Kể từ đó đàn ông, đàn bà tỏ ra thực sự sợ sự nổi giận của Latone từng được phô bày một cách công khai đến thế; và mọi người, sốt sắng hơn bao giờ hết, thờ phụng hết lòng bà nữ thần đáng sợ đó, mẹ của hai đứa con sinh đôi. Và như thường lệ, vì bị khuấy động tâm trí bởi câu chuyện mới xảy ra, họ lại đem các câu chuyện xưa ra mà kể. Một người trong bọn họ bắt đầu như sau:
“Ngày xưa, ở những vùng đồng ruộng phì nhiêu thuộc xứ Lycie[1], các nông dân cũng đã tỏ ra coi khinh bà thần này và đã phải đau khổ vì việc đó. Câu chuyện thì ít người biết do đẳng cấp thấp kém của những người liên quan, nhưng nó rất là hay. Chính tôi đã thấy tận mắt nơi chốn và cái hồ nhỏ mà một hiện tượng kỳ diệu đã làm cho nổi tiếng. Vào thời điểm đó, cha tôi trở nên già yếu, không thể chịu đựng nổi chuyến đi xa, bèn bảo tôi đi xuống Lycie tìm mua về những con bò đực non loại hạng nhất đang gặm cỏ ở đó, và cho tôi một người hướng dẫn địa phương. Trong khi băng qua những đồng cỏ với ông ta, tôi thấy ở giữa hồ một cái bàn thờ cũ xưa, đen nhẻm vì củi lửa từ nhiều buổi hiến tế, bao quanh là đám lau sậy run rẩy. Người hướng dẫn bèn dừng bước, miệng thầm thì một cách sợ hãi: “Xin bà rủ lòng thương với tôi!”, và tôi cũng thầm thì tương tự: “Xin bà rủ lòng thương với tôi!” Rồi tôi hỏi ông ta đây có phải là bàn thờ dành cho các “Naïade”, hay “Faune”[2] hay một vị thần nào đó ở địa phương này, và ông ta trả lời:
“Không phải đâu cậu, không một thần núi nào ngụ ở bàn thờ này. Vị nữ thần đòi được thờ đây là bà mà hoàng hậu của thiên giới, Junon, từng có lần xua đuổi khắp thế gian, chỉ có cái hòn đảo lang thang Délos là thuận theo lời cầu xin của bà mà cho bà đặt chân lên đảo tá túc khi nó còn là cái đảo trôi từ từ trên biển. Ở đó, nằm dựa vào cây cọ và cây ô-liu của nữ thần Pallas[3], bà sinh hạ hai đứa con sinh đôi, bất chấp ý chí của bà dì ghẻ Junon của chúng. Và thậm chí khi sinh xong, người mới làm mẹ đó, theo lời người ta kể, cũng phải tiếp tục chạy trốn bà Junon, tay xách nách mang hai đứa con thơ mang sẵn phẩm chất thần linh.
Rồi sau đó, khi bà đặt chân đến được biên giới xứ Lycie, đất nước của con Chimère[4], thì mặt trời chói chang đang trùm xuống ruộng đồng cả một bầu không khí oi bức; và gần như kiệt sức sau một chuyến đi dài vất vả, bà thấy đầu óc choáng váng do sức nóng của mặt trời, cổ họng thì khô khốc vì khát; và hai đứa bé sơ sinh thì đã bú cạn sữa trong bầu vú của bà. Tình cờ bà thấy được một cái hồ không lớn lắm nằm ở dưới một thung lũng sâu; ở đó, vài người nhà quê đang vun đống các bụi liễu gai rậm rạp, các cây bấc, và cỏ dại mọc ở đầm lầy.
Latone đến bên bờ nước, quỳ xuống đất, định đưa tay vốc nước mát lạnh để uống giải cơn khát. Nhưng bọn nhà quê thấp hèn đó liền ngăn cản bà. Bà đành hạ giọng van xin:
‘Tại sao các ông cấm tôi uống nước chứ? Nước thì mọi người đều có quyền dùng mà. Thiên nhiên đâu có tạo ra mặt trời, không khí hay nước ngọt cho riêng ai. Đây là quyền hưởng thụ chung mà tôi cũng có như ai, nhưng tôi vẫn ngỏ lời xin các ông cho tôi nước như một ân huệ. Tôi đâu có ý định rửa tay, rửa chân hay cái thân thể mệt nhọc của mình ở đây, trong cái hồ của các ông, tôi chỉ muốn uống nước cho đỡ khát thôi. Ngay cả lúc tôi nói đây, miệng tôi không còn nước miếng nữa, cổ họng tôi thì khô rát, và giọng nói hầu như không ra tiếng được. Một ngụm nước lúc này là rượu thần đối với tôi, và tôi sẽ thừa nhận là nhờ nó mà tôi được cứu sống; đúng vậy, chính cuộc sống là món quà mà các ông sẽ tặng tôi, nếu như các ông cho tôi uống nước. Hai đứa bé này, hãy để chúng làm các ông mủi lòng, từ ngực tôi chúng đưa cánh tay nhỏ xíu ra với các ông đó.’
Bất ngờ là chúng đưa tay ra thật. Vậy thì ai trên đời này mà không xúc động trước những lời lẽ dịu dàng của nữ thần cơ chứ?
Thế nhưng, bất kể mọi lời cầu khẩn của bà, họ vẫn cố chấp không cho bà uống nước, rồi lớn tiếng hăm dọa để bà rời đi; thậm chí họ còn buông lời nhục mạ bà. Chưa đủ bằng lòng, họ còn dùng tay chân làm bẩn nước hồ, khuấy bùn nhão dưới đáy lên bằng cách nhảy nhót loanh quanh, tất cả chỉ vì tính bần tiện vô phương cứu chữa. Tới lúc này thì sự phẫn uất đã làm quên cơn khát, vì Latone không thể hạ mình hơn nữa trước cái bọn người ngỗ ngược đó cũng như không thể tiếp tục nói chuyện với họ bằng những lời lẽ ít quyền lực hơn của một nữ thần; và dang hai tay lên trời, bà nói to:
‘Thế thì bọn mi sẽ sống mãi mãi trong cái hồ con này!’ Sự việc xảy ra y như bà yêu cầu: chúng tìm được niềm vui thú khi được sống trong nước, khi thì ngâm cả thân thể xuống sâu dưới nước, khi thì ngoi đầu lên, khi thì bơi lội trên mặt nước. Chúng cũng thường lên ngồi ở trên bờ đầy lau lách, và cũng thường nhảy xuống lại trong nước hồ mát mẻ. Nhưng tới tận bây giờ, cũng như ngày trước, chúng dùng miệng lưỡi gớm ghiếc của mình để cãi lộn, và không thấy xấu hổ chút nào, ngay cả khi ở hẳn dưới nước, chúng vẫn tìm cách cho tuôn ra những lời chửi rủa từ dưới đáy hồ. Giờ thì giọng của chúng đã trở thành khàn khàn, cuống họng đầy hơi lại phồng ra, và những cuộc cãi vã không ngớt làm cho cái hàm rộng của chúng giãn ra; đầu và vai chúng dính với nhau nên cổ chúng có vẻ như đã biến mất. Lưng chúng có màu lục, trong khi bụng, phần lớn nhất của cơ thể chúng, thì có màu trắng; đó là những sinh vật mới, chúng nhảy trong những ao hồ đầy bùn; chúng là con ếch.”
❀ ❀ ❀
[1] Lycie: một nước ở vùng Tiểu Á.
[2] Faune: thần Che chở cho Súc vật chăn nuôi, có thân hình lông lá, đầu có sừng, chân giống chân con dê.
[3] Pallas: tức Minerve.
[4] Chimère: một con quái vật có đầu sư tử, thân dê và đuôi rắn, miệng khạc ra lửa; sau bị giết bởi Bellérophon với sự giúp sức của con ngựa Pégase.