Dombey Và Con Trai

Lượt đọc: 557 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 40
Quan Hệ Gia Đình

❊ ❊ ❊

Thật không nằm ngoài quy luật tự nhiên rằng một người đàn ông mang tâm trạng như ông Dombey, khi phải đối mặt với một tinh thần kiêu hãnh mà chính ông đã khơi dậy chống lại mình, lại có thể dịu bớt nét cay nghiệt hách dịch trong tính cách; hoặc giả bộ giáp trụ kiêu ngạo lạnh lẽo và cứng đốm mà ông khoác trên mình lại có thể trở nên mềm dẻo hơn qua những va chạm liên tục với sự khinh bỉ và thách thức ngạo mạn. Đó chính là lời nguyền của một bản chất như thế — một phần chính trong bản án trừng phạt nặng nề mà nó tự mang trong lòng — rằng trong khi sự phục tùng và nhượng bộ làm phình to những phẩm chất xấu xa của nó, trở thành thức ăn nuôi nó lớn lên, thì sự kháng cự cùng việc nghi ngờ những đòi hỏi hách dịch của nó cũng nuôi dưỡng nó không kém. Tội lỗi ẩn chứa bên trong nó tìm thấy phương tiện tăng trưởng và lan rộng tương tự ở các mặt đối lập. Nó rút lấy sự sống và sức mạnh từ cả ngọt ngào lẫn đắng cay; dù được cúi đầu bái lạy hay bị chối bỏ, nó vẫn nô dịch lồng ngực mà nó đặt làm ngai vàng; và dù được thờ phụng hay bị hắt hủi, nó cũng là một gã chủ nghiệt ngã chẳng khác nào Ác quỷ trong những câu chuyện cổ u tăm.

Đối với người vợ đầu, ông Dombey, trong sự ngạo mạn lạnh lùng và cao ngạo của mình, đã cư xử như một Đấng Siêu Nhiên xa cách mà ông tự hình dung về bản thân. Ông đã là “ông Dombey” với bà khi bà mới gặp ông, và vẫn là “ông Dombey” khi bà qua đời. Ông đã khẳng định sự vĩ đại của mình trong suốt cuộc đời hôn nhân của họ, và bà đã nhẫn nại thừa nhận điều đó. Ông giữ chỗ ngồi uy nghi xa xăm trên đỉnh ngai vàng, còn bà ở vị trí khiêm nhường nơi nấc thang thấp nhất; và sống gông cuồng cô độc trong một ý niệm duy nhất như thế quả là đã mang lại cho ông thật nhiều cay đắng. Ông từng tưởng tượng rằng tính cách kiêu hãnh của người vợ thứ hai sẽ bồi đắp thêm vào tính cách của ông — sẽ hòa nhập vào đó và tôn vinh sự vĩ đại của ông. Ông từng vẽ ra cảnh mình ngạo mạn hơn bao giờ hết, khi sự kiêu hãnh của Edith phục tùng sự kiêu hãnh của ông. Ông chưa từng mảy may nghĩ đến khả năng nó sẽ dàn trận chống lại ông. Và giờ đây, khi ông thấy nó sừng sững cản đường mình trong từng bước đi và từng biến cố của cuộc sống hàng ngày, giương bản mặt lạnh lẽo, thách thức và khinh bỉ về phía ông, thì lòng kiêu hãnh này của ông, thay vì héo hắt hay cúi đầu trước đòn chấn động, lại đâm chồi nẩy lộc mới, trở nên tập trung và dữ dội hơn, u uất, lầm lì, khó chịu và không chịu khuất phục hơn bất kỳ thời điểm nào trước đó.

Kẻ nào mang trên mình thứ giáp trụ ấy cũng luôn mang theo một bản án trừng phạt nặng nề khác. Nó miễn nhiễm với sự hòa giải, tình yêu và niềm tin; miễn nhiễm với mọi cảm thông dịu dàng từ bên ngoài, mọi sự tin cậy, mọi lòng trìu mến, mọi cảm xúc mềm mại; nhưng trước những vết đâm sâu vào lòng tự trọng, nó lại dễ bị tổn thương như khuôn ngực trần trước lưỡi thép; và những vết mưng mủ dằn dằn đau đớn ấy hoại tử ở đó, không giống bất kỳ vết thương nào khác, dù cho vết thương ấy có được giáng xuống bằng bàn tay bọc sắt của chính Lòng Kiêu Hãnh lên một sự kiêu hãnh yếu ớt hơn đã bị tước vũ khí và quật ngã.

Những vết thương như thế chính là cái giá ông phải trả. Ông cảm nhận chúng một cách nhói buốt trong sự cô độc của những căn phòng cũ; nơi mà giờ đây ông lại bắt đầu thường xuyên lui về và trải qua những giờ phút cô đơn dài đằng đẵng. Số phận như định sẵn cho ông luôn kiêu hãnh và quyền lực; nhưng lại luôn bị nhục nhã và bất lực ở chính nơi ông muốn mình mạnh mẽ nhất. Ai là người được số phận định sẵn để thực thi bản án đó?

Ai? Ai là người có thể chiếm được cảm tình của vợ ông như cô từng chiếm được cảm tình của con trai ông? Ai là người đã cho ông thấy chiến thắng mới đó, khi ông ngồi trong góc tối? Ai là người mà chỉ một lời nói nhỏ nhất cũng làm được điều mà mọi phương kế tối thượng của ông không thể làm nổi? Ai là người, dù không được tình yêu, sự coi trọng hay sự chú ý của ông nâng đỡ, vẫn phát triển và trở nên xinh đẹp khi những kẻ được nâng đỡ lại qua đời? Ai có thể là người đó, ngoại trừ chính đứa trẻ mà ông từng nhiều lần liếc nhìn một cách bất an trong thời thơ ấu mồ côi mẹ của nó, với một sự sợ hãi rằng ông có thể trở nên ghét bỏ nó; và điềm báo của ông đã trở thành sự thật, bởi vì ông BẢN CHẤT ghét bỏ nó trong lòng?

Phải, và ông muốn đó là mối hận thù, ông đã biến nó thành mối hận thù, mặc dù vài tia sáng mà cô từng xuất hiện trước mặt ông vào đêm đáng nhớ khi ông trở về nhà cùng Cô Dâu của mình đôi khi vẫn còn vương vấn quanh cô. Giờ đây ông biết cô rất đẹp; ông không phủ nhận cô duyên dáng và cuốn hút, và trong ánh bình minh rạng rỡ của tuổi trưởng thành, cô đã đến trước mặt ông như một sự ngạc nhiên. Nhưng ông lại dùng ngay cả điều này để chống lại cô. Trong sự gặm nhấm u uất và độc hại của mình, người đàn ông tội nghiệp ấy, với nhận thức mờ nhạt về sự tẻ nhạt của mình đối với mọi trái tim, và một khát khao mơ hồ về những gì ông đã xua đuổi suốt đời, đã vẽ ra một bức tranh méo mó về quyền lợi và sai trái của mình, rồi dùng nó để bào chữa cho bản thân chống lại cô. Cô càng tỏ ra xứng đáng với ông bao nhiêu, ông càng muốn đòi hỏi nghĩa vụ và sự phục tùng ở cô từ trước đó bấy nhiêu. Có bao giờ cô thể hiện nghĩa vụ và sự phục tùng đối với ông chưa? Cô làm rạng rỡ cuộc đời ông — hay cuộc đời Edith? Những nét quyến rũ của cô được bộc lộ đầu tiên với ông — hay với Edith? Tại sao chứ, ông và cô, từ khi cô ra đời, chưa bao giờ giống như cha và con! Họ luôn xa cách nhau. Cô đã cản trở ông bằng mọi cách và ở mọi nơi. Giờ đây cô đang liên minh chống lại ông. Chính vẻ đẹp của cô đã làm mềm lòng những bản chất vốn cứng cỏi với ông, và xúc phạm ông bằng một chiến thắng phi tự nhiên.

Có thể trong tất cả những điều này có những tiếng thì thầm của một cảm xúc đã thức tỉnh trong lồng ngực ông, dù cho nó được khơi dậy một cách ích kỷ bởi vị thế bất lợi của ông so với những gì cô có thể đã mang lại cho cuộc đời ông. Nhưng ông đã dập tắt tiếng sấm xa xôi đó bằng sự cuộn trào của biển cả kiêu hãnh trong lòng. Ông không chịu đựng điều gì ngoài lòng kiêu hãnh của mình. Và trong lòng kiêu hãnh ấy, một đống mâu thuẫn, khổ đau và sự dằn dằn tự chuốc lấy, ông ghét bỏ cô.

Đối với con quỷ u uất, bướng bỉnh, lầm lì đang chiếm hữu ông, người vợ của ông đã đối đầu bằng sự kiêu hãnh khác biệt của mình với toàn bộ sức mạnh. Họ chưa bao giờ có thể sống một cuộc sống hạnh phúc bên nhau; nhưng không gì có thể khiến nó trở nên bất hạnh hơn cuộc chiến tranh cố chấp và quyết liệt của những yếu tố như vậy. Lòng kiêu hãnh của ông hướng vào việc duy trì sự thống trị uy nghi của mình, và buộc bà phải thừa nhận điều đó. Bà thà bị hành hình đến chết còn hơn là dành cho ông dù chỉ một ánh nhìn kiêu hãnh ngạo mạn của sự khinh bỉ kiên định lạnh tảng, cho đến phút cuối cùng. Sự thừa nhận như thế từ Edith ư! Ông đâu biết bà đã phải trải qua giông bão và đấu tranh như thế nào để tiến tới vinh quang tột đỉnh là bàn tay trao nếp cưới của ông. Ông đâu biết bà đã nghĩ mình đã nhượng bộ biết bao nhiêu khi để ông gọi bà là vợ.

Ông Dombey quyết tâm cho bà thấy rằng ông là tối cao. Không được phép có ý chí nào khác ngoài ý chí của ông. Ông muốn bà kiêu hãnh, nhưng bà phải kiêu hãnh vì ông, chứ không phải chống lại ông. Khi ngồi một mình, lòng càng thêm cứng cỏi, ông thường nghe thấy bà đi ra ngoài và trở về nhà, bước đi trong vòng quay của cuộc sống London mà chẳng hề bận tâm đến sự yêu thích hay ghét bỏ, hài lòng hay không hài lòng của ông, chẳng khác nào ông là người đánh xe của bà. Sự thờ ơ lạnh lẽo tối cao của bà — đặc quyền không ai tranh cãi của chính ông giờ đây bị chiếm đoạt — đã chích vào ông nhói buốt hơn bất kỳ sự đối xử nào khác; và ông quyết định bẻ gãy bà theo ý chí uy nghi và trang trọng của mình.

Ông đã gặm nhấm những suy nghĩ ấy từ lâu, cho đến một đêm ông tìm đến căn phòng riêng của bà, sau khi nghe thấy bà trở về nhà muộn. Bà ở một mình, trong bộ váy lộng lẫy, vừa mới từ phòng mẹ bước ra. Gương mặt bà u buồn và trầm tư khi ông bước đến; nhưng nó đã nhận ra ông ngay từ ngoài cửa; bởi khi liếc vào chiếc gương trước mặt, ông thấy ngay lập tức, như trong một khung hình, vầng trán nhíu lại và vẻ đẹp u tối mà ông đã quá quen thuộc.

“Bà Dombey,” ông nói khi bước vào, “tôi phải xin phép được nói với bà vài lời.”

“Ngày mai,” bà đáp.

“Không thời điểm nào bằng lúc này, thưa Bà,” ông đáp lại. “Bà đã nhầm lẫn vị thế của mình rồi. Tôi quen tự chọn thời gian cho mình, chứ không để người khác chọn hộ. Tôi nghĩ bà dường như chưa hiểu rõ tôi là ai và là người thế nào đâu, thưa bà Dombey.”

“Tôi nghĩ,” bà đáp, “rằng tôi hiểu ông rất rõ.”

Bà nhìn ông khi nói điều đó, và khoanh đôi cánh tay trắng muốt lấp lánh vàng cùng đá quý trước vòm ngực phập phồng, rồi quay đi chỗ khác.

Nếu bà bớt xinh đẹp, và bớt trang trọng trong sự điềm tĩnh lạnh lẽo ấy, có lẽ bà đã không có sức mạnh khắc sâu vào tâm trí ông một cảm giác về thế yếu vốn đâm thấu qua lòng kiêu hãnh tột cùng của ông. Nhưng bà có sức mạnh đó, và ông cảm nhận nó một cách sắc lạnh. Ông liếc nhìn quanh phòng: thấy những phương tiện trang điểm lộng lẫy và những bộ trang phục sang trọng vương vải khắp nơi mà không được ngó ngàng đến; không phải vì sự tùy hứng hay lơ đãng đơn thuần (hoặc ông nghĩ vậy), mà là một sự khinh rẻ kiên định ngạo mạn đối với những thứ đắt giá: và ông càng cảm thấy điều đó rõ hơn. Những vòng hoa, những chùm lông chim, trang sức, ren, lụa và nhung satin; nhìn vào đâu ông cũng thấy sự giàu có bị coi khinh, bị đổ ra và coi như vô giá trị. Chính những viên kim cương — món quà cưới — đang phập phồng không kiên nhẫn trên ngực bà, dường như cũng đang hổn hển muốn đứt tung sợi dây chuyền ôm lấy cổ bà để lăn xuống sàn nhà nơi bà có thể giẫm lên.

Ông cảm thấy thế yếu của mình, và ông thể hiện điều đó ra ngoài. Trang nghiêm và kỳ lạ giữa sự giàu có về màu sắc và ánh sáng lấp lánh gợi cảm này, kỳ lạ và gượng gạo đối với nữ chủ nhân ngạo mạn của nó, người mà vẻ đẹp xua đuổi được phản chiếu và hiện ra khắp xung quanh ông như trong vô số mảnh vỡ của chiếc gương, ông nhận thức được sự bối rối và vụng về của mình. Chẳng có điều gì phục vụ cho sự tự chủ khinh khỉnh của bà mà lại không làm ông cay đắng. Cay đắng và bực bội với chính mình, ông ngồi xuống, và tiếp tục với tâm trạng chẳng mấy dễ chịu hơn:

“Bà Dombey, việc chúng ta đi đến một sự thống nhất là hết sức cần thiết. Thái độ của bà làm tôi không hài lòng, thưa Bà.”

Bà chỉ liếc nhìn ông một lần nữa, rồi lại quay đi; nhưng bà có thể đã nói suốt một giờ đồng hồ mà vẫn diễn đạt ít hơn thế.

“Tôi nhắc lại, bà Dombey, thái độ đó không làm tôi hài lòng. Tôi đã từng có dịp yêu cầu bà chấn chỉnh. Giờ tôi khăng khăng đòi hỏi điều đó.”

“Ông đã chọn một dịp thật thích hợp cho lời quở trách đầu tiên, thưa Ông, và giờ ông lại dùng một cách thức cùng ngôn từ thật vừa vặn cho lần thứ hai. Ông đòi hỏi! Với tôi cơ đấy!”

“Thưa Bà,” ông Dombey nói với bộ dạng trịch thượng và hợm hỉnh nhất, “tôi đã cưới bà làm vợ. Bà mang họ của tôi. Bà gắn liền với vị thế và uy tín của tôi. Tôi sẽ không nói rằng thế gian nói chung có thể cho rằng bà được vinh dự nhờ sự gắn kết đó; nhưng tôi sẽ nói rằng tôi quen ‘đòi hỏi’ đối với những người thân thuộc và phụ thuộc vào tôi.”

“Vậy xin hỏi ông coi tôi thuộc loại nào?” bà hỏi.

“Có lẽ tôi cho rằng vợ tôi phải mang — hoặc đang mang, và không thể làm khác được — cả hai đặc tính đó, thưa bà Dombey.”

Bà nhìn xoáy vào ông đầy kiên định, và mím chặt làn môi run rẩy. Ông thấy ngực bà phập phồng, thấy mặt bà lúc đỏ bừng lúc lại tái nhợt. Tất cả những điều này ông đều có thể biết, và đã biết: nhưng ông không thể biết rằng một từ ngữ đang thì thầm trong góc sâu thẳm của trái tim bà để giữ cho bà bình tĩnh; và từ ngữ đó chính là Florence.

Gã mù quáng ngu ngốc đang lao xuống vực thẫm! Ông ta lại tưởng bà đang e sợ mình.

“Bà tiêu tốn quá mức, thưa Bà,” ông Dombey nói. “Bà phung phí. Bà lãng phí quá nhiều tiền — hoặc những gì có thể là một khoản tiền lớn trong túi của hầu hết các quý ông — vào việc giao thiệp với cái loại xã hội vô ích đối với tôi, và quả thực, nhìn chung là khó chịu đối với tôi. Tôi phải đòi hỏi một sự thay đổi toàn diện về mọi mặt này. Tôi biết rằng trong sự mới mẻ của việc sở hữu một phần mười những phương tiện mà Số phận đã đặt vào tay bà, các quý bà thường dễ rơi vào một sự thái quá đột ngột. Sự thái quá đó đã quá đủ rồi. Tôi xin đề nghị rằng những kinh nghiệm rất khác biệt của bà Granger giờ đây sẽ làm bài học cho bà Dombey.”

Vẫn ánh mắt đăm đăm đó, làn môi run rẩy, vòm ngực phập phồng, gương mặt khi thì đỏ ửng khi thì tái nhợt; và vẫn tiếng thì thầm sâu thẳm Florence, Florence, đang nói với bà trong nhịp đập của trái tim.

Sự xấc xược và thói tự đao to búa lớn của ông ta phình to khi thấy sự thay đổi này ở bà. Phình to không kém bởi sự khinh bỉ trước đây của bà dành cho ông, và cảm giác bất lợi mới đây của ông, so với sự phục tùng hiện tại của bà (như ông ngộ nhận), nó trở nên quá mạnh mẽ đối với lồng ngực ông, và phá vỡ mọi giới hạn. Ôi, ai có thể chống lại ý chí và sở thích cao ngạo của ông lâu dài cơ chứ! Ông đã quyết tâm chinh phục bà, và nhìn xem này!

“Tôi xin bà lưu ý thêm cho một điều rõ ràng nữa, thưa Bà,” ông Dombey nói bằng giọng ra lệnh tối cao, “rằng tôi phải được kính trọng và phục tùng. Rằng tôi phải thấy một sự thể hiện và thú nhận rõ ràng về sự kính trọng trước thiên hạ, thưa Bà. Tôi quen với điều này rồi. Tôi yêu cầu điều đó như quyền lợi của mình. Tóm lại, tôi phải có được nó. Tôi coi đó không phải là một sự đền đáp bất hợp lý cho sự thăng tiến trên thế gian đã đến với bà; và tôi tin rằng sẽ chẳng ai kinh ngạc, dù là trước việc điều đó được đòi hỏi ở bà, hay việc bà thực hiện nó. — Với Tôi — Với Tôi!” ông nhấn mạnh thêm.

Bà không nói một lời. Không hề thay đổi. Đôi mắt vẫn đăm đăm nhìn ông.

“Tôi nghe mẹ bà nói, thưa bà Dombey,” ông Dombey phán với vẻ quan trọng bề trên, “điều mà chắc chắn bà cũng biết, đó là Brighton được khuyến nghị cho sức khỏe của bà ấy. Ông Carker đã rất tốt bụng.”

Bà đột ngột đổi thái độ. Gương mặt và vòm ngực bà bừng lên như thể ánh sáng đỏ rực của một buổi hoàng hôn giận dữ vừa hất lên người bà. Không bỏ qua sự thay đổi đó, và tự giải thích theo cách của mình, ông Dombey tiếp tục:

“Ông Carker đã có lòng tốt xuống đó thuê trước một căn nhà trong một thời gian. Khi gia đình trở lại London, tôi sẽ thực hiện các bước cần thiết để quản lý tốt hơn. Một trong số đó sẽ là việc thuê tại Brighton (nếu thực hiện được) một người phụ nữ sa sút rất đáng kính ở đó, bà Pipchin, người trước đây từng đảm nhiệm vị trí tin cậy trong gia đình tôi, để làm quản gia. Một gia đình như thế này, nếu chỉ do bà cai quản trên danh nghĩa, thưa bà Dombey, thì cần có một người đứng đầu đủ năng lực.”

Bà đã đổi tư thế trước khi ông nói đến những lời này, và giờ đây ngồi — vẫn nhìn ông đăm đăm — xoay đi xoay lại chiếc chiếc vòng tay trên tay mình; không phải quấn nó bằng một động tác nhẹ nhàng, nữ tính, mà là ấn và kéo nó trên làn da mịn màng, cho đến khi cánh tay trắng muốt hiện lên một vệt đỏ.

“Tôi nhận thấy,” ông Dombey nói — “và đây là lời cuối cùng tôi thấy cần phải nói với bà lúc này, thưa bà Dombey — tôi nhận thấy vừa rồi bà có phản ứng khá kỳ lạ khi tôi nhắc đến ông Carker. Nhân dịp tôi tình cờ chỉ ra cho bà thấy, trước mặt đại lý tin cậy đó, sự phản đối của tôi đối với cách bà tiếp đón khách của tôi, bà đã phản đối sự có mặt của ông ấy. Bà sẽ phải vượt qua sự phản đối đó, thưa Bà, và tự quen với điều đó rất có thể trong nhiều dịp tương tự; trừ khi bà áp dụng biện pháp khắc phục nằm trong tay bà, đó là không cho tôi lý do gì để phàn nàn. Ông Carker,” ông Dombey nói, người mà sau cảm xúc vừa thấy, rất coi trọng phương tiện này để khuất phục người vợ kiêu hãnh của mình, và người có lẽ rất sẵn lòng thể hiện quyền lực của mình với vị quý ông đó dưới một khía cạnh mới và chiến thắng, “ông Carker vốn được tôi tin tưởng, thưa bà Dombey, rất có thể sẽ được bà tin tưởng ở một mức độ như vậy. Tôi hy vọng, thưa bà Dombey,” ông tiếp tục sau vài khoảnh khắc, trong đó, với sự kiêu hãnh ngày càng tăng, ông đã cải thiện ý tưởng của mình, “tôi có thể không thấy cần thiết phải giao cho ông Carker bất kỳ thông điệp phản đối hay quở trách nào đối với bà; nhưng vì sẽ là làm tổn hại đến vị thế và uy tín của tôi nếu thường xuyên tranh chấp vặt vãnh với một quý bà mà tôi đã ban cho vinh dự cao nhất trong khả năng của mình, tôi sẽ không ngần ngại sử dụng dịch vụ của ông ấy nếu thấy có dịp.”

“Và giờ đây,” ông nghĩ bụng, tự đứng lên trong sự uy nghi ngút trời của mình, và đứng lên như một người đàn ông cứng cỏi và không thể xâm nhập hơn bao giờ hết, “bà ấy đã biết tôi và quyết tâm của tôi.”

Bàn tay vừa siết chặt chiếc vòng được đặt nặng nề lên ngực, nhưng bà vẫn nhìn ông với khuôn mặt không đổi, và nói bằng giọng trầm thấp:

“Chờ đã! Vì Chúa! Tôi phải nói chuyện với ông.”

Tại sao bà lại không nói ngay, và cuộc đấu tranh nội tâm nào đã khiến bà không thể cất lời trong suốt vài phút, trong khi dưới sự kềm chế mạnh mẽ bà gượng ép lên khuôn mặt mình, nó cứng đờ như một bức tượng — nhìn ông mà không hề nhượng bộ hay không nhượng bộ, thích thú hay ghét bỏ, kiêu hãnh hay khiêm nhường: không có gì ngoài một ánh nhìn xoáy sâu?

“Đã bao giờ tôi quyến rũ ông cầu hôn tôi chưa? Đã bao giờ tôi dùng mưu mẹo gì để chiếm lấy ông chưa? Lúc ông theo đuổi tôi, tôi có bao giờ nhún nhường với ông hơn là từ sau khi chúng ta kết hôn không? Tôi có bao giờ khác đi so với bản chất của mình không?”

“Thật hoàn toàn không cần thiết, thưa Bà,” ông Dombey nói, “khi đi vào những tranh luận như vậy.”

“Ông tưởng tôi yêu ông sao? Ông có biết là tôi không hề yêu ông không? Này Người Đàn Ông! Đã bao giờ ông bận tâm đến trái tim tôi, hay có ý định chiếm lấy thứ vô giá trị đó chưa? Trong cuộc trao đổi mua bán của chúng ta, có sự giả vờ đáng khinh nào về tình cảm không? Về phía ông, hay về phía tôi?”

“Tất cả những câu hỏi này,” ông Dombey nói, “đều đi quá xa mục đích rồi, thưa Bà.”

Bà bước đến đứng chắn giữa ông và cánh cửa để ngăn ông đi ra, và vươn vóc dáng uy nghi của mình lên hết chiều cao, vẫn đăm đăm nhìn ông.

“Ông trả lời từng câu một đấy thôi. Tôi thấy ông đã trả lời tôi trước khi tôi cất lời. Làm sao ông tránh được chứ, khi chính ông cũng biết rõ sự thật cay đắng này như tôi? Bây giờ hãy nói cho tôi biết. Nếu tôi yêu ông đến mức tận tụy, tôi có thể làm gì hơn là dâng trọn ý chí và bản thể của mình cho ông như ông vừa đòi hỏi? Nếu trái tim tôi trong trắng chưa từng vướng bận, và ông là thần tượng của nó, ông có thể đòi hỏi gì hơn; ông có thể có gì hơn nữa?”

“Có lẽ là không, thưa Bà,” ông đáp lại một cách lạnh tảng.

“Ông biết rõ tôi khác biệt thế nào. Giờ đây ông thấy tôi đang nhìn ông, và ông có thể đọc được sức nóng của niềm đam mê dành cho ông đang biểu hiện trên mặt tôi.” Không một sự cong lên của làn môi kiêu hãnh, không một tia sáng từ đôi mắt u tối, không có gì ngoài ánh nhìn chăm chú và xoáy sâu ấy đi kèm với những lời này. “Ông biết lịch sử chung của tôi. Ông đã nói về mẹ tôi. Ông có nghĩ rằng ông có thể hạ thấp, hay bẻ gẫy, hay đập tan tôi để tôi phải phục tùng và vâng lời không?”

Ông Dombey mỉm cười, cái mỉm cười như thể có ai hỏi xem liệu ông có thể kiếm ra mười ngàn bảng Anh hay không.

“Nếu có điều gì không bình thường ở đây,” bà nói, với một động tác nhẹ của bàn tay trước trán, vốn không hề nao núng trong một khoảnh khắc nào khỏi ánh nhìn bất động và không hề biểu cảm đó, “như tôi biết có những cảm xúc không bình thường ở đây,” giơ bàn tay bà đang ấn lên ngực ra, rồi đặt nặng nề trở lại, “hãy nhớ rằng không có ý nghĩa thông thường nào trong lời thỉnh cầu mà tôi sắp đưa ra với ông đâu. Phải, vì tôi sắp,” bà nói như đáp lại ngay lập tức một điều gì đó trên mặt ông; “thỉnh cầu ông đây.”

Ông Dombey, với một cái gật đầu hơi bề trên làm chiếc cà vạt cứng hồ kêu sột soạt, ngồi xuống chiếc ghế sofa gần đó để nghe lời thỉnh cầu.

“Nếu ông có thể tin rằng giờ đây bản tính tôi đã thay đổi,” — ông tưởng như thấy nước mắt lấp lánh trong mắt bà, và ông nghĩ bụng đầy mãn nguyện rằng ông đã ép được chúng ra từ bà, dù không có giọt nào rơi trên má bà, và bà vẫn nhìn ông kiên định như bao giờ, — “đến mức làm cho những gì tôi nói bây giờ trở nên gần như không thể tin nổi đối với chính tôi, khi nói với bất kỳ người đàn ông nào đã trở thành chồng tôi, nhưng trên hết, khi nói với ông, có lẽ ông sẽ coi trọng nó hơn. Trong cái kết u tối mà chúng ta đang hướng tới, và có thể sẽ đến, chúng ta sẽ không chỉ kéo theo chính mình (điều đó có thể chẳng là gì) mà còn cả những người khác.”

Những người khác! Ông biết từ đó ám chỉ ai, liền chau mày sa sầm.

“Tôi nói với ông vì những người khác. Cũng vì chính ông; và vì tôi nữa. Từ sau khi kết hôn, ông đã ngạo mạn với tôi; và tôi đã đáp lại ông tương tự. Ông đã thể hiện cho tôi và mọi người xung quanh thấy, từng ngày từng giờ, rằng ông nghĩ tôi được vinh dự và cất nhắc nhờ sự liên minh với ông. Tôi không nghĩ vậy, và cũng đã thể hiện điều đó. Có vẻ như ông không hiểu, hoặc (trong phạm vi quyền lực của ông) không có ý định rằng mỗi người chúng ta sẽ đi một con đường riêng; và thay vào đó, ông mong chờ ở tôi một sự tôn kính mà ông sẽ không bao giờ có được.”

Dù gương mặt bà vẫn không đổi, nhưng trong từng nhịp thở của bà có một sự khẳng định đập tan hai chữ “Không bao giờ” ấy.

“Tôi không dành cho ông chút dịu dàng nào; ông biết điều đó. Ông cũng chẳng bận tâm đến điều đó, dù tôi có hay có thể dành cho ông. Tôi cũng biết rõ rằng ông chẳng dành chút dịu dàng nào cho tôi. Nhưng chúng ta đã gắn kết với nhau; và trong nút thắt buộc chặt chúng ta, như tôi đã nói, những người khác cũng bị buộc vào. Cả hai chúng ta rồi sẽ chết; cả hai chúng ta đều đã kết nối với người chết rồi, mỗi người qua một đứa trẻ nhỏ. Chúng ta hãy kiềm chế lẫn nhau.”

Ông Dombey hít một hơi dài, như thể muốn bảo: Ồ! Chỉ có thế thôi sao!

“Không có của cải nào,” bà tiếp tục, mặt tái nhợt đi khi quan sát ông, trong khi đôi mắt bà càng thêm rực sáng trong sự tha thiết, “có thể mua được những lời này từ tôi, và ý nghĩa thuộc về chúng. Một khi đã vứt bỏ như hơi thở hắt ra vô ích, không của cải hay quyền lực nào có thể mang chúng trở lại. Tôi nói thật lòng; tôi đã cân nhắc chúng; và tôi sẽ trung thành với những gì tôi đảm nhận. Nếu ông hứa sẽ kiềm chế về phía ông, tôi sẽ hứa kiềm chế về phía tôi. Chúng ta là một cặp đôi hết sức bất hạnh, ở đó, vì những nguyên do khác nhau, mọi tình cảm làm nên hạnh phúc hay bào chữa cho hôn nhân đều đã bị bật gốc; nhưng theo thời gian, một tình bạn nào đó, hoặc một sự phù hợp nào đó dành cho nhau, có thể sẽ nảy sinh giữa chúng ta. Tôi sẽ cố gắng hy vọng như vậy, nếu ông cũng nỗ lực; và tôi sẽ hướng tới một sự sử dụng tuổi già tốt đẹp hơn và hạnh phúc hơn những gì tôi đã làm với tuổi trẻ hay thời xuân sắc.”

Thấu suốt cuộc trò chuyện, bà cất lời bằng giọng trầm lắng, đều đều, không bổng không trầm; dứt lời, bà hạ bàn tay mà bà đã dùng để ép mình phải bình thản và rõ ràng như vậy xuống, nhưng không hề rời đôi mắt mà bà đã dùng để quan sát ông một cách kiên định như thế.

“Thưa Bà,” ông Dombey nói với tất cả sự trang trọng đỉnh điểm của mình, “tôi không thể chấp nhận bất kỳ đề nghị kỳ quặc nào thuộc loại này.”

Bà vẫn nhìn ông, không một chút đổi thay.

“Tôi không thể,” ông Dombey vừa nói vừa đứng dậy, “chấp nhận nhân nhượng hay thương lượng với bà, thưa bà Dombey, về một đề tài mà bà đã biết rõ quan điểm và kỳ vọng của tôi. Tôi đã đưa ra yêu cầu cuối cùng của mình, thưa Bà, và chỉ yêu cầu bà suy ngẫm hết sức nghiêm túc về nó.”

Nhìn nét mặt bà trở lại biểu cảm cũ, dữ dội sâu sắc hơn! Nhìn ánh mắt bà cụp xuống như tránh một vật đê tiện khinh bỉ! Nhìn sự kiêu hãnh trên vầng trán bừng bừng nhen nhóm! Nhìn sự khinh bỉ, giận dữ, phẫn nộ và ghê tởm trỗi dậy, còn vẻ thiết tha nhạt nhòa biến mất như làn sương mờ! Ông không thể không nhìn, dù nhìn trong sự bàng hoàng kinh hãi.

“Đi đi, thưa Ông!” bà nói, hất tay hách dịch chỉ về phía cửa. “Sự bộc bạch đầu tiên và cũng là cuối cùng giữa chúng ta đã chấm dứt. Từ nay trở đi, không gì có thể khiến chúng ta xa lạ với nhau hơn thế này được nữa.”

“Tôi sẽ đi theo con đường chính đáng của mình, thưa Bà,” ông Dombey nói, “hãy tin chắc rằng tôi sẽ không bị nao núng bởi bất kỳ lời hoa mỹ suông nào đâu.”

Bà quay lưng lại phía ông, và chẳng thèm đáp lại, ngồi xuống trước gương.

“Tôi đặt niềm tin vào ý thức trách nhiệm cải thiện hơn, tình cảm đúng đắn hơn và sự suy ngẫm chín chắn hơn của bà, thưa Bà,” ông Dombey nói.

Bà không đáp lại một từ. Qua tấm gương, ông không còn thấy bà bận tâm đến mình nữa, chẳng khác nào ông là một con nhện vô hình trên tường hay con bọ trên sàn nhà, hoặc đúng hơn, như thể ông là một trong hai thứ đó, đã bị nhìn thấy và bị nghiền nát khi bà vừa quay đi, rồi bị lãng quên giữa lũ sâu bọ chết chóc đê tiện trên mặt đất.

Ông ngoái nhìn lại khi bước ra khỏi cửa, căn phòng sang trọng rực rỡ ánh đèn, những vật dụng xinh đẹp lấp lánh trưng bày khắp nơi, vóc dáng Edith trong bộ váy lộng lẫy ngồi trước gương, và gương mặt Edith hiện lên qua phản chiếu; rồi ông trở về căn phòng suy ngẫm cũ kỹ của mình, mang theo một bức tranh sống động trong tâm trí về tất cả những điều đó, cùng một sự suy đoán mông lung kỳ quặc (như thỉnh thoảng vẫn hiện lên trong đầu một người) rằng tất cả những thứ ấy sẽ trông như thế nào khi ông nhìn thấy chúng vào lần tới.

Về phần còn lại, ông Dombey rất trầm mặc, rất giữ uy nghiêm, và rất tự tin sẽ thực hiện được mục đích của mình; ông vẫn giữ nguyên thái độ đó.

Ông không có ý định đi cùng gia đình tới Brighton; nhưng ông hào hứng thông báo với Cleopatra vào bữa sáng, sáng hôm khởi hành diễn ra một hai ngày sau đó, rằng ông có thể sẽ xuống sớm. Không có thời gian để lãng phí trong việc đưa Cleopatra đến bất kỳ nơi nào được khuyến nghị là tốt cho sức khỏe; vì quả thực, bà lão có vẻ đã xế chiều, và quay trở về với đất bụi.

Dù không trải qua đợt tái phát bệnh rõ rệt lần thứ hai, bà lão dường như tụt lùi trong quá trình phục hồi sau đợt đầu. Bà gầy gò và teo tóp hơn, ngớ ngẩn thất thường hơn, và nhầm lẫn kỳ lạ hơn trong tâm trí lẫn ký ức. Trong số các triệu chứng của căn bệnh này, bà rơi vào thói quen nhầm lẫn tên của hai người con rể, người còn sống và người đã mất; và nói chung gọi ông Dombey là “Grangeby”, hoặc “Domber”, hoặc tùy hứng gọi bằng cả hai tên.

Nhưng bà vẫn trẻ trung, còn rất trẻ trung; và trong sự trẻ trung ấy, bà xuất hiện ở bữa sáng trước khi đi, trong chiếc mũ kiểu mới làm riêng, và bộ váy đi đường được thêu thùa tết dây như váy bé gái. Giờ đây không dễ để đội cho bà chiếc mũ bay bổng đó, hay giữ chiếc mũ nằm yên trên cái đầu tội nghiệp cứ gật gù liên tục của bà sau khi đã đội xong. Trong trường hợp này, chiếc mũ không chỉ tạo ra hiệu ứng kỳ quặc là luôn lệch sang một bên, mà còn liên tục bị cô người làm Flowers — người đứng hầu phía sau trong bữa sáng để thực hiện nhiệm vụ đó — gõ gõ vào chóp mũ.

“Nào, Grangeby yêu quý nhất của mẹ,” bà Skewton nói, “con nhất định phải hứa” — bà nuốt bớt một số từ, và bỏ hẳn một số từ khác — “xuống sớm đấy nhé.”

“Vừa rồi tôi đã nói, thưa Bà,” ông Dombey đáp lại, giọng to và nhọc nhằn, “rằng tôi sẽ xuống trong một hai ngày tới.”

“Phước cho con, Domber!”

Đến đây Thiếu tá, người đến để chào tạm biệt các quý bà, và đang giương đôi mắt sung huyết giận dữ nhìn chằm chằm vào mặt bà Skewton với sự thản nhiên bất vụ lợi của một sinh linh bất tử, lên tiếng:

“Thề có Chúa, thưa Bà, bà không mời Joe giải này tới chơi sao!”

“Gã quái gở, hắn là ai?” Cleopatra nói ngọng nịu. Nhưng một cú gõ vào chiếc mũ từ Flowers có vẻ như đã kích thích ký ức của bà, bà nói thêm, “Ồ! Ý ông là chính ông đấy hả, đồ quỷ quyệt!”

“Quái gở hết sức, thưa Ông,” Thiếu tá thì xầm với ông Dombey. “Bệnh nặng rồi. Chưa bao giờ mặc đủ ấm;” Thiếu tá vừa nói vừa cài cúc áo đến tận cằm. “Ơ kìa, J. B. nói Joe thì còn ai vào đây ngoài Joe Bagstock già này — Joseph — kẻ tôi tớ của bà — Joe đây, thưa Bà? Đây! Người đó đây! Đây là cái ống thổi Bagstock đây, thưa Bà!” Thiếu tá vỗ một cú vang trời vào ngực mình.

“Edith yêu quý nhất của mẹ — Grangeby — thật là chuyện kỳ quái nhất,” Cleopatra giận dỗi nói, “rằng Thiếu tá —”

“Bagstock! J. B.!” Thiếu tá gọi to khi thấy bà ấp úng quên tên mình.

“Chà, chẳng sao cả,” Cleopatra nói. “Edith yêu dấu, con biết mẹ chẳng bao giờ nhớ nổi tên — cái gì nhỉ? Ồ! — thật là chuyện kỳ quái nhất khi có quá nhiều người muốn xuống thăm mẹ. Mẹ đi đâu có lâu. Mẹ sẽ về mà. Chắc chắn họ có thể đợi cho đến khi mẹ về chứ!”

Cleopatra nhìn quanh bàn khi nói điều đó, vẻ mặt hết sức bồn chồn.

“Mẹ không tiếp khách đâu — thực sự không muốn khách khứa chút nào,” bà nói; “nghỉ ngơi một chút — và tất cả những thứ đại loại thế — là điều mẹ cần. Không kẻ đáng ghét nào được tiếp cận mẹ cho đến khi mẹ rũ bỏ được cảm giác tê dại này;” và trong sự trở lại ghê rợn với lối đong đưa thường ngày, bà lấy quạt đập một cái về phía Thiếu tá, nhưng lại làm đổ tách trà sáng của ông Dombey, vốn nằm ở một hướng hoàn toàn khác.

Sau đó bà gọi Withers, và dặn anh ta phải đặc biệt lưu ý nhắn lại về một vài sửa đổi nhỏ trong phòng bà, tất cả phải được hoàn thành trước khi bà trở về, và phải bắt đầu ngay lập tức, vì không thể biết bà sẽ trở về sớm như thế nào; bởi bà có rất nhiều cuộc hẹn, và đủ loại người đến thăm. Withers tiếp nhận những chỉ thị này với sự kính trọng thỏa đáng, và cam kết thực hiện; nhưng khi anh ta lùi lại vài bước phía sau bà, dường như anh ta không thể cưỡng lại việc nhìn Thiếu tá bằng ánh mắt kỳ quặc, Thiếu tá không thể cưỡng lại việc nhìn ông Dombey bằng ánh mắt kỳ quặc, ông Dombey không thể cưỡng lại việc nhìn Cleopatra bằng ánh mắt kỳ quặc, còn Cleopatra thì không thể cưỡng lại việc gật gù chiếc mũ qua một bên mắt, và gõ dao nĩa lách cách trên đĩa khi sử dụng, như thể đang chơi gõ phách castanet.

Chỉ riêng Edith chưa từng ngẩng mắt nhìn bất kỳ khuôn mặt nào trên bàn, và dường như chẳng bao giờ mất bình tĩnh trước bất kỳ điều gì mẹ bà nói hay làm. Bà lắng nghe lời nói đứt quãng của mẹ, hoặc ít nhất là quay đầu về phía mẹ khi được gọi; đáp lại bằng vài từ trầm thấp khi cần thiết; và thỉnh thoảng ngắt lời khi mẹ nói lan man, hoặc đưa suy nghĩ của mẹ trở lại điểm xuất phát bằng một từ đơn. Người mẹ, dù không ổn định trong những việc khác, nhưng lại luôn nhất quán ở điểm này — đó là bà luôn quan sát Edith. Bà sẽ nhìn vào khuôn mặt xinh đẹp, trong sự tĩnh lặng và nghiêm nghị như đá cẩm thạch của nó, khi thì với một sự ngưỡng mộ sợ hãi; khi thì trong một nỗ lực ngốc nghếch khúc khích để làm cho nó mỉm cười; khi thì với những giọt nước mắt thất thường và những cú lắc đầu ghen tông, như thể tự hình dung mình bị nó ngó lơ; luôn có một sự thu hút về phía khuôn mặt đó, vốn chưa từng biến động như các ý tưởng khác của bà, mà luôn chiếm giữ tâm trí bà. Từ Edith, thỉnh thoảng bà lại nhìn sang Florence, rồi lại nhìn ngược về Edith, theo một cách khá hoang dại; và thỉnh thoảng bà lại cố nhìn đi nơi khác, như thể muốn trốn chạy khỏi khuôn mặt của con gái mình; nhưng bà dường như buộc phải quay lại với nó, mặc dù nó chưa bao giờ chủ động tìm kiếm khuôn mặt bà trừ khi được tìm kiếm, hay làm phiền bà bằng một ánh nhìn đơn độc nào.

Bữa sáng kết thúc, bà Skewton vờ như dựa dẫm thơ ngây vào tay Thiếu tá, nhưng lại được cô người làm Flowers nâng đỡ nặng nề ở bên kia, và chú tiểu đồng Withers chống đỡ phía sau, được đưa ra xe ngựa, chiếc xe sẽ chở bà, Florence và Edith đến Brighton.

“Và Joseph bị trục xuất hoàn toàn sao?” Thiếu tá thò khuôn mặt tím ngắt qua bậc cửa xe nói. “Mẹ kiếp, thưa Bà, lẽ nào Cleopatra lại nhẫn tâm cấm đoán Antony Bagstock trung thành của mình tiếp cận thánh diện sao?”

“Đi đi!” Cleopatra nói. “Tôi không chịu nổi ông đâu. Ông sẽ gặp tôi khi tôi trở về, nếu ông ngoan ngoãn.”

“Hãy bảo với Joseph rằng ông ấy có thể sống trong hy vọng, thưa Bà,” Thiếu tá nói; “bằng không ông ấy sẽ chết trong tuyệt vọng.”

Cleopatra rùng mình, tựa lưng ra sau. “Edith yêu quý,” bà nói. “Nói với ông ấy —”

“Nói gì ạ?”

“Mấy từ đáng sợ quá,” Cleopatra nói. “Lão ta toàn dùng mấy từ đáng sợ!”

Edith ra hiệu cho ông ta lui ra, ra lệnh cho xe chạy, và để mặc vị Thiếu tá đáng ghét lại cho ông Dombey. Ông ta quay trở lại bên ông Dombey, vừa đi vừa huýt sáo.

“Tôi nói cho ông biết cái này, thưa Ông,” Thiếu tá nói, hai tay để sau lưng, hai chân dang rộng, “một người bạn xinh đẹp của chúng ta đã chuyển sang Phố Khó Khăn rồi đấy.”

“Ý Thiếu tá là sao?” ông Dombey hỏi.

“Ý tôi muốn nói, Dombey ạ,” Thiếu tá đáp, “rằng ông sắp sửa thành kẻ mồ côi mẹ vợ rồi.”

Ông Dombey có vẻ chẳng mặn mà gì với cách mô tả hóm hỉnh này về mình, đến mức Thiếu tá phải kết thúc bằng tiếng ho như ngựa kêu để tỏ vẻ nghiêm trang.

“Mẹ kiếp, thưa Ông,” Thiếu tá nói, “chẳng việc gì phải giấu giếm thực tế. Joe này thẳng tính lắm, thưa Ông. Bản tính ông ấy là thế. Nếu ông chấp nhận Josh già này, ông phải chấp nhận ông ấy đúng như bản chất; và một gã rùa già giẻ rách gỉ sét, cẩn mật như giũa J. B. chính là những gì ông thấy ở ông ấy. Dombey này,” Thiếu tá nói, “mẹ vợ ông sắp đi rồi đấy, thưa Ông.”

“Tôi e rằng,” ông Dombey đáp lại với nhiều vẻ triết lý, “rằng bà Skewton đã suy sụp rồi.”

“Suy sụp ư, Dombey!” Thiếu tá nói. “Tan nát rồi!”

“Tuy nhiên,” ông Dombey tiếp tục, “sự thay đổi không khí và sự chăm sóc vẫn có thể làm được nhiều điều.”

“Đừng tin vào điều đó, thưa Ông,” Thiếu tá đáp lại. “Mẹ kiếp, thưa Ông, bà ấy chẳng bao giờ mặc đủ ấm. Nếu một người không giữ ấm,” Thiếu tá nói, vừa cài thêm một chiếc cúc trên chiếc gile màu vàng bơ của mình, “người đó chẳng có gì để chống đỡ cả. Nhưng có những người sẽ chết. Họ sẽ làm thế. Mẹ kiếp, họ sẽ chết. Họ bướng bỉnh lắm. Tôi nói cho ông biết, Dombey, điều này có thể không trang nhã; có thể không tinh tế; có thể thô ráp và cứng cỏi; nhưng một chút sức bền Bagstock Anh quốc chính hiệu thời xưa, thưa Ông, sẽ làm nên mọi điều tốt đẹp trên đời cho giống nòi con người đấy.”

Sau khi truyền đạt thông tin quý giá này, Thiếu tá — người chắc chắn là một gã bảo thủ chính hiệu, dù ông ta có sở hữu hay thiếu hụt những phẩm chất nào khác đi nữa, thuộc phân loại “Anh quốc chính hiệu thời xưa” vốn chưa bao giờ được xác định rõ ràng — mang đôi mắt tôm luộc và chứng ngạt huyết của mình đến câu lạc bộ, và ngồi ngạt thở ở đó cả ngày.

Cleopatra, lúc thì bực bội, lúc thì tự mãn, lúc thì tỉnh táo, lúc thì ngủ gật, và lúc nào cũng tỏ ra trẻ trung, đã tới Brighton ngay trong đêm đó, rã rời ra từng mảnh như thường lệ, và được đặt lên giường; nơi mà một trí tưởng tượng u uất có thể đã vẽ ra một bộ xương quyền năng hơn cả cô người làm — kẻ lẽ ra phải là một bộ xương — đang đứng canh bên bức màn màu hồng rủ xuống để trút sắc xuân lên bà lão.

Thành hội đồng y khoa cao cấp đã quyết định rằng bà nên đi hóng mát bằng xe ngựa mỗi ngày, và điều quan trọng là bà phải ra ngoài mỗi ngày, và đi bộ nếu có thể. Edith sẵn sàng đi cùng bà — luôn sẵn sàng đi cùng bà, với sự chăm sóc máy móc và vẻ đẹp bất động như cũ — và họ tự lái xe ra ngoài một mình; vì Edith cảm thấy bất an khi có mặt Florence, giờ đây khi mẹ bà đã yếu hơn, bà hôn Florence và bảo rằng bà muốn hai người đi riêng hơn.

Vào một ngày nọ, bà Skewton ở trong trạng thái tâm lý do dự, đòi hỏi, ghen tông vốn đã bộc phát khi bà hồi phục sau đợt phát bệnh đầu tiên. Sau khi ngồi im lặng trên xe theo dõi Edith một lúc, bà nắm lấy tay Edith và hôn ngấu nghiến. Bàn tay ấy không đưa ra cũng chẳng rụt lại, chỉ đơn giản ngoan ngoãn để bà nhấc lên, và khi được thả ra thì rơi xuống lại, gần như thể không còn cảm giác. Thấy vậy, bà bắt đầu sụt sùi và than van, bảo rằng bà là người mẹ thế nào mà lại bị lãng quên ra sao! Bà tiếp tục làm vậy theo những khoảng thời gian ngẫu hứng, ngay cả khi họ đã xuống xe: khi chính bà đang khập khễnh bước đi với sự hỗ trợ đôi của Withers và một chiếc gậy, Edith đi bên cạnh, còn chiếc xe từ từ theo sau ở một khoảng cách ngắn.

Đó là một ngày ảm đạm, u uất, lộng gió, và họ đang ở trên đồi Downs mà chẳng có gì ngoài một khoảng đất trống trải giữa họ và bầu trời. Người mẹ, với sự hài lòng cằn nhằn trong giai điệu đơn điệu của lời than phiền, vẫn thỉnh thoảng nhắc lại nó bằng giọng trầm thấp, trong khi vóc dáng kiêu hãnh của con gái bà bước đi chậm rãi bên cạnh, thì từ phía đồi tối phía trước có hai bóng người tiến lại, mà từ xa trông giống như một sự bắt chước phóng đại hình ảnh của chính họ, đến mức Edith phải dừng lại.

Gần như ngay khi bà dừng lại, hai bóng người cũng dừng lại; và kẻ mà theo suy nghĩ của Edith giống như một bóng đen méo mó của mẹ bà, đã nói chuyện với kẻ kia một cách tha thiết, tay chỉ về phía họ. Kẻ đó có vẻ muốn quay lại, nhưng kẻ kia — người mà Edith nhận ra có đủ điểm giống mình khiến bà bàng hoàng với một cảm giác kỳ lạ, không hoàn toàn thoát khỏi sự sợ hãi — lại tiến lên; và rồi cả hai cùng tiến lên.

Phần lớn sự quan sát này bà thực hiện trong khi bước về phía họ, vì sự dừng lại của bà chỉ trong thoáng chốc. Quan sát kỹ hơn cho bà thấy họ ăn mặc hèn mòn, như những kẻ lang thang khắp vùng quê; người phụ nữ trẻ hơn mang theo đồ len đan hoặc vài thứ hàng hóa đại loại thế để bán; còn bà lão thì lê bước với hai bàn tay trắng.

Thế nhưng, dù khác biệt đến đâu về trang phục, về uy nghi, về vẻ đẹp, Edith vẫn không thể không so sánh người phụ nữ trẻ hơn với chính mình. Có thể bà đã nhìn thấy trên khuôn mặt cô ta vài dấu vết mà bà biết vẫn còn vương vấn trong tâm hồn mình, nếu chưa được ghi lên bảng biểu cảm đó; nhưng khi người phụ nữ tiến lên, đáp lại ánh nhìn của bà, xoáy đôi mắt rực sáng vào bà, rõ ràng thể hiện dáng vẻ và tầm vóc giống như bà, và dường như đáp lại những suy nghĩ của chính bà, bà cảm thấy một luồng ớn lạnh bò qua người, như thể ngày đang tối sầm lại và gió trở nên lạnh hơn.

Giờ đây họ đã đến nơi. Bà lão chìa tay ra van xin, dừng lại xin tiền bà Skewton. Người trẻ hơn cũng dừng lại, cô ta và Edith nhìn chằm chằm vào mắt nhau.

“Cô có cái gì để bán vậy?” Edith hỏi.

“Chỉ có thế này thôi,” người phụ nữ đáp, giơ hàng hóa ra mà không nhìn chúng. “Tôi đã bán chính mình từ lâu rồi.”

“Thưa Bà, đừng tin nó,” bà lão krác giọng nói với bà Skewton; “đừng tin những gì nó nói. Nó thích nói kiểu đó lắm. Nó là đứa con gái đẹp đẽ nhưng bất hiếu của tôi. Nó chẳng cho tôi cái gì ngoài những lời trách mắng, thưa Bà, vì tất cả những gì tôi đã làm cho nó. Nhìn nó bây giờ xem, thưa Bà, cách nó nhìn người mẹ già tội nghiệp của nó kìa.”

Khi bà Skewton run rẩy rút ví ra và lóng ngóng tìm ít tiền, điều mà bà lão kia tham lam chực chờ — đầu họ gần như chạm vào nhau trong sự vội vã và suy nhược — Edith can thiệp:

“Tôi đã từng gặp bà,” Edith nói với bà lão, “trước đây rồi.”

“Vâng, thưa Bà,” bà lão vừa nhún người chào vừa nói. “Dưới vùng Warwickshire. Buổi sáng giữa những vòm cây. Khi Bà không chịu cho tôi thứ gì. Nhưng quý ông đó, ông ấy đã cho tôi chút đỉnh! Ồ, cầu Chúa ban phúc cho ông ấy, ban phúc cho ông ấy!” bà lão lẩm bẩm, giơ bàn tay gầy giuộc lên và nhe răng cười kinh dị với con gái mình.

“Chẳng ích gì khi định ngăn mẹ đâu, Edith!” bà Skewton giận dỗi nói trước khi con gái kịp phản đối. “Con chẳng biết gì về chuyện này đâu. Mẹ sẽ không nghe lời can ngăn đâu. Mẹ chắc chắn đây là một người phụ nữ tuyệt vời, một người mẹ tốt.”

“Vâng, thưa Bà, vâng,” bà lão nói lách cách, chìa bàn tay tham lam ra. “Cảm ơn Bà. Cầu Chúa ban phúc cho Bà. Thêm sáu xu nữa đi, quý bà xinh đẹp của tôi, như một người mẹ tốt vậy.”

“Và cũng bị đối xử bất hiếu đủ rồi, bà lão tốt lành của tôi ạ, đôi khi là vậy, tôi quả quyết với bà đấy,” bà Skewton sụt sùi nói. “Đây! Bắt tay với tôi đi. Bà là một bà lão rất tốt — đầy sự cái-gì-đó — và tất cả những thứ tương tự. Bà toàn là tình thương yêu và vân vân, đúng không?”

“Ồ vâng, thưa Bà!”

“Vâng, tôi chắc chắn bà là vậy; và cái sinh linh lịch thiệp Grangeby cũng thế. Tôi thực sự phải bắt tay bà lần nữa. Và giờ bà có thể đi rồi đấy, bà biết đấy; và tôi hy vọng,” bà nói với người con gái, “rằng cô sẽ tỏ ra biết ơn hơn, và có lòng cái-gì-đó tự nhiên hơn, cùng tất cả phần còn lại — nhưng tôi chẳng bao giờ nhớ nổi tên — vì chưa từng có người mẹ nào tốt hơn bà lão tốt lành này đối với cô đâu. Đi thôi, Edith!”

Khi tàn tích của Cleopatra lảo đảo bước đi, sụt sùi và lau mắt một cách cẩn trọng vì e ngại phấn hồng quanh mắt, bà lão khập khễnh đi đường khác, lẩm bẩm và đếm tiền. Không một từ nào nữa, cũng không một cử chỉ nào khác được trao đổi giữa Edith và người phụ nữ trẻ hơn, nhưng cả hai đều không rời mắt khỏi nhau dù chỉ một khoảnh khắc. Họ vẫn đối diện nhau cho đến tận bây giờ, khi Edith, như bừng tỉnh khỏi một giấc mơ, chậm rãi bước tiếp.

“Cô là một người phụ nữ đẹp đấy,” bóng đen của bà lầm bầm nhìn theo; “nhưng nhan sắc chẳng cứu nổi chúng ta đâu. Và cô là một người phụ nữ kiêu hãnh; nhưng lòng kiêu hãnh cũng chẳng cứu nổi chúng ta. Chúng ta cần phải biết rõ nhau khi gặp lại lần sau!”

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.