Tuy nhiên, ông ngoại của Penthée là Cadmus lên tiếng quở trách y. Và người dượng Athamas[1] cũng như tất cả các quân sư của y tìm cách ngăn cản y thực hiện ý định này nhưng thảy đều vô ích. Họ càng cảnh báo thì y càng hăm hở, càng khuyên can thì y càng tức khí, càng kiềm chế thì y càng bốc lên nhanh cơn giận dữ dội; y cảm thấy mình bị khiêu khích bởi những nỗ lực ngăn chặn của họ. Như tôi đã từng nhìn một con sông, khi không có gì làm nghẽn dòng nước thì nó chảy một cách êm ả, chỉ tạo ra tiếng rì rầm dịu dàng, nhưng ở chỗ nào mà có thân cây hay đá chất đống làm nghẽn thì nó sục sôi giận dữ, thì nó sủi bọt đục ngầu, những chướng ngại giữa đường khiến nó hung tợn hơn.
Nhưng bây giờ các tên nô lệ đã trở lại, máu me đầy người, và khi Penthée lên tiếng hỏi Bacchus đâu rồi, chúng trả lời là chúng không tìm thấy chàng. Tuy vậy, chúng nói thêm:
“Đây là bạn đồng hành với tên Bacchus, nó là thầy tế làm lễ theo các nghi thức linh thiêng của bọn nó, bọn tôi bắt mang về đây.”
Người tù được dẫn ra, tay bị trói chặt sau lưng; anh ta đến từ xứ Tyrrhénie, và là người sùng bái Bacchus. Penthée nhìn anh ta một lúc, ánh mắt trở nên khủng khiếp vì nỗi tức giận tột bực, tay chân bứt rứt vì chưa hạ thủ trừng phạt, rồi lên tiếng:
“Tên kia, mi bị tội chết, và cái chết này sẽ cảnh báo những kẻ khác, nhưng trước hết hãy khai tên ra, tên cha mẹ, xứ sở, và nói ta nghe tại sao mi hiến dâng mình cho cái đạo mới này?”
Không tỏ ra sợ hãi chút nào, anh ta trả lời:
“Tôi tên là Acétès, đất nước tôi là Méonie[2], cha mẹ tôi thuộc tầng lớp thấp kém. Cha tôi chẳng để lại ruộng đồng hay bò đực khỏe mạnh để cày cấy, chẳng để lại đàn cừu để lấy len, hay bất cứ đàn gia súc nào. Ông ấy bản thân cũng nghèo lắm, thường dùng nào lưỡi, nào dây, nào cần, để câu cá ở các con sông nhỏ. Tay nghề ông là tất cả sự giàu có của ông, và khi ông truyền nó lại cho tôi thì ông nói: ‘Học nghề này đi, nó là tất cả tài sản của cha đó. Con phải là người thừa kế và người nối nghiệp của cha.’ Và khi chết thì ông không để lại cho tôi gì cả, ngoài nước ở mấy con sông ấy. Nước là thứ duy nhất mà tôi có thể gọi là của thừa kế!
Chẳng bao lâu sau đó, vì không muốn chôn chân mãi trên cùng mấy tảng đá để câu cá, tôi đã học cách lái tàu thủy thuận theo bàn tay dẫn dắt của mình; tôi học dò đường trên biển theo các vì sao trên trời như chòm sao mưa Chèvre d’Olénos[3], như Taygété[4] và Hyades[5], như Đại và Tiểu Hùng Tinh; tôi tìm hiểu các ngọn gió và đoán chúng thổi về hướng nào; tôi biết được những bến cảng nào thì tốt nhất cho tàu bè neo đậu.
Rồi một ngày kia trên đường đến đảo Délos[6] thì thuyền tôi tình cờ lạc đến bờ biển của đảo Chios[7]. Tôi phải sử dụng mái chèo hết sức khéo léo nên thuyền mới cập được bờ. Bằng các bước nhảy nhẹ, chúng tôi đặt chân lên bờ cát ướt và qua đêm trên đất liền. Khi bầu trời phương Đông vừa mới ửng hồng là tôi đứng dậy và ra lệnh cho những người đồng hành đi tìm nước ngọt, chỉ cho họ lối đi nhỏ dẫn đến con suối. Còn tôi thì làm phần việc của mình: tôi leo lên một ngọn đồi cao, từ đó tôi quan sát hướng gió thổi; xong tôi gọi các bạn đó quay về rồi tôi bắt đầu trở lại thuyền. Opheltès về đến trước các người khác, lên tiếng kêu tôi:
‘Này, nhìn xem nào!’
Anh ta dắt theo một cậu bé đẹp như một cô gái trẻ, cho rằng đây là một phần thưởng mà anh ta tìm thấy ở một cánh đồng vắng vẻ. Cậu bé đó có vẻ loạng choạng như thể say rượu hay buồn ngủ, khó nhọc lắm mới bước theo được Opheltès. Tôi chăm chú nhìn áo quần, mặt mũi và dáng đi của nó; và theo tất cả những gì tôi thấy thì tựa hồ nó không phải là người phàm. Tôi nhận biết như vậy và tôi nói với các bạn đồng hành:
‘Tôi không biết thần linh nào ẩn trú bên trong cái thân xác trần tục này, nhưng chắc chắn là có một vị thần trong đó. Dù ngài là ai đi nữa, xin hãy độ lượng với chúng tôi, xin hãy ra tay hỗ trợ công việc chúng tôi. Và cũng xin ngài hãy tha thứ bọn anh em đây.’
Nhưng Dictys, người có khả năng leo lên trục căng buồm và đu dây leo xuống nhanh nhất trong đám thủy thủ, nói to:
‘Đừng cầu nguyện cho bọn tao!’
Và Libys, rồi Mélanthus tóc vàng, kẻ canh gác ở mũi tàu, và Alcimédon rồi Épopée, kẻ dùng giọng nói âm vang để điều khiển nhịp chèo và khuyến khích các tay chèo mỗi khi tinh thần họ sa sút, đều tỏ ra đồng tình với Dictys. Cả bọn còn lại cũng hưởng ứng, quáng mắt và vô tâm vì lòng tham trước của cải lấy được[8] này.
‘Nghe đây, dù tụi mày có muốn thì tao vẫn không để cho con thuyền này bị ô uế bởi sự xúc phạm thần linh như vậy,’ tôi nói, ‘Ở đây quyền chỉ huy thuộc về tao mà!’ Và tôi ra sức ngăn cản khi họ tìm cách leo lên thuyền. Lúc đó thì Lycabas tức điên lên, hắn là kẻ liều lĩnh nhất trong đoàn thủy thủ, từng mang tội giết người kinh tởm nên bị hình phạt lưu đày ra khỏi xứ Toscane của hắn. Trong khi tôi giữ hắn lại thì hắn bóp cổ tôi với hai bàn tay rất mạnh và có lẽ đã ném được tôi xuống nước nếu như, theo phản ứng tự nhiên, tôi không nắm chặt lấy sợi dây thừng để giữ tôi lại. Bọn nghịch đạo lại reo hò cổ vũ Lycabas. Rồi cuối cùng Bacchus - đúng là vị thần ấy - như thể bị tiếng la hét làm cho tỉnh dậy từ giấc ngủ, và như thể tìm lại được các giác quan sau cơn say, lên tiếng:
‘Các ông đang làm gì vậy? Sao lại náo động thế này? Này các ông thủy thủ, hãy cho tôi biết làm sao tôi lại đến đây, và các ông định đưa tôi đi đâu?’
‘Đừng sợ gì cả,’ Prorée trả lời, ‘chỉ cần nói mày muốn đến bến cảng nào thì tụi tao sẽ đưa mày đến đó, đúng theo ý mày.’
‘Vậy thì hãy nhắm hướng đảo Naxos[9] mà đi,’ Bacchus nói, ‘Nhà tôi ở đó. Các ông sẽ thấy đó là một vùng đất thân thiện.’
Những tên xảo trá này bắt đầu thề trước thần linh và biển cả là chúng sẽ làm việc này, và ra lệnh cho tôi giăng buồm đưa con thuyền sơn nhiều màu ra khơi. Naxos nằm bên phía tay mặt, và trong khi tôi kéo buồm về phía đó thì Opheltès nói to:
‘Mày làm gì thế hả thằng ngu? Bộ mày khùng rồi à? Lái thuyền về phía tay trái đi!’
Phần lớn bọn thủy thủ, dù mỗi đứa lo lắng cho riêng mình[10], ra dấu bằng cách gật đầu hay nháy mắt cho tôi biết chúng muốn gì, và vài đứa thì thầm bên tai tôi. Tôi thấy kinh tởm quá, và tôi nói với chúng:
‘Vậy thì để ai khác cầm lấy bánh lái đi! Tao không muốn dính dáng gì đến âm mưu ác độc của tụi mày.’
Cả bọn nhao nhao phản đối tôi, kẻ thì la hét, kẻ thì càu nhàu, tất cả lộ vẻ giận dữ. Và một đứa trong bọn đó, Éthalion, lớn tiếng la lối:
‘Mày cứ tưởng là mạng sống của tụi tao chỉ tùy thuộc vào mày không à?’
Nói thế xong, hắn đến chỗ tôi cầm lấy bánh lái, và cho thuyền quay ngược lại với hướng Naxos mà đi.
Thần Bacchus lúc đó ra vẻ giễu cợt như thể ngài vừa mới phát hiện ra trò lật lọng của bọn chúng, đưa mắt nhìn biển từ cái đuôi thuyền uốn cong rồi vừa giả bộ mếu máo, vừa nói to:
‘Các ông thủy thủ ơi, đây không phải là những bến bờ mà các ông hứa với tôi, và đây không phải là xứ sở mà tôi tìm về! Tôi đã làm gì sai quấy mà bị đối xử như thế này hả? Và các ông, người lớn rồi, sẽ tìm được vinh quang gì khi lừa gạt một thằng bé như tôi hả? Lại cả đám nhiều người đi gạt chỉ một người nữa chứ!’
Tôi đã bật khóc từ lâu nhưng bọn thủy thủ báng bổ thần linh cứ cười nhạo những dòng nước mắt ràn rụa trên mặt tôi, và ra sức chèo thật nhanh đưa thuyền lướt sóng ra khơi.
Bây giờ tôi xin thề trước chính vị thần này (vì không có thần linh nào chắc chắn hiện diện ở đây hơn ngài[11]) rằng những gì tôi kể ra là sự thật, cho dù sự thật này thì rất khó tin: con thuyền bỗng đứng im trên sóng như thể nó bị giữ lại ở ụ cạn. Bọn thủy thủ, sửng sốt, tăng sức chèo và giương hết buồm, mong cho thuyền đi nhanh bằng hai lực đẩy cùng lúc này. Nhưng các nhánh cây thường xuân đã bám chặt và quấn quanh các mái chèo rồi leo dần lên với nhiều tua, cái thì kết nối, cái thì lủng lẳng, và tô điểm các cánh buồm bằng những chùm quả mọng nặng trĩu. Rồi vị thần, đầu đội một vòng lá kết với các chùm nho, đưa tay huơ cái gậy thần bọc lá thường xuân. Thế là xung quanh ngài xuất hiện như ảo ảnh nào cọp, nào mèo rừng, nào báo có đốm hung tợn. Bọn người đó lật đật nhảy khỏi thuyền, bị xua đuổi bởi cơn điên hay nỗi sợ hãi. Và đầu tiên là thằng Médon, cả người hắn bỗng đen dần, và lưng hắn bị vồng lên thành một đường cong rõ rệt. Thế là thằng Lycabas buột miệng nói với hắn:
‘Mày đang biến thành cái giống gì kỳ quái vậy?’
Nhưng trong khi đang nói thì cái quai hàm của chính hắn bỗng dưng rộng ra, mũi hắn cong lại như cái móc, da trở nên cứng và đóng vảy. Và Libys, đang ra sức đẩy mái chèo giờ đây nặng nề chợt nhận ra hai bàn tay mình bất ngờ co rút lại thành thứ gì mà ta không thể gọi là bàn tay được nữa, mà là vây cá. Một tên thủy thủ khác, định đưa hai tay ra để chụp lấy sợi dây thừng bị xoắn lại, thì thấy hai cánh tay mình đã biến đâu mất, và uốn cong thân hình không tay đó mà lùi dần ra sau rồi rớt tõm xuống biển: người ta còn kịp thấy cái đuôi của hắn cong lại như hình trăng lưỡi liềm. Từ mọi phía, chúng tung mình vọt lên rồi rơi xuống làm nước bắn tung tóe; chúng lại trồi lên mặt nước, chỉ để quay về dưới biển sâu lần nữa; chúng nô đùa thoải mái với thân thể mình như một đoàn múa đang tung hứng lẫn nhau, và hút nước biển rồi phun ra bằng hai lỗ mũi rõ to[12].
Trong đám hai mươi người - vì đó là số người mà chiếc thuyền mang đi - thì chỉ có mình tôi còn lại trên thuyền. Và trong khi tôi đứng run lẩy bẩy vì sợ khiếp cả người, hầu như không biết mình đã làm gì, vị thần Bacchus tới gần, làm tôi yên lòng bằng những lời này:
‘Can đảm lên nào! Và cứ tiếp tục đi đến Naxos!’
Một khi thuyền cập bến ở đảo ấy, tôi liền theo đạo của ngài và trở thành một trong những tín đồ của Bacchus.”
Đợi cho Acétès nói hết Penthée mới lên tiếng:
“Ta đã để tai nghe câu chuyện dông dài và lộn xộn của mi, chính là vì muốn cho cơn giận của ta có thời gian mà nguôi ngoai. Này, các tên nô lệ kia, bây giờ xách cổ hắn mang ra khỏi đây, cho thân thể hắn nếm mùi cực hình tra tấn đáng sợ nhất rồi gởi hắn xuống chầu Diêm vương!”
Ngay lập tức Acétès, người xứ Tyrrhénie, bị kéo lê ra ngoài rồi bị ném vào một hầm tù kiên cố. Và trong khi các tên nô lệ sửa soạn các dụng cụ tra tấn tàn độc - các thứ đồ sắt và lửa - thì cửa ngục tự mở toang ra, xích xiềng tự rơi khỏi tay chân người tù, dù không ai tháo ra.
Nhưng Penthée không thay đổi ý định, không ra lệnh cho kẻ khác mà tự mình bỏ công đi đến núi Cithéron, nơi được chọn làm địa điểm cử hành các đạo lễ linh thiêng của thần Bacchus, đang vang lừng tiếng hát và tiếng gào thét của đám người cúng tế. Như con ngựa chiến hí lên khi nghe tiếng kèn xung phong quen thuộc, máu nóng sục sôi hăm hở xuất trận, Penthée bị kích động bởi tiếng la hét kéo dài làm rung chuyển không khí, và cơn giận của y lại bùng phát dữ dội khi sự huyên náo cuồng loạn dội vào tai y.
Vào quãng nửa đường lên núi có một khu đất bằng phẳng không cây cối nhưng được rừng rậm bao quanh, có thể thấy nó từ bất cứ phía nào. Tại đây, trong khi Penthée kín đáo đứng nhìn, bằng cặp mắt phàm tục, các nghi thức thiêng liêng đang được cử hành thì có một người đàn bà trông thấy y đầu tiên; bà lập tức nổi điên lao tới y đầu tiên, và cũng là người đầu tiên giơ cây gậy đầu bịt núm thông quấn cành nho đánh đập y; bà chính là Agavé, mẹ y đó.
“Này các chị ơi[13],” bà kêu to, “chạy đến đây đi! Nhìn cái con heo rừng to đùng đi rình mò kiếm mồi trên các cánh đồng của chúng ta đây này. Em phải xé xác nó ra bây giờ.”
Và cả đám đông cuồng loạn lao tới y; từ bốn phía họ cùng đổ đến và đuổi bắt cái tên khốn khổ đang hoảng sợ này - đúng thế, y bây giờ thất kinh hồn vía, miệng lắp bắp những lời dễ nghe hơn, nguyền rủa hành vi ngu xuẩn của mình và thú nhận đã mắc tội. Bị thương nặng, y rống lên thống thiết:
“Dì Autonoé ơi, cứu con với! Hãy để bóng ma của anh Actéon[14] làm mủi lòng dì!”
Nhưng người dì này chẳng biết Actéon là ai, giật đứt cánh tay mặt của Penthée; và Ino, điên cuồng, giật phăng cánh tay trái. Thế là gã đàn ông bất hạnh này chẳng còn tay nào để đưa ra mà van xin với mẹ mình nhưng vẫn cố cho bà thấy tấm thân thương phế cụt cả hai tay, miệng thì kêu gào:
“Ôi, mẹ ơi, nhìn con này!”
Agavé nhìn rồi rú lên như điên như dại, đầu hất mạnh, tóc rối tung. Giật đầu con trai mình lìa khỏi cổ. Cầm nó trong hai bàn tay đẫm máu, bà hét to:
“Hỡi các bạn đồng đạo, hãy nhìn đi! Chiến thắng này là phần thưởng cho công sức của tôi đó!”
Gió có thổi bay những chiếc lá cuối cùng còn bám lại trên ngọn cây sau cơn lạnh mùa thu đầu tiên thì cũng không nhanh hơn những bàn tay tàn độc đã làm đứt lìa hai cánh tay của Penthée. Nhận một bài học kinh khiếp đến thế, đàn bà thành Thèbes tụ họp thật đông để cử hành những nghi lễ bí truyền của vị thần mới, đốt hương cúng bái và quỳ lạy trước những điện thờ của ngài.
❀ ❀ ❀
[1] Tyrrhénie: hay Étrurie. Người dân vùng này thì gọi là Tyrrhénien hay Étrusque. (Tiếng Anh: Tyrrhenian hay Etruscan). Biển Tyrrhénie (Tyrrhenian Sea) nằm ở miền Tây Địa Trung Hải, giữa phía Tây nước Ý và các đảo Corse, Sardaigne và Sicile ngày nay.
[2] Athamas: chồng của Ino, một trong bốn con gái của Cadmus. Ino là chị (hay em gái) của Agavé, mẹ của Penthée.
[3] Méonie (tiếng Anh: Maeonia): hay còn gọi là Lydie (tiếng Anh: Lydia), là một nước ở vùng Tiểu Á (Asia Minor, ngày nay là phần lớn nước Thổ Nhĩ Kỳ) có tiếng giàu có. Ở đây, Ovide đồng hóa người xứ Méonie ở phương Đông với người xứ Étrurie (ở miền Trung nước Ý ngày nay).
[4] Chèvre d’Olénos (tiếng Anh: Olenian Goat): a) còn có tên là Capella, là ngôi sao Thiên Dương thuộc chòm sao Ngũ Xa, hoặc b) là chòm sao Ngũ Xa. Ở đây Ovide gọi theo nhà thơ và thiên văn học Hy Lạp Aratus (315 - 245 trước Công nguyên) là Signum pluviale (chòm sao mưa) vì sự xuất hiện của nó trùng hợp với các cơn mưa mùa xuân. Bản tiếng Anh gọi là “rainy constellation” (trang 59, “chòm sao mưa”) trong khi bản tiếng Pháp gọi là “l’astre pluvieux” (“thiên thể” hay “ngôi sao mưa”, trang 126).
[5] Taygété: con gái của thần Atlas, một trong bảy chị em gái được gọi chung là “Pléiade”. Cụm sao Pléiade thì thuộc chòm sao Kim Ngưu (Taurus).
[6] Hyades: những con gái của thần Atlas, cùng cha khác mẹ với những cô Pléiade. Họ sống ở núi Nysa và đã nuôi dưỡng em bé Bacchus. Trên trời thì đây là một cụm sao sáng lấp lánh ngay trước chòm sao Kim Ngưu.
[7] Délos: đảo nằm ở biển Égée (Hy Lạp), nơi sinh của hai anh em song sinh Apollon và Diane.
[8] Chios: đảo cũng nằm ở biển Égée.
[9] Theo cách hiểu của người dịch, đây là thời chiếm hữu nô lệ nên các thủy thủ này xem Bacchus, trẻ và đẹp, như một món hàng quý có thể đem ra bán được giá cao ở các phiên chợ nô lệ.
[10] Naxos: đảo lớn nhất của quần đảo Cyclades trong vùng biển Égée, nằm ở phía Nam đảo Délos của Apollon. Bacchus được thờ phụng nơi đây.
[11] Mỗi người lo lắng vì nếu để cậu bé lên bờ ở Naxos thì họ sẽ mất phần của mình trong cái tài sản, tức tên nô lệ, đang nắm giữ được đó.
[12] Ở đây tác giả ám chỉ Bacchus giả dạng thành Acétès, làm người bị bắt đang kể chuyện trước mặt vua Penthée.
[13] Ở đây tác giả phân bố sự biến thể giữa bốn thủy thủ rồi chấm dứt bằng cái nhìn toàn cảnh như một vở múa ba-lê. Các chi tiết về cơ thể được từ từ thêm vào (như lưng cong, miệng rộng, da đóng vảy, tay thành vây cá, đuôi cong…) cho phép người đọc hiểu là các thủy thủ đang biến thành cá heo, dù tác giả không nói rõ ra. Theo chú thích của bản dịch tiếng Pháp, trang 531.
[14] Tức Ino và Autonoé, tất cả là con gái của Cadmus và Harmonie.