuyên qua; phía Đông Sào Hồ, đồi núi và đường sông ít, lợi cho đại quân thông hành, thế lực phương Bắc nam hạ, phần lớn xuất con đường này. Lịch Dương đương chỗ xung yếu này. Cố Tổ Vũ nói: "Từ xưa lập quốc ở Đông Nam, chưa từng không lấy Lịch Dương làm yết hầu; người có việc ở Giang Nam, người đi từ Thọ Dương, Lịch Dương tới chiếm mười phần bảy." [Chú: Đọc sử phương dư kỷ yếu, quyển hai mươi chín, Giang Nam thập nhất]. Lữ Chỉ thời Nam Tống cũng nói: "Lịch Dương, cửa ngõ của Kiến Khang, Cô Thục. Chưa có Lịch Dương nhiều việc mà Giang Đông có thể kê cao gối mà ngủ." [Chú: Lữ Chỉ, "Đông Nam phòng thủ lợi tiện" của Giang Hoài biểu lý luận]. Tôn Sách chiếm Giang Đông, từ Lịch Dương vượt sông. Tây Tấn diệt Ngô, sai Vương Tuấn ra Lịch Dương, vượt Hoành Giang. Thời Đông Tấn, Tô Tuấn cũng từ Lịch Dương vượt Hoành Giang, tập kích Cô Thục mà xuống Kiến Khang. Hậu Triệu Thạch Hổ cướp phá Hoài Nam, kỵ binh đi thẳng đến Lịch Dương, Giang Nam giới nghiêm. Cuối thời Lương Hầu Cảnh phản loạn, khởi từ Thọ Dương, chiếm Lịch Dương, lại ra Hoành Giang mà vượt Thải Thạch, liền vào Kiến Khang. Trong cuộc chiến nhà Tùy diệt Trần, Lư Châu tổng quản Hàn Cầm Hổ từ Lư Châu xu hướng Lịch Dương, ra Hoành Giang mà vượt Thải Thạch. Đối kháng Tống Kim, quân Kim nam hạ, cũng thường đi thẳng tới Lịch Dương. Đầu thời Minh Chu Nguyên Chương lấy Giang Nam, cũng từ Lịch Dương vượt sông, thắng Thải Thạch, hạ Thái Bình (Cô Thục).

(II) Tuyến phòng thủ Hoài Hà

Phương Nam ở tuyến Hoài Hà cũng bố trí một loạt trọng trấn, để chốt giữ cửa khẩu giao thoa của chi lưu Hoài Hà và Hoài Hà. Ở Hoài Tây, chủ yếu là Thọ Xuân (nay là huyện Thọ) và Chung Ly (nay là Phượng Dương), ở Hoài Đông, chủ yếu là Sơn Dương (nay là Hoài An) và Vu Di.

Chi lưu thượng du Hoài Hà chủ yếu có Dĩnh Hà và Oa Hà. Cửa khẩu giao thoa của Dĩnh Hà và Hoài Hà gọi là Dĩnh Khẩu, cửa khẩu giao thoa của Oa Hà và Hoài Hà gọi là Oa Khẩu. Thọ Xuân đối diện với Dĩnh Khẩu, chặn địch tới từ hướng Dĩnh Hà, Hoài Hà; Chung Ly đối diện với Oa Khẩu, chặn xung yếu của Oa Hà. Khi đối đầu Nam-Bắc, Chung Ly và Thọ Xuân đều là trọng trấn Hoài Tây.

Hạ lưu Hoài Hà chủ yếu có chi lưu Tứ Thủy, cũng gọi là Thanh Hà. Tứ Thủy cổ đại từ Sơn Đông chảy về Nam, hợp vào Hoài Hà gần Hoài An, cửa vào Hoài gọi là Tứ Khẩu, hoặc gọi là Thanh Khẩu, Hoài Khẩu. Đường thủy Hoài, Tứ từ xưa là đường giao thông trọng yếu Nam-Bắc, Sơn Dương và Vu Di nằm gần đó, khống chế đường tới từ hướng Tứ Thủy. Ở hướng này, nếu lấy thái độ tích cực hơn, còn có thể kinh doanh Bành Thành (nay là Từ Châu) để mưu đồ phương Bắc.

Thọ Xuân tức huyện Thọ ngày nay. Chi lưu chủ yếu của Hoài Hà là Dĩnh Hà hợp vào Hoài Hà gần đó. Dĩnh Hà là một đường giao thông trọng yếu giữa Trung Nguyên và Giang Hoài, cửa khẩu giao thoa của Dĩnh Hà và Hoài Hà gọi là Dĩnh Khẩu. Thọ Xuân đối diện với Dĩnh Khẩu. Địch từ Dĩnh Hà hoặc thượng du Hoài Hà tới, ắt qua Thọ Xuân. Cố Tổ Vũ gọi Thọ Xuân là "khống chế chặn Dĩnh, cổ áo đai sông Đà, là yết hầu của Tây Bắc, hàng rào của Đông Nam." [Chú: Đọc sử phương dư kỷ yếu, quyển hai mươi mốt, Giang Nam tam]. Ngoài ra, vùng Thọ Xuân, là một phần của đồng bằng Hoàng-Hoài, đất đai màu mỡ, tưới tiêu thuận tiện, thích hợp cho đồn điền. Cho nên địa lợi của nó đủ làm tư lương cho chiến thủ.

Cuối thời Chiến Quốc, sau khi Sở mất đất Yên, Dĩnh, dời về phía Đông Hoài Nam, từng lấy Thọ Xuân làm đô. Thời Tây Hán, Thọ Xuân là đô của nước Hoài Nam. Nước Hoài Nam đất lớn lực mạnh, nhân lúc Hán đình xén phiên, sợ hãi không yên, liền mưu khởi binh. Ngũ Bị kiến nghị: "Lược Hành Sơn để đánh Lư Giang, có thuyền Tầm Dương, giữ thành Hạ Trĩ, kết bến Cửu Giang, cắt đứt cửa Dự Chương, nỏ mạnh lâm Giang mà giữ, để cấm Nam Quận xuống, Đông bảo Hội Kê, Nam thông Kính Việt, quật khởi giữa Giang Hoài, có thể kéo dài tuổi thọ của năm tháng." [Chú: Hán Thư, quyển bốn mươi lăm, Ngũ Bị truyện]. Cuối thời Đông Hán, Viên Thuật chiếm Thọ Xuân, tự mình xưng đế. Năm Chính Thủy thứ tư (243) thời Tào Ngụy, Đặng Ngải đi tuần Hoài Hà Nam Bắc, đi xem đất Trần, Hạng ở phía Đông, đến Thọ Xuân, dâng biểu kiến sách, kiến nghị: "Ra lệnh Hoài Bắc đồn hai vạn người, Hoài Nam đồn ba vạn người, mười phần hai nghỉ ngơi, thường có bốn vạn người, vừa cày vừa giữ, năm được mùa thường thu, gấp ba lần Hứa. Như vậy, tính trừ các phí, năm xong năm triệu hộc, dùng làm quân tư; trong sáu bảy năm, có thể tích ba mươi triệu hộc ở trên Hoài, đây là lương thực năm năm của mười vạn quân. Lấy cái này đánh Ngô, không đâu mà không thắng." [Chú: Tam Quốc Chí, quyển hai mươi tám, Đặng Ngải truyện]. Tư Mã Ý nắm chính quyền theo sách của ông, ở Hoài Hà Nam Bắc đại hưng đồn điền, mở rộng sông ngòi, để tăng tưới tiêu, thông tào vận, từ đó về sau, mỗi khi Đông Nam có việc, đại quân thuyền bè tới Giang Hoài, lương thực có trữ, mà không có hại của nước, đã đặt nền tảng cho việc Tây Tấn diệt Ngô sau này.

Thời kỳ Ngụy Tấn Nam Bắc Triều, đôi bên Nam-Bắc đối kháng giữa Giang Hoài, Thọ Xuân chặn xung yếu Nam-Bắc, là điểm cấp bách tranh giành của đôi bên Nam-Bắc. Tư Mã Duệ mới bình định Giang Đông, Ứng Chiêm liền kiến nghị nói: "Thọ Xuân, hội họp của một phương, cách nơi này không xa, nên chọn đô đốc có kinh lược văn võ, xa để chấn hưng thế cục Hà Lạc, gần để làm phiên trấn của Từ, Dự. Vỗ về lưu tán, khiến người có nơi nương tựa, chuyên ủy công việc nông nghiệp, khiến việc có nơi cục bộ." [Chú: Tấn Thư, quyển hai mươi sáu, Thực Hóa chí]. Đông Tấn đứng chân ở Giang Đông, nhưng vẫn lấy việc thu phục Trung Nguyên làm khẩu hiệu, cho nên kinh doanh Thọ Xuân, nói về thủ, có thể làm trọng trấn Hoài Tây, nói về tiến lấy, có thể hô ứng với thế cục Trung Nguyên, hơn nữa giữa Lưỡng Hoài là nơi lưu dân tập hợp, chiêu mộ an phủ, ý nghĩa cũng lớn. Năm Thái Hòa thứ tư (369) thời Tấn, Dự Châu thứ sử Viên Chân chiếm Thọ Xuân hàng Tiền Yên, Tiền Yên, Tiền Tần cùng lúc xuất binh cứu viện, Tấn Đại tư mã Hoàn Ôn dẫn quân đánh phá quân viện Tiền Tần, đánh phá Thọ Xuân, thu phục Thọ Xuân. Khi đó tham quân Phục Thao theo Hoàn Ôn đến Thọ Dương, vì Hoài Nam nhiều lần phản, liền viết "Chính Hoài Luận" nói về tầm quan trọng của Thọ Xuân rằng: "Kia Thọ Dương đó, phía Nam dẫn cái lợi của Kinh, Nhữ, phía Đông nối sự giàu có của Tam Ngô; phía Bắc tiếp Lương, Tống, đường bằng không quá bảy trăm; phía Tây cứu Trần, Hứa, thủy bộ không tới ngàn dặm; bên ngoài có sự ngăn trở của Giang, Hồ, bên trong có sự kiên cố của Hoài, Phì. Đầm Long Tuyền, ruộng tốt vạn khoảnh, cống phẩm Thư, Lục, lợi tận Man Việt." [Chú: Tấn Thư, quyển chín mươi hai, Phục Thao truyện]. Phù Kiên phạt Tấn, tiền phong đã nhổ Thọ Dương, nhưng ngay tại Phì Thủy gần Thọ Dương, quân Tấn do Tạ Huyền dẫn đầu đánh phá quân đội Tiền Tần, thu phục Thọ Dương, Tiền Tần trải qua một trận bại này, lập tức thành thế sụp đổ. Cuối thời Đông Tấn, Lưu Dụ "muốn khai thác Hà Nam, vỗ về định đất Dự, cắt phía Tây đại giang Dương Châu, phía Bắc đại Lôi đều thuộc về Dự Châu." [Chú: Tấn Thư, quyển mười bốn, Địa lý chí thượng]. Kiều lập Dự Châu, trị Thọ Dương, làm căn cứ tiền tiến của việc bắc phạt Trung Nguyên. Quân của Vương Trấn Ác, Đàn Đạo Tế tới Hứa, Lạc chính là xuất phát từ đây. Thời Lưu Tống, bất kể là bắc phạt hay sau khi bắc phạt thất bại thu dọn tàn cuộc, Thọ Dương đều thể hiện địa vị trọng trấn Hoài Tây của nó. Tiêu Đạo Thành thay Tống tự lập, Bắc Ngụy liền phát binh đến đánh, Thọ Dương là một trong những hướng chủ công của nó. Tiêu Đạo Thành lấy Viên Sùng Tổ làm Dự Châu thứ sử, trấn Thọ Dương, ông nói với Viên Sùng Tổ: "Ta mới được thiên hạ, Sách Lỗ ắt sẽ lấy việc nạp Lưu Sưởng làm từ, xâm phạm biên giới. Thọ Xuân đương chỗ xung yếu của giặc, không khanh thì không thể chế ngự được giặc này" [Chú: Tư Trị Thông Giám, quyển một trăm ba mươi lăm, Tề Kỷ nhất]. Cuối thời Tiêu Tề, Dự Châu thứ sử Bùi Thúc Nghiệp lấy Thọ Xuân hàng Bắc Ngụy, Bắc Ngụy phát binh tiếp ứng, Thọ Dương cùng đất Hoài Nam liền nhập vào Bắc Ngụy. Lương thừa lúc Bắc Ngụy nội loạn, thu phục Thọ Dương và đất Hoài Nam, thời "Hầu Cảnh chi loạn", Đông, Tây Ngụy thừa lợi nam tiến, Thọ Dương và đất Hoài Nam lại nhập vào Đông Ngụy. Năm Thái Kiến thứ năm (573) nhà Trần, Ngô Minh Triệt bắc phạt, thu phục Thọ Dương, Trần chủ vì đó mà xuống chiếu rằng: "Thọ Xuân đó, đô hội của cổ nhân, cổ áo đai Hoài, Nhữ, khống chế dẫn Hà, Lạc, người được nó thì yên, đó gọi là hiểm yếu." [Chú: Trần Thư, quyển chín, Ngô Minh Triệt truyện]. Sau khi quân Ngô Minh Triệt bại, Thọ Dương cùng với toàn bộ Hoài Nam lại bị Bắc Chu chiếm đóng, người Trần đành phải dựa vào sông mà thủ, thế cục cực kỳ bất lợi.

Thời Ngũ đại, Hậu Chu Thế Tông chinh Nam Đường, đánh Thọ Châu gần ba năm mà không thể hạ. Sau đó thủ tướng Thọ Châu Nam Đường vì tuyệt vọng viện binh mà đầu hàng. Thọ Châu một hàng, các châu Giang Bắc lần lượt gió đổ. Đối kháng Tống Kim, quân Kim nam hạ Giang Hoài, Thọ Châu mỗi khi là chỗ cực xung. Lữ Chỉ nói: "Hoài Tây, hàng rào của Kiến Khang, Thọ Xuân lại là nguồn gốc của Hoài Tây vậy. Thọ Xuân mất, thì ra Hợp Phì, chiếm Lịch Dương, Kiến Khang không thể kê cao gối mà ngủ." [Chú: Lữ Chỉ, "Đông Nam phòng thủ lợi tiện" của Giang Hoài biểu lý luận].

Oa Hà là đường giao thông trọng yếu khác giữa Trung Nguyên và Giang Hoài. Cửa khẩu giao thoa của Oa Hà và Hoài Hà gọi là Oa Khẩu. Phượng Dương đối diện với Oa Khẩu, chặn xung yếu của Oa Hà. Khi đối đầu Nam-Bắc, Phượng Dương và Thọ Xuân đều là trọng trấn Hoài Tây. Phượng Dương thời Nam Bắc Triều là Chung Ly quận. Sau khi Lưu Tống Nam triều mất các châu Hoài Bắc, đành phải dựa vào Hoài Hà mà thủ, Chung Ly đương chỗ xung yếu nam hạ từ hướng Hứa, Lạc, Bắc Ngụy mỗi lần nam hạ, Chung Ly đều là một trong những hướng chủ công của nó. Cuối thời Lương, Chung Ly và Thọ Xuân đều nhập vào Đông Ngụy. Đối kháng Tống Kim, người Kim lập Lưu Dự ở Trung Nguyên, muốn lấy Hoa chế Hoa. Năm Thiệu Hưng thứ sáu (1136) thời Tống, Lưu Dự xâm Hoài Tây, triều nghị muốn bỏ Hoài giữ Giang. Xu Mật sứ Trương Tuấn ra sức phản đối, nói: "Các đồn Hoài Nam, là để che chắn đại giang; khiến giặc được Hoài Nam, nhân lương liền vận, lấy làm kế gia đình, thì hiểm yếu của Trường Giang và địch cùng có, Giang Nam chưa thể bảo toàn được. Hoài Đông nên đồn trú ở Vu Di, để chốt thượng lưu Thanh Hà; Hoài Tây nên đồn trú ở Hào, Thọ, để chốt đường vận Oa, Dĩnh." [Chú: Tục Tư Trị Thông Giám, quyển một trăm mười bảy]. Hào Châu tức Phượng Dương. Hai châu Hào, Thọ lần lượt khống chế cửa Oa, Dĩnh, là mấu chốt để giữ Hoài Hà. Năm Thiệu Hưng thứ mười một (1141), binh của ba đại tướng Trương Tuấn, Lưu Kì, Dương Nghi Trung bại ở Hào Châu, triều đình Tống liền quyết kế nghị hòa.

Hạ lưu Hoài Hà chủ yếu có chi lưu Tứ Thủy, Tứ Thủy cũng gọi là Thanh Hà. Tứ Thủy cổ đại từ Sơn Đông chảy về Nam, qua Duyện Châu, Tế Ninh, Từ Châu, Túc Thiên, hợp vào Hoài Hà gần Hoài An. Lòng sông hạ lưu Hoài Hà thay đổi rất lớn, đặc biệt là Hoàng Hà đổi dòng, đoạt Biện, Tứ... các sông mà vào biển, cho nên Tứ Thủy, Hoài Hà ngày nay đã không phải là cảnh cũ năm xưa. Cửa Tứ Thủy vào Hoài gọi là Tứ Khẩu, cũng gọi là Thanh Khẩu, Hoài Khẩu. Đường thủy Hoài, Tứ từ xưa là đường giao thông trọng yếu Nam-Bắc, Vương Tuấn thời Tây Tấn đánh Ngô, Đỗ Dự từng viết thư khuyến khích ông ta thẳng đánh Kiến Khang để diệt Ngô, sau đó, "từ sông vào Hoài, vượt qua Tứ Biện, ngược dòng lên, chấn lữ trở về kinh đô, cũng là một việc lạ của đời." [Chú: Tư Trị Thông Giám, quyển tám mươi mốt, Tấn Kỷ tam]. Theo con đường được gợi ý trong thư của Đỗ Dự, thủy quân Vương Tuấn có thể từ Kiến Nghiệp thẳng tới Lạc Dương, có thể biết hai sông Biện, Tứ mượn Hoài Hà mà nối liền hai hệ thống sông lớn Hoàng Hà, Trường Giang hẳn là việc khá sớm; Hoàn Ôn, Lưu Dụ bắc phạt, đều từng khơi thông đường thủy Tứ Thủy; Tùy Dạng Đế mở Đại Vận Hà, cũng lợi dụng hai sông Biện, Tứ.

Trọng trấn hạ lưu Hoài Hà chủ yếu có Hoài An, Vu Di, chốt giữ đường thủy Hoài, Tứ. Hoài An thời Đông Tấn Nam triều là Sơn Dương quận, thời Tùy Đường và Tống là Sở Châu, thời Nguyên Minh Thanh gọi là Hoài An. Thời Hoàng Sơ nhà Tào Ngụy, Ngụy chủ Tào Phi thân dẫn thủy quân theo các sông Thái, Dĩnh, Oa... vào Hoài mà tới Quảng Lăng, thuyền quân liền từ Hoài An mà Nam. Đông Tấn Nam triều đều lấy Hoài An làm trọng trấn, Tổ Ước, Lưu Khôi, Tuân Tiện... các tướng lần lượt trấn giữ nơi đó. Năm Thái Nguyên thứ ba (378) thời Đông Tấn, đại tướng Tiền Tần là Bành Siêu kiến nghị với Phù Kiên: "Nguyện lại phái trọng tướng đánh các thành Hoài Nam, làm thế cờ cướp, Đông Tây cùng vận, Đan Dương không đủ để bình." [Chú: Tư Trị Thông Giám, quyển một trăm lẻ bốn, Tấn Kỷ mười sáu]. Phù Kiên nghe theo, liền phát binh đánh Hoài Dương, Vu Di. Sau khi bắc phạt thất bại năm Nguyên Gia thứ hai mươi bảy (450) thời Lưu Tống, Sơn Dương thái thú Tiêu Tăng Trân thu hết bách tính vào thành, đắp đê tích nước đầm, muốn đợi khi quân Ngụy tới, phá đê tưới nó. Quân Ngụy qua Sơn Dương, không dám đánh thành. Thời Thái Thủy thời Lưu Tống mất các châu Hoài Bắc, Bắc Ngụy đem vùng Sơn Dương, Bành Thành kinh doanh thành một căn cứ nam bức Giang Hoài, Nam triều lại mưu tiến Bắc, thế cục đã rất bất lợi. Khi Trần thay Ngô Minh Triệt bắc phạt vây đánh Bành Thành, tướng Chu là Vương Quỹ quân nhẹ nam tiến, tập kích chiếm Thanh Khẩu, cắt đứt đường về của quân Trần, Minh Triệt liền bại. Nhà Tống di cư về phương Nam, dựa vào Giang Hoài để che chắn Đông Nam, địa vị của Sơn Dương lại trở nên trọng yếu. Ngô biểu thần nói: "Sơn Dương là đất khống chế, mất nó thì không có cách nào che chắn Hoài Đông." [Chú: Đọc sử phương dư kỷ yếu, quyển hai mươi hai, Giang Nam tứ]. Từ Tông Yểm cũng nói: "Sơn Dương là đất tất tranh Nam Bắc, ta được nó, có thể tiến chiếm Sơn Đông; địch nếu được nó, Hoài Nam không thể sớm tối bảo cố." [Chú: Đọc sử phương dư kỷ yếu, quyển hai mươi hai, Giang Nam tứ]. Đại Vận Hà chảy qua Hoài An, cho nên hai đời Nguyên, Minh đều thiết lập trọng thần, đặt đồn quân để kinh lược nó. Thời nông dân khởi nghĩa cuối Nguyên, tướng Nguyên là Đổng Bác Tiêu giữ Tứ Châu, từng kiến nghị triều đình Nguyên tăng đóng quân Hoài An: "Hoài An là yết hầu Nam Bắc, đất yết hầu Giang Hoài, đất đó một khi mất, Lưỡng Hoài đều không dễ khôi phục. Thì cứu viện Hoài An, thực sự là việc cấp bách." [Chú: Nguyên Sử, quyển một trăm tám mươi tám, Đổng Bác Tiêu truyện].

Vu Di là trọng trấn một phương Hoài Đông. Vu Di cuối thời Tần từng là đô thành của Sở Hoài Vương. Thời Đông Tấn, người Khương là Diêu Tương ở Hoài Nam đánh phá quân đội Ân Hạo, tiến đồn Vu Di, Tấn đình không thể chế ngự. Năm Thái Nguyên thứ ba (378) thời Đông Tấn, tướng Tiền Tần là Câu Nan... công hãm Vu Di, cho đến sau trận Phì Thủy, Đông Tấn mới thu phục Vu Di; thời Nghĩa Hi, Tấn đình đặt Vu Di làm quận, thời Lưu Tống theo đó. Khi bắc phạt thất bại năm Nguyên Gia thứ hai mươi bảy (450) thời Lưu Tống, Vu Di thái thú Thẩm Phác vì Vu Di đất chỗ xung yếu, liền sửa thành khơi hào, tích gỗ thóc, trữ mũi tên đá, làm việc chuẩn bị thủ thành; khi Bắc Ngụy nam tiến, quận huyện thủ tể vùng Hoài Hà phần lớn bỏ thành chạy trốn, Thẩm Phác kiên thủ Vu Di; sau khi quân Phụ quốc tướng quân Tang Chất tan vỡ, cũng dẫn tàn bộ vào Vu Di, hai người hợp lực kiên thủ Vu Di, Ngụy chủ Thác Bạt Đảo trên đường từ Qua Bộ bắc rút, đích thân chỉ huy đánh mạnh Vu Di hơn ba mươi ngày mà không thể phá thành, đành đốt công cụ đánh thành mà chạy, cho thấy Vu Di ở khu vực Hoài Đông quả thực là trọng trấn một phương. Sau khi Bắc Ngụy lui đi không lâu, Lưu Nghĩa Long liền lấy em là Lưu Nghĩa Cung làm Nam Duyện Châu thứ sử, Phiêu kỵ tướng quân, Đô đốc mười ba châu chư quân sự, dời trấn Vu Di, để chấn hưng hệ thống phòng ngự tan nát vùng Giang Hoài. Năm sau, Lưu Tống giải thể Nam Duyện Châu nhập vào Nam Từ Châu, đặt riêng Hoài Nam Đô đốc, trú Vu Di, khai sáng đồn điền, ứng tiếp xa gần.

Bành Thành là căn bản Hoài Bắc. Gần Bành Thành sông ngòi tập trung. Tứ Thủy chảy qua gần Bành Thành. Tứ Thủy ngược lên phía Tây Bắc, khơi Cự Dã Trạch có thể vào Hoàng Hà, trên đường chảy về Nam lại hợp nạp Biện Thủy, Thư Thủy... các sông. Trước thời Tùy, Biện Thủy hợp vào Tứ Thủy gần Bành Thành. Lưu Dụ diệt Hậu Tần sau nam quy, thuyền quân từ Vị vào Hà, lại khơi kênh Biện, từ Hà vào Biện, liền về Bành Thành. Thư Thủy thì hợp vào Tứ Thủy gần Phi Châu (nay là huyện Phi), cửa Thư Thủy vào Tứ Thủy gọi là Thư Thanh Khẩu. Thẩm Du Chi đánh Bành Thành không lợi, liền bại ở Thư Thanh Khẩu.

Bành Thành có thể nói là đất bốn chiến, là nơi binh gia các đời tất tranh. Bành Thành giữa thời Sở Hán từng là đô của Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ. Thời quân phiệt hỗn chiến cuối thời Đông Hán, Từ Châu là đất tranh chấp, Đào Khiêm, Lưu Bị, Lữ Bố, Tào Tháo đều từng tranh đoạt Từ Châu. Tôn Quyền từng một thời muốn chiếm Từ Châu, nhưng Lữ Mông cho rằng Từ Châu "địa thế thông đường bộ, kỵ binh thiện chiến rong ruổi", hơn nữa đất gần Hứa, Lạc, tuy chiếm được, ngày sau Tào Tháo cũng ắt dốc toàn lực đến tranh, không bằng tập kích chiếm Kinh Châu, toàn chiếm Trường Giang. [Chú: Tư Trị Thông Giám, quyển sáu mươi ba, Hán Kỷ năm mươi lăm].

Trong thế cục đối kháng Nam Bắc, địa vị của Bành Thành càng thêm quan trọng. Trong các tầng nấc của tuyến phòng thủ Giang Hoài, Trường Giang che chắn cho Giang Nam, Hoài Nam che chắn cho Trường Giang, còn Hoài Bắc che chắn cho Hoài Nam. Mà tại khu vực Hoài Bắc, thực chất lấy Bành Thành làm căn bản. Bành Thành nằm gần Trung Nguyên, lại nằm giữa Nam Bắc, giao thông thủy bộ thuận tiện, có thể làm nguồn lực cho việc tác chiến và thủ hiểm. Tô Thức bàn về địa vị Bành Thành rằng: "Từ Châu là yết hầu trọng yếu của Nam Bắc, là nơi gửi gắm sự an nguy của các quận ấp Kinh Đông. Đất ấy ba mặt bị núi bao bọc, duy chỉ có phía tây là bình nguyên rộng hàng trăm dặm, đi về phía tây đến Lương, Tống, nếu người Sở mở cửa nghênh địch, thực sự chẳng khác nào đứng trên mái nhà đổ nước xuống vậy." [Chú: "Độc sử phương dư kỷ yếu", quyển hai mươi chín, Giang Nam mười một]

Năm Long An thứ ba thời Đông Tấn (399), Bắc Ngụy diệt Hậu Yên, Mộ Dung Đức của Hậu Yên dẫn tàn bộ chạy về phía nam, mưu tính chiếm cứ một phương làm căn cứ địa. Bộ hạ là Trương Hoa đề nghị đánh chiếm Bành Thành, Thượng thư Phan Thông thì hết lời phân trần rằng Bành Thành là trọng trấn của Tấn, khó lòng tranh đoạt, ông nói: "Bành Thành đất rộng người thưa, bằng phẳng không có hiểm yếu, lại là trọng trấn cũ của Tấn, không dễ chiếm lấy. Hơn nữa nó sát gần Giang Hoài, hạ thu nhiều nước, tác chiến bằng thuyền là sở trường của người Ngô, là sở đoản của ta. Chi bằng chiếm Quảng Cố mà giữ lấy." [Chú: "Tư trị thông giám", quyển một trăm mười một, Tấn kỷ ba mươi ba] Phan Thông là nhìn thấu ý nghĩa của Bành Thành đối với Đông Tấn, mới đi đến kết luận "không dễ chiếm lấy". Lưu Dụ và Lưu Nghĩa Long đều từng lấy Bành Thành làm căn cứ địa Bắc phạt. Lưu Dụ Bắc phạt Hậu Tần, chính là lấy Bành Thành làm căn cứ tiến quân; Lưu Dụ nhờ công Bắc phạt mà lần lượt được phong tước Tống Công, Tống Vương, Bành Thành chính là đô thành phong địa của ông. Cuộc Bắc phạt niên hiệu Nguyên Gia thời Lưu Tống, Bành Thành cũng được dùng làm căn cứ tiến quân. Khi Bắc phạt vào năm Nguyên Gia thứ bảy, Trường Sa Vương Lưu Nghĩa Hân trấn thủ Bành Thành để làm thanh viện cho các quân; trước thềm Bắc phạt năm Nguyên Gia thứ hai mươi bảy, Vương Huyền Mô làm Bành Thành thái thú, dâng kế hoạch kinh lược Trung Nguyên, tấu rằng: "Bành Thành quan trọng vì kiêm cả thủy bộ, xin cho hoàng tử đến trấn giữ." [Chú: "Tư trị thông giám", quyển một trăm hai mươi năm, Tống kỷ bảy] Lưu Nghĩa Long bèn lấy con trai thứ ba là Lưu Tuấn làm Từ Châu thứ sử, trấn thủ Bành Thành, chuẩn bị cho Bắc phạt. Sau khi cuộc Bắc phạt này thất bại, Lưu Tuấn cùng Giang Hạ Vương Lưu Nghĩa Cung cố thủ Bành Thành, quân Bắc Ngụy nam hạ cũng không dám khinh suất tấn công Bành Thành.

Trong cuộc nội loạn niên hiệu Thái Thủy thời Lưu Tống, Tống Minh Đế xử lý hậu sự không thỏa đáng, khiến Từ Châu thứ sử Tiết An Đô mang Bành Thành đầu hàng Bắc Ngụy. Lưu Tống cố gắng đoạt lại Bành Thành nhưng không thành. Kể từ đó, Bắc Ngụy tích cực kinh doanh Bành Thành, làm một căn cứ để ép xuống Giang Hoài. Khi Bắc Ngụy mới chiếm Bành Thành, chủ tướng Uất Nguyên dâng sớ xin kinh doanh Bành Thành: "Bành Thành là yết hầu của giặc, nếu không có tích trữ lương thực và quân phòng thủ mạnh mẽ thì không thể củng cố. Nếu chứa lương, lập đồn trú rộng rãi, thì dù Lưu Úc có huy động toàn bộ binh mã, cũng không dám ngó ngàng đến vùng Hoài Bắc, đây là thế tự nhiên." [Chú: "Ngụy thư", quyển năm mươi, Uất Nguyên truyện] Năm Thái Hòa thứ tư thời Bắc Ngụy, Từ Châu thứ sử Tiết Hổ Tử của Bắc Ngụy dâng sớ: "Quốc gia muốn lấy Giang Đông, trước tiên phải tích thóc ở Bành Thành. Suy xét quân đội tại trấn, không dưới mấy vạn, lụa gạo lương thảo, mỗi người mười hai tấm, chi dùng không định, chưa tới kỳ thay phiên đã không tránh khỏi đói rét, công tư tổn phí. Nay Từ Châu có ruộng tốt mười vạn hơn nghìn khoảnh, thủy bộ phì nhiêu, Thanh Thủy, Bi Thủy thông dòng, đủ để tưới tiêu. Nếu dùng binh lụa mua bò, có thể được vạn con, hưng lập đồn điền, trong một năm, tạm đủ cung cấp lương thực cho quan. Một nửa binh lính cày cấy, nửa còn lại đồn trú, vừa cày vừa giữ, không ngại việc chống giữ biên cương. Thu hoạch một năm, hơn gấp mười lần số lụa, cày cấy tạm thời, đủ sung túc lương thực mấy năm. Sau đó quân lương đều dự trữ vào kho công, sau năm năm, thóc lụa đều tràn đầy, không chỉ quân đồn trú no đủ, mà còn có khí thế nuốt chửng quân địch." [Chú: "Tư trị thông giám", quyển một trăm ba mươi lăm, Tề kỷ một] Đến thời nhà Trần, Ngô Minh Triệt nhân cơ hội Bắc Chu và Bắc Tề tranh chấp mà Bắc phạt, thu phục Hoài Nam, đồng thời mưu tính tiến tranh Hoài Bắc, thu phục Bành Thành, nhưng khi vây công Bành Thành, ông bại trận bị bắt. Cơ hội cuối cùng để Nam triều kinh lược Hoài Bắc cũng mất đi.

Thời Phiên trấn cát cứ đời Đường, Truy Cát tiết độ sứ Lý Chính Kỷ sai binh chốt chặn Dũng Kiều Từ Châu (nay là phía bắc Phù Ly Tập, huyện Túc, An Huy), cửa Oa. Trong chốc lát con đường vận chuyển thủy lộ Nam Bắc bị cắt đứt, hơn nghìn chiếc thuyền tiến cống Giang Hoài đỗ ở cửa Oa không dám tiến lên. Lý Bật kiến nghị với Đường Đức Tông rằng: "Vận tải đường thủy Giang Hoài, lấy Dũng Kiều làm yết hầu, nếu mất Từ Châu, tức là mất Giang Hoài. Quốc dụng biết lấy từ đâu ra! Nên gấp rút xây dựng trọng trấn tại Từ Châu, khiến đường vận tải luôn thông suốt, thì Giang Hoài mới yên ổn." [Chú: "Độc sử phương dư kỷ yếu", quyển hai mươi chín, Giang Nam mười một]

Bỉ Châu (nay là huyện Bỉ) có thể coi là một sự bổ sung cho địa vị của Từ Châu. Bỉ Châu cũng nằm trên tuyến vận tải thủy Hoài Tứ, phía bắc gần Tề Lỗ, phía nam che chắn Giang Hoài, là một trọng yếu của giao thông thủy bộ Nam Bắc. Từ Hoài An từ cửa Tứ vào sông Tứ, ngược dòng sông Tứ đi lên, đến Bỉ Châu; từ Bỉ Châu đi về phía tây bắc men theo sông Tứ đi lên có thể đến Bành Thành mà hướng về Trung Nguyên; từ Bỉ Châu đi về phía đông bắc, đối diện thung lũng sông Nghi, có thể hướng về Sơn Đông. Bỉ Châu và Hoài An cùng là điểm kết nối quan trọng giữa Hoài Bắc và Hoài Nam. Phương Nam tranh Hoài Bắc, phương Bắc tranh Hoài Nam, đều tất phải tranh Bỉ Châu. Lưu Dụ Bắc phạt Nam Yên, thủy quân từ Hoài vào Tứ, đến Hạ Bỉ (nay là huyện Bỉ) thì để lại tàu thuyền rồi đi bộ tiến lên; sau khi diệt Nam Yên, lại muốn "lưu trấn Hạ Bỉ, kinh doanh Tư, Ung"; Lư Tuần xuôi nam đánh Kiến Khang, Lưu Dụ rút quân, binh tới Hạ Bỉ, dùng thuyền chởtư trọng, tự mình dẫn tinh nhuệ bộ kỵ về Kiến Khang. Thời Lưu Tống niên hiệu Thái Thủy, Từ Châu thứ sử Tiết An Đô mang Bành Thành đầu hàng Bắc Ngụy. Uất Nguyên của Bắc Ngụy kinh doanh Bành Thành, từng dâng sớ xin kinh lược Hạ Bỉ, Hoài Dương... để bẻ gãy quân Tống: "Nếu người Tống hướng về Bành Thành, tất phải qua Thanh Tứ, đi qua Túc Dự, trải Hạ Bỉ; hướng về Thanh Châu, đường cũng từ Hạ Bỉ vào sông Nghi, qua Đông An, mấy đường này đều là trọng yếu dụng binh của người Tống, nay nếu trước tiên bình định Hạ Bỉ, dẹp Túc Dự, trấn Hoài Dương, đồn trú Đông An, thì các trấn Thanh, Ký có thể không đánh mà tự khuất." [Chú: "Ngụy thư", quyển năm mươi, Uất Nguyên truyện] Thẩm Du Chi men theo sông Tứ tiến lên phía bắc, mưu tính thu phục Bành Thành, tại cửa Thanh Trở (?) gần Hạ Bỉ bị Bắc Ngụy đánh bại, các châu Hoài Bắc từ đó không thể hỏi đến được nữa. Nhà Trần nhân lúc phương Bắc nội loạn sai Ngô Minh Triệt Bắc phạt, vùng Hạ Bỉ lại trở thành điểm tranh đoạt trọng yếu. Đầu thời Ngũ Đại, Hoài Nam cát cứ, kháng cự Trung Nguyên, vùng Bỉ, Từ kiểm soát đường Hoài Tứ, là điểm tranh đoạt trọng yếu của Nam Bắc. Chu Ôn lấy việc tranh Bỉ, Từ để ngăn Dương Hành Mật, còn Hậu Chu thì lấy việc chiếm Bỉ, Từ để ép Nam Đường.

Đây là tình hình đại quát của hệ thống phòng ngự Giang Hoài tại khu vực Đông Nam. Đại thể mà nói, có thể chia thành mấy tầng nấc: Tuyến Trường Giang có thể coi là một tầng nấc, trên tuyến này có các trọng trấn như Kinh Khẩu, Quảng Lăng, Cô Thục, Lịch Dương, bảo vệ Giang Nam; từ Trường Giang đến sông Hoài có thể coi là một tầng nấc, trong khu vực này có các trọng trấn như Thọ Dương, Chung Ly, Sơn Dương, Vu Di, bảo vệ Hoài Nam; từ sông Hoài đến sông Hoàng Hà lại có thể coi là một tầng nấc, trong khu vực này có các trọng trấn quân sự như Bành Thành, Bỉ Châu, bảo vệ Hoài Bắc.

Mấy tầng nấc này cơ bản đã thể hiện ra thế tấn công và phòng thủ của hai bên Nam Bắc theo sự tăng giảm thế lực. Khi phương Nam cường thịnh, có thể tiến ra phía bắc sông Hoài, tiến chiếm Trung Nguyên; khi phương Nam suy yếu, thì thường rút về phòng thủ Trường Giang, phòng ngự tiêu cực; khi thực lực hai bên Nam Bắc ngang nhau, thì thường lấy tuyến sông Hoài làm tiền duyên đối kháng.

Ba, Bắc phạt của phương Nam

(Một) Vấn đề chính trị của Bắc phạt

Từ Đông Tấn, Nam triều cho đến Nam Tống, chính quyền Đông Nam dưới thế cục đối kháng Nam Bắc đã từng tiến hành nhiều cuộc Bắc phạt. Như Tổ Địch Bắc phạt (320), Chử Bào Bắc phạt (349), Ân Hạo Bắc phạt (353), Hoàn Ôn Bắc phạt (354, 356, 369), Tạ Vạn Bắc phạt (359), Tạ Huyền Bắc phạt (384), Lưu Dụ Bắc phạt (400, 416), Lưu Tống Nguyên Gia Bắc phạt (430, 450, 452). Tiêu Diễn Bắc phạt (505), Ngô Minh Triệt Bắc phạt (573, 577), Nam Tống Trương Tuấn Bắc phạt (1136), Nhạc Phi Bắc phạt (1140), Đoan Bình Bắc phạt (1234) v.v... Từ những cuộc Bắc phạt phát động thường xuyên này, có thể phản chiếu ra một số vấn đề về chính trị.

Đối với chính quyền Đông Nam dưới thế cục đối kháng Nam Bắc mà nói, Bắc phạt luôn là một lá cờ, một lá cờ có thể dùng để thu phục lòng người, chỉnh hợp xã hội phương Nam.

Chính quyền Đông Nam vốn dĩ đa phần là chính quyền di cư, sau khi các dân tộc thiểu số phương Bắc chiếm lĩnh khu vực phương Bắc, họ hầu hết đều chỉnh hợp được xã hội phương Nam, thống nhất nửa giang sơn Giang Nam. Trong quá trình họ chỉnh hợp xã hội phương Nam, Bắc phạt và thu phục Trung Nguyên thường là lá cờ để họ thu phục lòng người.

Thời kỳ đầu Đông Tấn, Nam Tống nam di, phương Bắc bị các chính quyền dân tộc thiểu số chiếm đóng, Trung Nguyên loạn lạc, bách tính ly tán, lòng người không định. Chính quyền nam di muốn thu xếp cục diện, ổn định lòng người, dựa vào thân phận kẻ bảo tồn văn hóa Trung Nguyên và là nơi chính thống trong chính trị truyền thống Trung Quốc. Nhưng họ đều là thu xếp cục diện trong một bối cảnh đặc thù. Trước khi Đông Tấn, Nam Tống nam di, chính quyền Tây Tấn, Bắc Tống đều bị các chính quyền dân tộc thiểu số phương Bắc tiêu diệt. Người kiến lập Đông Tấn là Tư Mã Duệ, người kiến lập Nam Tống là Triệu Cấu đều lấy thân phận tông thất phiên vương để tái thiết xã tắc. Nghĩa là, chính quyền di cư đến Đông Nam không phải là sự di chuyển nguyên vẹn của chính quyền Trung Nguyên. Như vậy, chính quyền mới được thiết lập muốn đứng ra chỉnh hợp cấu trúc xã hội, trật tự xã hội bị xung kích tan tác, thì lại càng phải nhấn mạnh thân phận "chính thống" và kẻ bảo tồn văn hóa Trung Nguyên của mình.

Lúc này, Bắc phạt Trung Nguyên, thu phục lãnh thổ cũ liền có thể trở thành một lá cờ vô cùng hữu dụng. Lá cờ này có thể cho thấy mối liên hệ nội tại giữa chính quyền do mình thiết lập và chính quyền Trung Nguyên. Điểm này có ý nghĩa trọng đại đối với việc duy trì lòng người, chỉnh hợp nội bộ. Nghĩa là, lúc này giương cao khẩu hiệu Bắc phạt Trung Nguyên, đối với ý nghĩa chính trị bên trong chính quyền Giang Nam thậm chí còn vượt xa ý nghĩa của bản thân cuộc Bắc phạt.

Quả thực, Bắc phạt Trung Nguyên, xua đuổi Hồ nhân, thu phục lãnh thổ cũ, trở về cố thổ, đối với việc chấn hưng lòng người xã hội có sức hiệu triệu rất lớn, đây cũng là một nguồn lực tinh thần mà Bắc phạt có thể lợi dụng. Câu nói của Vương Đạo khi các sĩ nhân vượt sông khóc ở Tân Đình: "Đương cộng lục lực vương thất, khắc phục thần châu, hà chí tác Sở tù tương đối khấp da!" [Chú: "Tấn thư", quyển sáu mươi lăm, Vương Đạo truyện] (Nên cùng dốc sức vì vương thất, khắc phục Thần Châu, sao phải làm tù nhân nước Sở mà nhìn nhau khóc chứ!), cảm động lòng người biết bao! Những lời hùng tráng "Tráng chí cơ xan Hồ lỗ nhục, tiếu đàm khát ẩm Hung Nô huyết" (Tráng chí đói ăn thịt quân Hồ, cười nói khát uống máu Hung Nô) của Nhạc Phi lại hào sảng, hào hùng biết bao!

Nhưng trong lịch sử, các cuộc Bắc phạt do chính quyền Đông Nam dưới thế cục đối kháng Nam Bắc phát động tuy nhiều, nhưng cuộc Bắc phạt thực sự triệt để, thực sự thành công lại rất ít. Nếu Bắc phạt chỉ đơn thuần đóng vai trò là một lá cờ để thu phục lòng người, chỉnh hợp xã hội, thì mức độ chỉnh hợp xã hội ngược lại cũng sẽ ảnh hưởng đến sự thành tựu của chính cuộc Bắc phạt đó. Chỉ trong một xã hội được chỉnh hợp tương đối thành công mới có thể ngưng tụ ra lực lượng tương đối mạnh mẽ; ngược lại, nếu chỉnh hợp xã hội không đủ, thì không thể ngưng tụ ra lực lượng xã hội mạnh mẽ, cũng không thể có cuộc Bắc phạt thành công và có ý nghĩa triệt để hơn.

Thời kỳ đầu Đông Tấn, hoàng quyền bị lấn át, chính trị môn phiệt khá điển hình. Các đại tộc Vương, Dữu, Hoàn, Tạ lần lượt nắm chính quyền, mấy đại tộc lớn kiềm chế lẫn nhau, lại duy trì lẫn nhau, nhờ đó duy trì được cục diện chính xuất đa môn (chính lệnh từ nhiều nguồn). Cục diện này ngăn trở việc thiết lập toàn diện trật tự thống trị phong kiến; cũng ngăn trở việc chỉnh hợp toàn diện xã hội Giang Nam, cho nên, các cuộc Bắc phạt thời kỳ đầu Đông Tấn như của Tổ Địch, Chử Bào, Ân Hạo, Tạ Vạn, Tạ Huyền, mức độ chỉnh hợp xã hội phương Nam còn xa mới đủ, yếu tố kìm hãm Bắc phạt rất nhiều, nên không đạt được thành tựu lớn.

Tổ Địch Bắc phạt, triều Tấn không hề cho sự ủng hộ thực chất. Mà khi Tổ Địch vừa mới gây dựng được nền móng ở Hà Nam, triều Tấn liền phái Đái Uyên đến tiết chế. Tổ Địch nghĩ đến việc mình "đã tiễn kinh cức (dẹp gai góc), thu phục đất Hà Nam, mà (Đái) Uyên ung dung, một sớm đến thống lĩnh, ý rất uất ức; lại nghe Vương Đôn và Lưu (Khôi), Điêu (Hiệp) gây hiềm khích, sắp có nội nạn, biết đại công không thành, cảm kích phát bệnh." [Chú: "Tư trị thông giám", quyển chín mươi mốt, Tấn kỷ mười ba] Chẳng bao lâu sau bệnh chết, sự nghiệp Bắc phạt công dã tràng. Chử Bào Bắc phạt, "triều dã đều cho rằng Trung Nguyên chỉ ngày có thể khôi phục", mà Quang lộc đại phu Sái Mô thì "độc điệu sở thân viết: ‘Hồ diệt thành vi đại khánh, nhiên khủng canh di triều đình chi ưu.’" [Chú: "Tư trị thông giám", quyển chín mươi tám, Tấn kỷ hai mươi] (Riêng bảo người thân rằng: "Hồ diệt thực sự là đại hỷ, nhưng sợ rằng lại để lại mối lo cho triều đình."). Khi đó ý đồ của các bên và mâu thuẫn lẫn nhau không thể thấu thị trong vài câu, nhưng sự thực lịch sử trên đã đủ cho thấy cuộc Bắc phạt của Chử Bào không nhận được sự ủng hộ rộng rãi của xã hội Giang Đông.

Đôi khi, Bắc phạt thậm chí trở thành một công cụ đấu tranh quyền lực của các đại tộc môn phiệt. Như cuộc Bắc phạt của Ân Hạo chính là như vậy. Cuộc Bắc phạt của Ân Hạo phần lớn là vì triều Tấn muốn ức chế Hoàn Ôn. Hơn nữa, khi Ân Hạo Bắc phạt, Vương Hi Chi xuất thân từ môn đệ cao nhất Giang Tả từng gửi thư cho Ân Hạo rằng: "Nay quân bại ở bên ngoài, tài lực cạn kiệt ở bên trong, chí bảo vệ sông Hoài, không còn có thể chạm tới. Chi bằng quay về giữ Trường Giang, các đốc tướng đều phục hồi trấn cũ. Từ ngoài Trường Giang trở đi, chỉ là chi phối lỏng lẻo mà thôi." [Chú: "Tư trị thông giám", quyển chín mươi chín, Tấn kỷ hai mươi mốt] Đối với Bắc phạt cũng không hề tán thành. Sau khi Bắc phạt của Ân Hạo thất bại, Hoàn Ôn thừa cơ phản kích, từ đó chiếm lấy tư cách Bắc phạt cho mình, đồng thời cũng nắm đại quyền quân chính Đông Tấn vào tay.

Hoàn Ôn Bắc phạt có thể nói là đã đạt được ảnh hưởng nhất định. Nhưng dụng ý Bắc phạt của Hoàn Ôn, không hoàn toàn nằm ở việc thu phục phương Bắc. Ông ta binh lâm Bá Thượng nhưng không nghe theo lời Vương Mãnh mà tiến thẳng tấn công Trường An, tiến tới Phường Đầu mà không nghe theo lời Xước Siêu mà tiến thẳng hướng Nghiệp Thành, từ đó có thể thấy được tâm thái kiêu hùng tuy chuyên quyền binh mã bên ngoài nhưng ý ở Kiến Khang. Chính tâm thái kiêu hùng này đã ngăn trở việc đạt được thành tựu Bắc phạt sâu xa hơn của ông ta. Hoàn Ôn chuyên quyền thượng du trong thời gian dài, khống chế triều đình từ xa, dù đại tộc Vương, Tạ cũng không cách nào tài chế.

Khi Tạ Huyền Bắc phạt, đúng vào lúc tận dụng sĩ khí cao ngất ngưỡng sau trận Phì Thủy và cục diện phân loạn phương Bắc, vốn dĩ nên đạt được thành tựu lớn hơn; nhưng lúc này, Tạ An đang vì công lao cương kiến bất thế (cứng rắn xây dựng công lao không ai bằng) mà chịu sự nghi kỵ của nhà Tư Mã, kiến nghị xin tự đồn trú Bành Thành để "nội phiên triều đình" của Tạ Huyền thậm chí còn không được triều nghị chấp thuận.

Khi Lưu Dụ Bắc phạt, ít nhất có thể coi là sự quyền quy nhất (quyền hành tập trung về một mối), chịu sự kìm hãm ít hơn. Nhưng việc Bắc phạt của ông có ý đồ lập công ngoại cảnh để xây dựng uy vọng cá nhân, mục đích cuối cùng của ông là muốn tạo Tống thay Tấn. Lưu Dụ xuất thân từ sĩ tộc thứ đẳng. Trong một xã hội vẫn lấy sĩ tộc di cư làm chủ thể chính trị, lấy một sĩ tộc thứ đẳng, muốn thay thế chính quyền nhà Tư Mã mà các cao môn sĩ tộc cùng duy trì hơn trăm năm, thì bắt buộc phải có được sự ủng hộ của các cao môn sĩ tộc này, đây là vấn đề chính trị chủ yếu mà Lưu Dụ tạo Tống phải đối mặt. Vì vậy, ông phải lập nên công huân đủ để lấy lòng triều dã trên chiến trường đối phó quân địch phương Bắc, để chuẩn bị cho việc cải triều hoán đại. Điều này đã gây ra ảnh hưởng lớn đến việc đạt được thành tựu xa hơn và củng cố thành quả Bắc phạt của ông.

Bắc phạt của Lưu Dụ có thể nói là đã đạt được thành tựu tương đối lớn. Thế nhưng, mặc dù ông đã bình định Hoàn Huyền, Lư Tuần, Tiều Túng, tiêu diệt Nam Yên, Hậu Tần, võ công trác việt, nhưng sự chấp nhận của cao môn sĩ tộc đối với ông vẫn còn hạn chế. Ông tuy nắm quyền quân chính, nhưng cơ sở xã hội vẫn còn bạc nhược. Cho nên, khi ông vừa đánh diệt Hậu Tần, nghiệp Bắc phạt như mặt trời ban trưa, nghe tin mưu sĩ quan trọng, người trấn giữ Kiến Khang là Lưu Mục Chi chết, cảm thấy "căn bản vô thác" (gốc rễ không nơi gửi gắm), bèn từ Trường An vội vàng đông quy (trở về phía đông), dẫn đến việc Quan Trung vừa được đã mất, rơi vào tay Hách Liên Hạ. Sau khi ông chết, Bắc Ngụy thừa cơ tang lễ nam xâm, Hà Nam lại rơi vào tay Bắc Ngụy. Mà điểm này lại ảnh hưởng đến quan hệ Nam Bắc suốt thời Nguyên Gia sau này.

Vốn dĩ, quãng thời gian Lưu Dụ bính chính cuối thời Tấn là giai đoạn lực lượng phương Nam mạnh nhất, thế địa lý chiếm giữ cũng tốt nhất trong lịch sử Đông Tấn Nam triều, Bắc phạt của Lưu Dụ vốn có thể đạt được thành tựu lớn hơn, ít nhất, thành tựu ông đã đạt được có thể nhận được sự củng cố xa hơn, nhưng do những nguyên nhân nêu trên, dẫn đến việc thành tựu Bắc phạt của ông bị chiết khấu đáng kể.

Thời Lưu Tống, hoàng quyền được tăng cường, khi Lưu Nghĩa Long Bắc phạt, đã có thể tập trung toàn bộ quốc lực để tiến hành Bắc phạt, nhưng lúc này "quan niệm Nam Bắc (Hoa Di)" đã xuất hiện một sự thay đổi vi diệu. Từ khi Lưu Dụ thay Tấn, sự thay đổi vi diệu trong quan niệm này đã bắt đầu manh nha. Lưu Dụ sau khi Lưu Mục Chi chết vội vã đông quy, đã là vứt bỏ Quan Trung không màng; suy yếu Dự Châu (trước khi Lưu Dụ chết chia Dự Châu thành hai bộ Nam, Bắc, Nam trọng Bắc khinh) thì lại là vứt bỏ Hà Nam không màng; Lưu Nghĩa Long Bắc phạt, sai sứ bảo chủ Ngụy "nay đương tu phục cựu cảnh, bất quan Hà Bắc." [Chú: "Tư trị thông giám", quyển một trăm hai mươi mốt, Nguyên Gia năm thứ bảy] Chỉ mưu tính Hà Nam, không hỏi Hà Bắc, đã không còn ý muốn thu phục lãnh thổ cũ phương Bắc, sai sứ đến Bắc Ngụy, thì lại một lần nữa thay đổi lập trường "không thông sứ với Lưu, Thạch" thời Đông Tấn [Chú: "Nhị thập nhị sử khảo dị", quyển mười tám, Tấn Mục Đế Vĩnh Hòa năm thứ bảy]. Những dấu hiệu này cho thấy, giữa thời Tấn Tống, "quan niệm Nam Bắc (Hoa Di)" đã xuất hiện một sự thay đổi vi diệu. Đối với hiện trạng chính trị đối kháng Nam Bắc "Hoa Di" đã là một sự chấp nhận đương nhiên, việc Bắc phạt của họ đã hoàn toàn không còn ý muốn thu phục lãnh thổ cũ, thống nhất thiên hạ.

Cuộc Bắc phạt thời Nam Tống thì do đặc tính thiên an (cầu an tạm bợ) của vương triều họ Triệu và sự nghi kỵ, không tín nhiệm nhất quán đối với các tướng lĩnh cầm quân mà bị kiềm chế. Vương triều Triệu Tống vì muốn cầu an ở Đông Nam, thậm chí không tiếc tự hủy trường thành, giết chết danh tướng như Nhạc Phi.

Những sự thực lịch sử Bắc phạt nêu trên, có một đặc tính chung, đó là ý đồ Bắc phạt của người cầm quyền thực tế đều nằm ngoài Bắc phạt. Nếu muốn truy cứu sâu hơn, lại phải truy ngược về nhược điểm chính trị của bản thân toàn bộ chính quyền di cư. Chính quyền di cư vốn là sản phẩm của việc bị cường địch bức bách, buộc phải di cư, nên không tránh khỏi đặc tính cầu an và không muốn tiến thủ. Có thể thu xếp được cục diện nửa giang sơn Giang Nam đã vô cùng thỏa mãn. Điểm này thể hiện khá điển hình trong thượng sớ của Tôn Xước thời Đông Tấn.

Khi đó Hoàn Ôn Bắc phạt thu phục Lạc Dương, bèn dâng sớ xin triều Tấn hoàn về cố đô Lạc Dương, các triều thần vì "đất Bắc tiêu điều, nhân tình nghi khiếp", không muốn dời đô lên phía bắc. Lúc này Tôn Xước dâng sớ rằng: "Xưa Trung Tông (Tấn Nguyên Đế) long phi, không chỉ tin thuận hiệp với trời người, thực sự dựa vào vạn dặm Trường Giang vẽ ra mà giữ nó vậy. Nay từ sau tang loạn (tang loạn) đến nay, hơn sáu mươi năm, Hà, Lạc khâu khư, Hàm Hạ tiêu điều, sĩ dân bôn lưu Giang biểu, đã trải mấy thế hệ, người còn thì già nua cháu dài, người mất thì mồ mả thành hàng, tuy gió bắc tư niệm cảm động tố tâm (tâm hồn thuần khiết) của họ, nhưng nỗi ai oán trước mắt thực là giao thiết. Nếu dời đô xoay bánh xe ngày, trung hưng ngũ lăng, tức phục miên thành hà vực (vùng đất xa xôi). Thái Sơn chi an đã khó lấy lý mà bảo, chưng chưng chi tư (tư niệm nồng nàn) há chẳng quấn quýt nơi thánh tâm sao! (Hoàn) Ôn nay cử động này, thành muốn đại lãm thủy chung, vì nước viễn đồ; mà bách tính chấn hãi, đồng hoài nguy khiếp, há chẳng phải vì cái vui phản cựu (trở lại cũ) thì xa, cái lo xu tử (lao vào cái chết) thì gần sao! Sao vậy? Cắm rễ ngoài sông, mấy chục năm rồi, một sớm đốn muốn nhổ nó đi, khu trì ở vùng cùng hoang (đất cùng cực), đề khiết vạn dặm, vượt hiểm nổi sâu, lìa mồ mả, bỏ sinh nghiệp, ruộng vườn không thể bán lại, thuyền xe không nơi mà có, bỏ nước an lạc, đi đến chốn tập loạn, sẽ đốn bộc (ngã gục) đạo đồ,phiêu nịch (trôi dạt) giang xuyên, chỉ có người đạt mới tới được. Đây là điều nhân giả nên ai khâm (thương xót), quốc gia nên sâu lo vậy!" [Chú: "Tư trị thông giám", quyển một trăm linh một, Tấn kỷ hai mươi ba]

Lời của Tôn Xước, bất kể là vào thời đó hay đời sau, đều rất có tính đại diện. Đất di cư Giang Nam, đã thành "phong thái an lạc"; cố thổ Trung Nguyên, trái lại thành "chốn tập loạn". Có thể bảo toàn "nước an lạc" Giang Nam đã vô cùng thỏa mãn. Trong lịch sử, các chính quyền di cư đến Đông Nam tuy nhiều lần lấy Bắc phạt, thu phục Trung Nguyên làm khẩu hiệu, nhưng Bắc phạt thực sự triệt để thì ít, điều này có quan hệ rất lớn với đặc tính trên của chính quyền di cư.

Xuất phát từ nhu cầu chính trị, lấy Bắc phạt làm lá cờ để chỉnh hợp xã hội phương Nam, vốn không có gì đáng trách. Trong lúc phương Bắc luân vong, Trung Nguyên bản đãng, khẩu hiệu Bắc phạt quả thực có ý nghĩa trọng đại đối với việc tái thiết xã tắc, thu phục lòng người, chấn hưng sĩ khí, đặt nền móng quy mô lập quốc Giang Nam. Bắc phạt lúc này thực tế có ý nghĩa kép là chỉnh hợp nội bộ và đối kháng địch phương Bắc.

Tuy nhiên, Bắc phạt ngoài việc là lá cờ ra, dẫu sao cũng nên có nội hàm của bản thân nó. Chỉ trong một xã hội được chỉnh hợp tương đối thành công mới có thể ngưng tụ ra lực lượng mạnh mẽ, mới có thể có cuộc Bắc phạt thực sự triệt để. Lúc này, sự quyền quy nhất (quyền hành thống nhất), tướng soái dụng mệnh, sĩ khí chấn hưng, tổ chức xã hội, động viên xã hội cũng thông suốt hữu hiệu.

Nếu sự chỉnh hợp xã hội phương Nam đã tương đối thành công, thì không cần phải lấy Bắc phạt làm bảng hiệu, Bắc phạt mới có thể là cuộc Bắc phạt thực sự triệt để. Vốn dĩ, khi chính quyền di cư đã củng cố nền tảng ở Giang Nam, kinh doanh nội bộ bước đầu có quy mô, thì có thể tiến hành tiến thủ xa hơn; nhưng đối với chính quyền di cư đến Đông Nam, Bắc phạt đa phần chỉ dừng lại ở tầng nghĩa thứ nhất, chỉ đơn thuần là một lá cờ, một bảng hiệu, cho nên ít có cuộc Bắc phạt tương đối triệt để, cũng ít có cuộc Bắc phạt tương đối thành công.

So với các chính quyền di cư như Đông Tấn, Nam triều và Nam Tống, cuộc Bắc phạt của Chu Nguyên Chương thời Minh sơ mới là cuộc Bắc phạt thực sự triệt để. Chu Nguyên Chương tuy cũng khởi từ Đông Nam, nhưng nền tảng chính quyền của ông không có các đặc tính như chính quyền di cư nêu trên, không cần phải lấy Bắc phạt làm bảng hiệu để an định nội bộ, mục đích Bắc phạt chính là muốn xua đuổi Thát Đát, khôi phục thiên hạ của người Hán. Cho nên cuộc Bắc phạt của ông mới là cuộc Bắc phạt thực sự triệt để, cũng chính vì triệt để, cuộc Bắc phạt của ông mới đạt được thành công cuối cùng.

[Dịch từ bản hv] ChuongId:78
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.