Lễ hội lớn nửa năm một lần do Tiến sĩ và Bà Blimber tổ chức — dịp mà ông bà trân trọng mời toàn thể các cậu cậu ấm đang theo học tại cơ sở gia giáo này đến dự tiệc sớm lúc bảy giờ rưỡi tối, với mục đích chính là nhảy điệu quadrille — vừa diễn ra đúng vào thời gian này. Các cậu học trò, với thái độ đứng đắn không chút nhờn nhó, đã trở về nhà trong trạng thái no nê tri thức. Cậu Skettles đã xuất ngoại vĩnh viễn để làm rạng danh cơ ngơi của thân phụ mình là Ngài Barnet Skettles, người nhờ sự khéo léo lấy lòng công chúng mà nhận được một chức vụ ngoại giao — một vinh dự được ông cùng Phu nhân Skettles thực thi chu toàn đến mức làm hài lòng cả đồng bào mình, điều vốn được coi như một phép màu. Cậu Tozer, nay đã là một thanh niên vóc dáng cao ráo, đi ủng Wellington, thì uyên bác về thời cổ đại đến mức trình độ tiếng Anh của cậu chẳng khác nào một người La Mã cổ đại chính gốc: một thành tựu khiến bậc sinh thành vô cùng xúc động, và làm cho cha mẹ cậu Briggs (người có kiến thức như hành lý xếp ẩu, nén quá chặt đến mức chẳng thể lấy ra nổi thứ mình cần) phải cúi đầu hổ thẹn. Quả thực, thành quả mà cậu học trò Briggs gặt hái từ cây tri thức do bị dồn ép quá mức đã trở thành một loại "táo ngâm Norfolk", chẳng còn giữ lại chút hình dáng hay hương vị nguyên bản nào. Trong khi đó, cậu Bitherstone lại ở vào tình cảnh dễ chịu hơn nhiều; phương pháp nhồi nhét gia tốc lại mang đến cho cậu một tác động may mắn và khá phổ biến là chẳng để lại chút ấn tượng nào khi bộ máy ép hoạt động dừng lại. Lúc này cậu đã xuống tàu sang Bengal, và quên đi mọi thứ với tốc độ nhanh đến kinh ngạc, tới mức người ta phải nghi ngờ liệu vốn từ vựng biến hình danh từ của cậu có trụ nổi cho đến cuối chuyến đi hay không.
Vào buổi sáng hôm diễn ra bữa tiệc, khi Tiến sĩ Blimber lẽ ra sẽ nói với các học trò theo thông lệ: "Thưa các cậu, chúng ta sẽ trở lại học tập vào ngày hai mươi lăm tháng sau," thì ông lại phá lệ mà rằng: "Thưa các cậu, khi vị hiền Triết Cincinnatus của chúng ta lui về trang trại, ông không giới thiệu với viện nguyên lão bất kỳ người La Mã nào để chỉ định làm người kế vị. Nhưng ở đây có một người La Mã," Tiến sĩ Blimber đặt tay lên vai thầy Feeder, Cử nhân Văn khoa, "một *adolescens imprimis gravis et doctus* [một thanh niên vô cùng đứng đắn và bác học], thưa các cậu, người mà tôi, một Cincinnatus sắp về hưu, muốn giới thiệu với viện nguyên lão nhỏ bé của mình như một Đấng Độc tài tương lai. Thưa các cậu, chúng ta sẽ tiếp tục học tập vào ngày hai mươi lăm tháng sau dưới sự dẫn dắt của thầy Feeder, Cử nhân Văn khoa." Nghe thấy điều này (vốn đã được Tiến sĩ Blimber đến tận nhà các phụ huynh ân cần giải thích trước đó), các cậu học trò reo hò; và cậu Tozer, đại diện cho tập thể, lập tức dâng tặng Tiến sĩ một nghiên mực bằng bạc kèm một bài phát biểu hầu như chẳng có mấy tiếng mẹ đẻ, nhưng lại trích dẫn tới mười lăm câu tiếng Latinh và bảy câu tiếng Hy Lạp. Điều này khiến những học trò nhỏ tuổi hơn bất bình và đố kỵ; chúng rì rầm: "Ồ, ôi dẹp đi. Lão Tozer làm thế thì hay ho gì, chắc chúng mình quyên tiền là để cho lão Tozer khoe khoang đấy hả? Việc này liên quan gì đến lão Tozer hơn người khác cơ chứ? Đâu phải nghiên mực của lão. Sao lão không để yên tài sản của bọn này?" cùng vô số lời càu nhàu bất mãn khác, mà xem ra việc gọi cậu là "lão Tozer" là cách xả giận hiệu quả nhất đối với chúng.
Chẳng một lời nào được nói với các cậu học trò, cũng không một manh mối nào được hé lộ về một đám cưới sắp diễn ra giữa thầy Feeder, Cử nhân Văn khoa, và cô Cornelia Blimber kiều diễm. Đặc biệt là Tiến sĩ Blimber, ông luôn tỏ ra như thể chẳng có điều gì làm ông ngạc nhiên hơn thế; tuy nhiên tất cả các cậu học trò đều biết tống táng câu chuyện, và khi chia tay để về với gia đình, người thân, chúng giã từ thầy Feeder với một niềm kính sợ.
Những viễn cảnh lãng mạn nhất của thầy Feeder nay đã thành hiện thực. Tiến sĩ đã quyết định sơn lại toàn bộ bên ngoài ngôi nhà, sửa sang lại thật chu đáo, đồng thời từ bỏ việc dạy học và trao lại Cornelia. Công việc sơn sửa bắt đầu ngay vào ngày các cậu học trò ra về, và giờ đây hãy nhìn xem! Buổi sáng ngày cưới đã đến, Cornelia đeo một chiếc kính cận mới, đang chờ đợi được dẫn lên xe hoa.
Tiến sĩ với đôi chân uyên bác, Bà Blimber trong chiếc mũ kiểu đầm màu tử đinh hương, thầy Feeder, Cử nhân Văn khoa, với khớp ngón tay dài cùng mái tóc rậm như bàn chải, và em trai thầy Feeder là Mục sư Alfred Feeder, Thạc sĩ Văn khoa, người sẽ cử hành hôn lễ, tất cả đã hội tụ đông đủ trong phòng khách. Cornelia cùng những hoa cam trang trí và các cô phụ dâu vừa bước xuống, trông cô vẫn như xưa, có phần gượng gạo nhưng lại rất duyên dáng. Đúng lúc đó, cánh cửa mở ra, và anh thanh niên có đôi mắt yếu ấp dằn giọng xướng to:
“CẬU VÀ BÀ TOOTS!”
Tiếp đó là sự xuất hiện của cậu Toots, người nay đã phát tướng trông thấy, bên tay cậu là một phu nhân ăn mặc rất sang trọng, thanh lịch, sở hữu đôi mắt đen láy sáng ngời.
“Bà Blimber,” cậu Toots nói, “cho phép tôi được giới thiệu nhà tôi.”
Bà Blimber rất đỗi vui mừng đón nhận. Bà Blimber có chút hạ mình bề trên, nhưng lại vô cùng nồng hậu.
“Và vì bà đã biết tôi từ lâu,” cậu Toots nói, “xin đoan chắc với bà rằng cô ấy là một trong những người phụ nữ phi thường nhất từng tồn tại trên đời.”
“Anh này!” Bà Toots nhắc khéo.
“Tôi xin lấy danh dự và lời hứa ra đảm bảo đấy,” cậu Toots nói. “Tôi... tôi xin đoan với bà, bà Blimber, cô ấy là một người phụ nữ vô cùng đặc biệt.”
Bà Toots bật cười vui vẻ, còn Bà Blimber dẫn cô đến gặp Cornelia. Sau khi chào hỏi phía bên đó và bái phỏng vị ân sư cũ — người đã bóng gió về tình trạng hôn nhân của cậu: “Chà, Toots! Ra trò đấy, Toots! Thế là anh cũng nhập hội với chúng tôi rồi đấy hả, Toots?” — cậu Toots cùng thầy Feeder, Cử nhân Văn khoa, lui ra bên cửa sổ.
Thầy Feeder, Cử nhân Văn khoa, đang trong trạng thái cực kỳ phấn khởi, liền giơ tay làm vài động tác đấm box vờ với cậu Toots, rồi vỗ nhẹ mu bàn tay vào xương ức cậu một cách sành điệu.
“Thế nào, bạn già!” Thầy Feeder cười lớn. “Thế nào! Chúng ta đều ở đây cả rồi! Đều bị sập bẫy và xong đời cả rồi. Phải không?”
“Feeder này,” cậu Toots đáp. “Tôi mừng cho anh. Nếu anh cũng... cũng... cũng hạnh phúc hoàn hảo trong đời sống vợ chồng như chính tôi đây, anh sẽ chẳng còn mong ước điều gì hơn nữa.”
“Anh thấy đấy, tôi đâu có quên bạn cũ,” thầy Feeder nói. “Tôi mời họ đến dự đám cưới của mình đấy chứ, Toots.”
“Feeder,” cậu Toots nghiêm trang trả lời, “thực ra có vài sự cố đã ngăn cản tôi liên lạc với anh cho đến tận khi lễ cưới của tôi được cử hành xong xuôi. Thứ nhất, tôi đã xử sự chẳng khác nào một kẻ thô bạo với anh về chuyện Cô Dombey; và tôi cảm thấy nếu anh được mời đến bất kỳ đám cưới nào của tôi, tự nhiên anh sẽ nghĩ đó là với Cô Dombey, điều đó sẽ dẫn đến những lời giải thích mà thề có trời đất, vào thời điểm khủng hoảng ấy, nó sẽ quật ngã tôi hoàn toàn. Thứ hai, đám cưới của chúng tôi hoàn toàn riêng tư; chẳng có ai tham dự ngoài một người bạn của tôi và nhà tôi, ông ấy là Đại úy trong binh chủng... tôi cũng không rõ chính xác là binh chủng gì,” cậu Toots nói, “nhưng điều đó không quan trọng. Tôi hy vọng rằng, Feeder ạ, trong lá thư tường thuật lại những gì xảy ra trước khi tôi và Bà Toots lên đường đi du ngoạn nước ngoài, tôi đã làm tròn bổn phận của tình bạn.”
“Toots, chú em ơi,” thầy Feeder bắt tay cậu và nói, “tôi đùa đấy mà.”
“Và giờ đây, Feeder,” cậu Toots nói, “tôi rất muốn biết anh nghĩ gì về cuộc hôn nhân của tôi.”
“Tuyệt vời!” thầy Feeder đáp.
“Anh thấy tuyệt vời phải không, Feeder?” cậu Toots trang trọng hỏi. “Thế thì nó mới tuyệt vời làm sao đối với Tôi! Bởi anh không bao giờ biết được người phụ nữ đó phi thường đến mức nào đâu.”
Thầy Feeder sẵn lòng công nhận điều đó. Nhưng cậu Toots lắc đầu, không chấp nhận việc cho rằng điều đó là đương nhiên.
“Anh thấy đấy,” cậu Toots nói, “điều tôi cần ở một người vợ là... nói ngắn gọn là sự khôn ngoan. Tiền bạc, Feeder à, tôi có. Còn sự khôn ngoan thì tôi... tôi không đặc biệt có.”
Thầy Feeder rì rầm: “Ồ, có chứ, anh có mà, Toots!” Nhưng cậu Toots ngắt lời:
“Không, Feeder, tôi không có. Việc gì phải giấu giếm? Tôi không hề có. Tôi biết sự khôn ngoan nằm ở Đó,” cậu Toots đưa tay chỉ về phía vợ mình, “nằm thành từng đống hoàn hảo. Tôi chẳng có người thân nào để phản đối hay phật ý về địa vị xã hội; vì tôi làm gì có người thân. Tôi chưa từng có ai là thân thích ngoại trừ người giám hộ, mà ông ta, Feeder ạ, tôi luôn coi là một Tên cướp biển và Cướp biển vùng biển Đỏ. Vì thế, anh biết đấy, chẳng đời nào,” cậu Toots nói, “tôi lại đi nghe theo ý kiến của ông ta.”
“Đúng vậy,” thầy Feeder nói.
“Vì thế,” cậu Toots tiếp tục, “tôi đã tự mình quyết định. Tươi đẹp làm sao cái ngày tôi làm điều đó! Feeder! Không ai ngoài tôi có thể biết được tầm vóc trí tuệ của người phụ nữ ấy. Nếu sau này Quyền Phụ nữ, và tất cả những thứ tương tự, được quan tâm đúng mực, thì đó sẽ là nhờ vào trí tuệ hùng mạnh của cô ấy... Susan, em yêu!” cậu Toots đột ngột hướng mắt ra ngoài cửa sổ gọi, “xin em đừng quá sức!”
“Anh yêu,” Bà Toots nói, “em chỉ đang trò chuyện thôi mà.”
“Nhưng em yêu,” cậu Toots nói, “xin em đừng quá sức. Em thực sự phải cẩn trọng. Đừng quá sức nhé, Susan yêu dấu. Cô ấy rất dễ bị kích động,” cậu Toots nói riêng với Bà Blimber, “và khi đó cô ấy quên sạch lời bác sĩ dặn.”
Bà Blimber đang nhấn mạnh với Bà Toots về sự cần thiết phải thận trọng thì thầy Feeder, Cử nhân Văn khoa, tiến đến đề nghị đưa tay cho bà tựa vào, rồi dẫn bà xuống những chiếc xe đang chờ sẵn để đến nhà thờ. Tiến sĩ Blimber hộ tống Bà Toots. Cậu Toots hộ tống cô dâu kiều diễm, quanh chiếc kính cận lấp lánh của cô có hai cô phụ dâu nhỏ nhắn trong trang phục mỏng như tơ đang tung tăng như những chú bướm đêm. Em trai thầy Feeder, ông Alfred Feeder, Thạc sĩ Văn khoa, đã đi trước một bước để chuẩn bị cử hành buổi lễ.
Hôn lễ được tiến hành một cách tuyệt vời. Cornelia, với những lọn tóc xoăn nhỏ nhắn, đã “vào cuộc”, như gã Bồ Câu có thể sẽ nói, với sự điềm tĩnh lớn lao; và Tiến sĩ Blimber đã gả cô đi như một người đã hoàn toàn chuẩn bị tư tưởng cho việc đó. Hai cô phụ dâu nhỏ nhắn có vẻ là những người chịu đựng nhiều nhất. Bà Blimber có xúc động, nhưng rất nhẹ nhàng; trên đường về nhà, bà nói với Mục sư Alfred Feeder, Thạc sĩ Văn khoa rằng, nếu bà chỉ cần được nhìn thấy Cicero trong ẩn thất của ông tại Tusculum, thì bà sẽ chẳng còn ước nguyện nào chưa thành hiện thực nữa.
Sau đó là bữa sáng, giới hạn trong cùng một nhóm nhỏ đó; tại đây, khí thế của thầy Feeder, Cử nhân Văn khoa, lên cao ngút trời, và truyền sang Bà Toots khiến cậu Toots phải mấy lần lên tiếng qua bàn ăn: “Susan yêu dấu, đừng quá sức!” Điều buồn cười nhất là cậu Toots cảm thấy mình có trách nhiệm phải phát biểu một bài; và mặc cho cả một hệ thống tín hiệu xua tay can ngăn từ Bà Toots, cậu vẫn đứng dậy phát biểu lần đầu tiên trong đời.
“Tôi thực sự,” cậu Toots nói, “trong ngôi nhà này, nơi mà bất kể điều gì xảy ra với tôi theo kiểu... đôi khi là sự nhầm lẫn trí óc nào đó... điều chẳng quan trọng và tôi không đổ lỗi cho ai cả... tôi luôn được đối xử như một người trong gia đình Tiến sĩ Blimber, và từng có một bàn học riêng trong một thời gian dài... không... thể... để cho người bạn Feeder của tôi bị...”
Bà Toots nhắc khéo: “kết hôn.”
“Có lẽ sẽ không bất hợp lý vào dịp này, hoặc không hoàn toàn thiếu thú vị,” cậu Toots nói với khuôn mặt hân hoan, “khi nhận xét rằng vợ tôi là một người phụ nữ vô cùng đặc biệt, và cô ấy sẽ làm điều này tốt hơn tôi nhiều... để cho người bạn Feeder của tôi bị kết hôn... đặc biệt là với...”
Bà Toots nhắc khéo: “với Cô Blimber.”
“Với Bà Feeder chứ, em yêu!” cậu Toots nói với giọng nhỏ nhẹ như thảo luận riêng: “‘sự gì Thiên Chúa đã phối hợp,’ em biết đấy, ‘loài người không được’... em biết chưa? Tôi không thể để cho người bạn Feeder của tôi kết hôn... đặc biệt là với Bà Feeder... mà lại không đề nghị... chúc mừng họ; và mong rằng,” cậu Toots nói, mắt nhìn chằm chằm vào vợ như thể tìm kiếm nguồn cảm hứng cho một chuyến bay cao, “mong rằng ngọn đuốc của Hymen sẽ là ngọn hải đăng của niềm vui, và mong rằng những bông hoa chúng ta rải trên đường đi của họ hôm nay sẽ là... kẻ xua tan... sự u uất!”
Tiến sĩ Blimber, người vốn có sở thích về ẩn dụ, tỏ ra rất hài lòng với điều này và nói: “Rất tốt, Toots! Nói rất hay, quả thực vậy, Toots!” rồi gật đầu và vỗ tay. Thầy Feeder đáp lời bằng một bài phát biểu hài hước xen lẫn tình cảm. Sau đó, ông Alfred Feeder, Thạc sĩ Văn khoa, đã có những lời chúc tụng rất vui vẻ dành cho Tiến sĩ và Bà Blimber; thầy Feeder, Cử nhân Văn khoa, cũng chẳng kém phần sôi nổi khi nhắc đến các cô phụ dâu nhỏ nhắn. Tiếp đó, Tiến sĩ Blimber, bằng một giọng vang dội, đã đưa ra một vài suy ngẫm theo phong cách đồng quê, liên quan đến những bụi sậy mà ông và Bà Blimber dự định sẽ sống giữa chúng, và con ong sẽ rì rầm quanh mái tranh của họ. Ngay sau đó, khi đôi mắt Tiến sĩ lấp lánh một cách đặc biệt, còn chàng rể của ông thì đã nhận xét rằng thời gian là dành cho kẻ nô lệ, và hỏi xem Bà Toots có hát không, thì Bà Blimber kín đáo đã giải tán buổi họp, và tiễn Cornelia ra đi rất mát mẻ và thoải mái trên một chiếc xe ngựa kéo, cùng với người đàn ông của lòng cô.
Cậu và Bà Toots lui về khách sạn Bedford (Bà Toots đã từng ở đó trong quá khứ, dưới tên thời con gái là Nipper), và ở đó họ tìm thấy một lá thư mà cậu Toots mất một khoảng thời gian dài khủng khiếp mới đọc xong, khiến Bà Toots hoảng sợ.
“Susan yêu dấu,” cậu Toots nói, “hoảng sợ còn tồi tệ hơn quá sức đấy. Xin em hãy bình tĩnh!”
“Thư của ai vậy anh?” Bà Toots hỏi.
“Ồ, em yêu,” cậu Toots nói, “là của Đại úy Gills. Đừng kích động nhé. Walters và Cô Dombey sắp về nhà rồi!”
“Anh yêu,” Bà Toots vội vã nhổm dậy khỏi ghế sofa, mặt tái nhợt, “đừng tìm cách lừa em làm gì vô ích, họ đã về nhà rồi... em nhìn thấy rõ điều đó trên mặt anh!”
“Cô ấy đúng là một người phụ nữ phi thường!” cậu Toots thốt lên trong sự ngưỡng mộ say đắm. “Em hoàn toàn đúng, em yêu, họ đã về nhà rồi. Cô Dombey đã gặp cha mình, và họ đã hòa giải!”
“Hòa giải rồi sao!” Bà Toots reo lên, vỗ tay.
“Em yêu,” cậu Toots nói; “xin em đừng quá sức. Hãy nhớ đến lời bác sĩ! Đại úy Gills nói... ít nhất là ông ấy không nói thẳng, nhưng anh đoán, từ những gì anh có thể hiểu được, ý ông ấy là... Cô Dombey đã đưa người cha tội nghiệp của cô ấy rời khỏi ngôi nhà cũ, đến một nơi cô ấy và Walters đang sống; ông ấy đang nằm bệnh rất nặng ở đó... được cho là sắp chết; và cô ấy chăm sóc ông ấy ngày đêm.”
Bà Toots bắt đầu khóc nức nở.
“Susan yêu quý nhất của anh,” cậu Toots đáp, “xin em, xin em nếu có thể, hãy nhớ đến lời bác sĩ! Nếu em không thể, thì cũng chẳng sao... nhưng hãy cố gắng nhé!”
Vợ cậu, đột nhiên trở lại với dáng vẻ cũ, đã tha thiết van xin cậu đưa cô đến gặp cún con quý giá của cô, tiểu thư nhỏ của cô, người con gái cưng của chính cô, và những lời tương tự, đến mức cậu Toots, người có sự cảm thông và ngưỡng mộ sâu sắc nhất, đã đồng ý từ tận đáy lòng; và họ nhất trí lên đường ngay lập tức để hồi âm lá thư của Đại úy.
Giờ đây, một sự đồng điệu ẩn giấu nào đó của vạn vật, hoặc một sự trùng hợp ngẫu nhiên, vào ngày hôm đó đã đưa chính Đại úy (người mà cậu và Bà Toots sẽ sớm tìm đến) vào đoàn người diễu hành hoa mỹ của hôn lễ; không phải với tư cách nhân vật chính, mà là một phụ mạo. Điều đó xảy ra một cách tình cờ như thế này:
Đại úy, sau khi được nhìn thấy Florence cùng đứa con nhỏ của cô trong một khoảnh khắc ngắn ngủi với sự mãn nguyện vô bờ, và sau khi trò chuyện lâu với Walter, đã ra ngoài đi dạo; ông cảm thấy cần phải suy ngẫm một mình về những biến đổi của dâu bể cuộc đời, và ngả chiếc mũ bóng của mình xuống đầy chua xót trước sự sụp đổ của Ông Dombey, người mà sự bao dung và giản dị trong bản chất của ông đã trỗi dậy một cách mạnh mẽ. Đại úy hẳn đã rất buồn phiền vì người sĩ phu bất hạnh đó, nếu không nhờ ký ức về đứa bé; mỗi khi nhớ đến đứa trẻ, ông lại cảm thấy hài lòng đến mức bật cười thành tiếng khi đi dạo trên phố, và quả thực, không chỉ một lần, trong một cơn hứng khởi đột ngột, ông đã tung chiếc mũ bóng của mình lên rồi đỡ lấy; trước sự ngạc nhiên lớn của những người đứng xem. Những sự thay đổi nhanh chóng giữa ánh sáng và bóng tối mà hai chủ đề suy ngẫm đối lập này mang lại cho Đại úy đã thử thách tinh thần ông rất nhiều, đến mức ông cảm thấy một chuyến đi dạo dài là cần thiết để lấy lại sự bình thản; và vì chịu ảnh hưởng lớn từ những liên tưởng hòa hợp, ông đã chọn bối cảnh cho chuyến đi dạo này là khu xóm cũ của mình, xóm của những người làm cột buồm, mái chèo, ròng rọc, thợ bánh mì khô cho tàu thủy, thợ xúc than, lò nấu hắc ín, thủy thủ, kênh rạch, bến tàu, cầu quay và các vật thể êm đềm khác.
Những cảnh tượng yên bình này, đặc biệt là khu vực Limehouse Hole và vùng lân cận, có tác dụng xoa dịu Đại úy đến mức ông tiếp tục bước đi với sự thanh thản được khôi phục, và thực ra, ông đang tự thưởng cho mình bằng cách hát nhẩm bản dân ca về *Peg Đáng Yêu*, thì khi rẽ qua một góc đường, ông đột nhiên sững người và không nói nên lời trước một đoàn diễu hành huy hoàng mà ông nhìn thấy đang tiến về phía mình.
Cuộc diễu hành đáng sợ này dẫn đầu bởi người phụ nữ kiên quyết, Bà MacStinger; bà giữ một nét mặt kiên định không thể lay chuyển, và đeo nổi bật trên khuôn ngực cứng rắn một chiếc đồng hồ khổng lồ cùng các phụ kiện đi kèm mà Đại úy nhận ra ngay lập tức là tài sản của Bunsby; bà đang kẹp dưới tay không ai khác chính là gã thủy thủ khôn ngoan đó; gã, với nét mặt bàng hoàng và sầu não của một tù binh bị đưa sang xứ lạ, ngoan ngoãn phục tùng theo ý bà. Phía sau họ là đàn con nhà MacStinger, đi thành một đoàn, hớn hở. Phía sau chúng là hai người phụ nữ với vẻ mặt kinh hoàng và kiên định, đang dẫn giữa họ một người đàn ông thấp bé đội chiếc mũ cao, người này cũng hớn hở không kém. Đi sau cùng là thằng nhỏ của Bunsby, tay cầm những chiếc ô. Tất cả đều ở trong tư thế diễu hành tốt; và sự diện bảnh một cách đáng sợ bao trùm lấy nhóm người này hẳn đã đủ để tuyên bố — nếu như nét mặt dũng cảm của các bà phu nhân còn chưa đủ — rằng đây là một cuộc diễu hành hiến tế, và nạn nhân chính là Bunsby.

Phản ứng đầu tiên của Đại úy là bỏ chạy. Đây dường như cũng là phản ứng đầu tiên của Bunsby, dù việc thực hiện nó có tuyệt vọng đến đâu. Nhưng một tiếng reo nhận ra quen biết cất lên từ phía đoàn người, và Alexander MacStinger chạy xộc tới chỗ Đại úy với hai tay mở rộng, Đại úy đành phải đầu hàng.
“Chà, Đại úy Cuttle!” Bà MacStinger nói. “Đây đúng là một cuộc gặp gỡ! Tôi không còn giữ lòng oán hận nữa đâu, Đại úy Cuttle... ông không cần phải sợ rằng tôi sẽ buông lời trách móc gì đâu. Tôi hy vọng sẽ bước lên thánh壇 với một tâm thế khác.” Đến đây Bà MacStinger dừng lại, vươn người lên, hít một hơi thật sâu làm phồng lồng ngực, rồi chỉ vào nạn nhân mà nói: “‘Chồng tôi, Đại úy Cuttle!”
Gã Bunsby hèn mạt chẳng nhìn sang bên phải cũng chẳng nhìn sang bên trái, chẳng nhìn cô dâu mà cũng chẳng nhìn bạn mình, chỉ nhìn thẳng về phía trước vào khoảng không vô định. Đại úy đưa tay ra, Bunsby cũng đưa tay ra; nhưng để đáp lại lời chào của Đại úy, gã chẳng thốt ra một lời nào.
“Đại úy Cuttle,” Bà MacStinger nói, “nếu ông muốn hàn gắn những hiềm thù cũ, và nhìn thấy lần cuối cùng người bạn của ông, ‘chồng tôi, với tư cách là một người độc thân, chúng tôi sẽ rất ‘hạnh phúc được ông cùng đến nhà nguyện. Ở đây có một vị phu nhân,” Bà MacStinger nói, quay sang người gan dạ hơn trong hai người phu nhân, “phụ dâu của tôi, người sẽ rất vui khi có sự bảo vệ của ông, Đại úy Cuttle.”
Người đàn ông thấp bé đội chiếc mũ cao, người có vẻ là chồng của vị phu nhân còn lại và rõ ràng là đang hớn hở trước việc một đồng loại bị giam hãm vào cùng hoàn cảnh với mình, liền nhường chỗ và giao vị phu nhân đó cho Đại úy Cuttle. Vị phu nhân lập tức chộp lấy ông, và nhận xét rằng không có thời gian để lãng phí, liền ra lệnh bằng một giọng mạnh mẽ: tiến lên.
Mối quan hoài của Đại úy dành cho bạn mình — ban đầu không phải là không lẫn lộn với chút quan hoài cho chính bản thân mình, bởi một nỗi sợ hãi mơ hồ rằng ông có thể bị ép cưới bằng bạo lực đã xâm chiếm lấy ông, cho đến khi kiến thức của ông về buổi lễ đến giải cứu, và nhớ lại nghĩa vụ pháp lý của việc phải nói “Tôi đồng ý”, ông cảm thấy bản thân mình an toàn chừng nào ông còn quyết tâm, nếu được hỏi bất kỳ câu nào, sẽ đáp lại một cách rõ ràng “Tôi không đồng ý” — đã khiến ông mồ hôi đầm đìa; và làm cho ông, trong một thời gian, không còn nhận thức được các chuyển động của đoàn diễu hành mà nay ông đã trở thành một thành tố, cũng như cuộc trò chuyện của người bạn đồng hành kiều diễm. Nhưng khi bớt hoảng loạn hơn, ông biết được từ vị phu nhân này rằng bà là góa phụ của một Ông Bokum nào đó từng làm việc tại Nha Thuế quan; rằng bà là người bạn thân thiết nhất của Bà MacStinger, người mà bà coi là tấm gương cho giới mình; rằng bà đã nghe nhiều về Đại úy, và giờ đây hy vọng ông đã ăn ăn sám hối về cuộc sống quá khứ của mình; rằng bà tin tưởng Ông Bunsby biết rõ mình đã có được một phước lành như thế nào, nhưng bà e rằng đàn ông hiếm khi biết được những phước lành đó là gì cho đến khi họ mất đi chúng; cùng nhiều điều tương tự với mục đích đó.
Trong suốt thời gian này, Đại úy không thể không nhận ra rằng Bà Bokum luôn mắt không rời khỏi chú rể, và bất cứ khi nào họ đến gần một con hẻm hay lối rẽ hẹp nào khác có vẻ thuận lợi cho việc bỏ trốn, bà đều cảnh giác để chặn đường nếu gã có ý định tẩu thoát. Vị phu nhân kia cũng vậy, cũng như chồng bà ta, người đàn ông thấp bé với chiếc mũ cao, đều tỏ ra gác phòng rõ ràng theo một kế hoạch đã tính toán trước; và gã đàn ông khốn nạn đã bị Bà MacStinger khống chế chặt chẽ đến mức mọi nỗ lực tự giải thoát bằng cách bỏ chạy đều trở nên vô ích. Điều này, quả thực, hiển nhiên đối với cả những người dân thường, họ thể hiện sự nhận thức của mình về thực tế đó bằng những lời chế nhạo và tiếng la bới; trước tất cả những điều đó, Bà MacStinger đáng sợ hoàn toàn dửng dưng không lay chuyển, trong khi chính Bunsby lại xuất hiện trong một trạng thái mất trí giác.
Đại úy đã thực hiện nhiều nỗ lực để bắt chuyện với nhà triết học, dù chỉ bằng một âm tiết hay một tín hiệu; nhưng luôn thất bại, do sự cảnh giác của lực lượng canh giữ, và khó khăn — vốn luôn là đặc tính riêng trong cơ địa của Bunsby — trong việc làm cho sự chú ý của gã bị thức tỉnh bởi bất kỳ dấu hiệu bên ngoài và hữu hình nào. Thế là họ tiến đến nhà nguyện, một tòa nhà quét vôi trắng gọn gàng, mới được thuê gần đây bởi Mục sư Melchisedech Howler, người đã đồng ý, trước sự khẩn cầu rất tha thiết, trao cho thế giới thêm hai năm tồn tại nữa, nhưng đã thông báo cho các tín đồ của mình rằng, sau đó, nó nhất định phải tiêu tùng.
Trong khi Mục sư Melchisedech đang dâng lên một vài lời cầu nguyện ứng tác, Đại úy đã tìm thấy cơ hội để gầm lên vào tai chú rể:
“Thế nào rồi, chú em, thế nào rồi?”
Bunsby đáp lại, với sự quên bẵng Mục sư Melchisedech mà chỉ có hoàn cảnh tuyệt vọng của gã mới có thể bào chữa được:
“Tệ... tồi tệ lắm,”
“Jack Bunsby,” Đại úy thì thầm, “chú làm việc này ở đây có phải do tự nguyện không?”
Mr Bunsby trả lời “Không.”
“Thế sao chú lại làm, hả chú em?” Đại úy hỏi, một cách rất tự nhiên.
Bunsby, vẫn nhìn, và luôn nhìn với một nét mặt bất động về phía bên kia của thế giới, không trả lời.
“Sao không giật buồm tháo chạy?” Đại úy nói. “Hả?” Bunsby thì thầm, với một tia hy vọng lóe lên trong chốc lát.
“Giật buồm tháo chạy đi,” Đại úy nói.
“Ích gì đâu?” nhà triết học ủ dột vặn lại. “Mụ ấy sẽ bắt lại tớ thôi.”
“Cứ thử xem!” Đại úy đáp. “Vui lên nào! Đến đây! Thời cơ của chú đây rồi. Giật buồm tháo chạy đi, Jack Bunsby!”
Jack Bunsby, tuy nhiên, thay vì lợi dụng lời khuyên, lại nói trong một tiếng thì thầm sầu thảm:
“Tất cả bắt đầu từ cái rương đó của ông đấy. Đêm đó cớ sao tớ lại dẫn mụ ấy vào cảng làm gì cơ chứ?”
“Chú em ơi,” Đại úy ngập ngừng, “tôi cứ tưởng chú đã phục được mụ ấy; chứ không phải mụ ấy phục được chú. Một người đàn ông có những quan điểm như chú cơ mà!”
Mr Bunsby chỉ thốt ra một tiếng thở dài nén lại.
“Đến đây!” Đại úy nói, húc cùi trỏ vào gã, “thời cơ của chú đây rồi! Giật buồm tháo chạy đi! Tôi sẽ bọc lót cho chú rút lui. Thời gian đang trôi qua đấy. Bunsby! Vì tự do đấy. Chú có muốn một lần không?”
Bunsby bất động.
“Bunsby!” Đại úy thì thầm, “chú có muốn hai lần không?”
Bunsby không muốn hai lần.
“Bunsby!” Đại úy giục giã, “vì tự do đấy; chú có muốn ba lần không? Bây giờ hoặc không bao giờ!”
Bunsby đã không làm lúc đó, và cũng chẳng bao giờ làm nữa; bởi vì ngay sau đó Bà MacStinger đã kết hôn với gã.
Một trong những tình tiết đáng sợ nhất của buổi lễ đối với Đại úy là sự quan tâm chết người được thể hiện trong đó bởi Juliana MacStinger; và sự tập trung tai hại trong các giác quan của nó, mà đứa trẻ đầy triển vọng đó, nay đã là hình ảnh thu nhỏ của mẹ nó, quan sát toàn bộ diễn biến. Đại úy nhìn thấy trong điều này một chuỗi bẫy người giăng ra vô tận; một chuỗi các thời đại của sự áp bức và cưỡng chế mà dòng dõi đi biển phải gánh chịu. Đó là một cảnh tượng đáng nhớ hơn cả sự kiên định không hề lay chuyển của Bà Bokum và người phu nhân kia, sự hớn hở của người đàn ông thấp bé đội chiếc mũ cao, hay thậm chí là sự nhẫn tâm tàn nhẫn của Bà MacStinger. Các cậu ấm nhà MacStinger hiểu rất ít về những gì đang diễn ra, và càng ít quan tâm hơn; chúng chủ yếu bận rộn, trong suốt buổi lễ, với việc giẫm lên ủng của nhau; nhưng sự tương phản do những đứa trẻ tội nghiệp đó tạo ra chỉ làm nổi bật và tô điểm thêm cho người phụ nữ phát triển sớm ở Juliana. Thêm một hai năm nữa, Đại úy nghĩ, và ở trọ tại nơi có đứa trẻ đó sẽ là sự hủy diệt.
Lễ cưới kết thúc bằng một cú lao tới chung của đám con nhỏ vào Mr Bunsby, chúng chào đón gã bằng cái tên trìu mến là cha, và xin gã vài xu lẻ. Khi những làn sóng tình cảm này qua đi, đoàn diễu hành chuẩn bị tiến ra ngoài lần nữa, thì bị hoãn lại một thời gian ngắn bởi một sự xúc động không ngờ tới từ phía Alexander MacStinger. Đứa trẻ đáng yêu đó, có vẻ như, khi liên tưởng nhà nguyện với những bia mộ, mỗi khi bước vào đó vì bất kỳ mục đích nào ngoài các buổi lễ tôn giáo thông thường, đã không thể tin được rằng mẹ nó không phải là đang được chôn cất một cách tử tế và mất đi vĩnh viễn khỏi nó. Trong sự đau đớn của niềm tin này, nó gào lên với một sức mạnh dữ dội, và mặt tím tái lại. Dù những dấu hiệu của một tính cách dịu dàng này có xúc động đến đâu đối với mẹ nó, thì việc để cho sự nhận thức về chúng thoái hóa thành sự yếu đuối lại không phải là tính cách của người phụ nữ phi thường đó. Vì vậy, sau khi cố gắng thuyết phục lý trí của nó một cách vô ích bằng những cú lắc, cú thúc, tiếng la bới và các hình thức áp dụng tương tự vào đầu nó, bà liền dẫn nó ra ngoài không khí thoáng đãng và thử một phương pháp khác; phương pháp này được thể hiện cho đám cưới thấy bằng một chuỗi nhanh chóng các âm thanh sắc lạnh, giống như tiếng vỗ tay, và sau đó, bằng việc họ nhìn thấy Alexander tiếp xúc với viên đá lát đường mát mẻ nhất trong sân, mặt đỏ bừng và khóc lóc thảm thiết.
Đoàn diễu hành sau đó đã ở trong tình trạng có thể tập hợp lại một lần nữa và trở về Phố Brig, nơi một bữa tiệc cưới đã sẵn sàng, quay trở về như lúc nó đến; không phải là không có việc Bunsby nhận được nhiều lời chúc mừng hài hước từ dân chúng về hạnh phúc mới đạt được của gã. Đại úy đi cùng đoàn cho đến tận cửa nhà, nhưng do cảm thấy bất an trước thái độ dịu dàng hơn của Bà Bokum — người mà nay đã được giải thoát khỏi nhiệm vụ cuốn hút của mình (bởi sự cảnh giác và hăng hái của các phu nhân giảm đi rõ rệt khi chú rể đã kết hôn an toàn) — có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn để tỏ ra quan tâm đến ông, nên ông đã rời khỏi đó và gã tù binh; viện lý do yếu ớt là có một cuộc hẹn, và hứa sẽ quay lại ngay. Đại úy còn có một nguyên nhân khác gây bất an, trong việc hối hận phản ánh rằng ông đã là phương tiện đầu tiên dẫn đến việc Bunsby bị sập bẫy, dù chắc chắn là không cố ý, và thông qua niềm tin vô bờ bến của ông vào các nguồn lực của nhà triết học đó.
Trở lại với Sol Gills già tại quán Chàng Thủy Thủ Gỗ mà không vòng qua hỏi thăm tình hình Ông Dombey trước — dẫu rằng ngôi nhà nơi ông nằm cách xa London, mãi tận rìa của một cánh đồng hoang sơ — là điều hoàn toàn nằm ngoài lộ trình của Đại úy. Vì vậy, ông đã đi nhờ xe khi mệt mỏi, và hoàn thành chuyến đi một cách vui vẻ.
Mành cửa đã được kéo xuống, và ngôi nhà yên tĩnh đến mức Đại úy suýt nữa không dám gõ cửa; nhưng ghé tai nghe ở cửa, ông nghe thấy những tiếng nói nhỏ bên trong, rất gần đó, và gõ nhẹ, ông được Mr Toots cho vào. Mr Toots và vợ cậu, trên thực tế, vừa mới đến đó; họ đã đến quán Chàng Thủy Thủ để tìm ông, và đã xin được địa chỉ ở đó.
Họ đến không lâu đến mức Bà Toots đã kịp bế đứa bé từ tay ai đó, ôm nó vào lòng và ngồi xuống cầu thang, ôm ấp và vuốt ve nó. Florence đang cúi xuống bên cạnh cô; và không ai có thể nói được Bà Toots đang ôm ấp và vuốt ve ai nhiều hơn, người mẹ hay đứa con, hoặc ai dịu dàng hơn, Florence đối với Bà Toots, hay Bà Toots đối với cô, hay cả hai đối với đứa bé; đó là một nhóm nhỏ đầy tình yêu thương và sự xúc động.
“Và Cha của cô có bệnh nặng lắm không, Cô Floy yêu quý của em?” Susan hỏi.
“Ông bệnh rất, rất nặng,” Florence nói. “Nhưng, Susan yêu quý, em không được nói chuyện với chị như em vẫn thường nói nữa đâu. Và cái gì thế này?” Florence nói, chạm vào quần áo cô, trong sự ngạc nhiên. “Bộ váy cũ của em sao, em yêu? Mũ cũ, tóc xoăn, và tất cả mọi thứ ư?”
Susan bật khóc nức nở, và dồn dập những nụ hôn lên bàn tay nhỏ nhắn đã chạm vào cô một cách ngạc nhiên như thế.
“Thưa Cô Dombey yêu quý,” cậu Toots bước tới nói, “tôi sẽ giải thích. Cô ấy là một người phụ nữ phi thường nhất. Không có mấy người sánh được với cô ấy đâu! Cô ấy luôn nói... cô ấy đã nói trước khi chúng tôi kết hôn, và vẫn nói cho đến tận ngày hôm nay... rằng bất cứ khi nào cô trở về nhà, cô ấy sẽ đến gặp cô trong không bộ trang phục nào khác ngoài bộ trang phục cô ấy từng hầu hạ cô, vì sợ rằng cô ấy có vẻ xa lạ với cô, và cô có thể ít thích cô ấy hơn. Bản thân tôi rất ngưỡng mộ bộ trang phục này,” cậu Toots nói, “trên hết mọi thứ. Tôi thờ phụng cô ấy trong bộ trang phục đó! Thưa Cô Dombey yêu quý, cô ấy sẽ lại là người tớ của cô, người vú nuôi của cô, tất cả những gì cô ấy từng là, và hơn thế nữa. Chẳng có sự thay đổi nào ở cô ấy cả. Nhưng, Susan yêu quý của anh,” cậu Toots, người đã nói với một tình cảm lớn lao và sự ngưỡng mộ cao độ, lên tiếng, “tất cả những gì anh yêu cầu là em hãy nhớ đến lời bác sĩ, và đừng quá sức nhé!”