Thử tưởng tượng bạn đang cầm một vòi nước tưới cây với một chỗ gấp khúc ở giữa ống. Một ít nước có thể chảy qua, nhưng không nhiều. Nếu bạn muốn lượng nước chảy qua vòi xịt tăng lên thì bạn có hai lựa chọn. Lựa chọn thứ nhất là mở van nước để tạo áp lực lớn hơn cho nước chảy ra. Lựa chọn thứ nhì là chỉ cần nắn lại ống cho hết gập để nước chảy qua tự nhiên.
Cố gắng bơm động lực của mình lên để duy trì các thói quen khó giống như ép nước chảy mạnh qua đường ống bị gấp khúc vậy. Bạn cũng làm được thôi, nhưng cần rất nhiều công sức và còn gia tăng áp lực lên cuộc sống của mình. Trong khi đó, khiến cho thói quen của bạn đơn giản và dễ dàng hơn giống như nắn lại ống nước. Thay vì cố vượt qua lực cản trong cuộc sống thì ta giảm nó xuống.
Một trong những cách hiệu quả nhất để giảm lực cản gắn với thói quen là thiết kế môi trường sống. Trong Chương 6, chúng ta đã bàn về thiết kế môi trường sống, một phương pháp làm cho các tín hiệu trở nên rõ ràng hơn, ngoài ra bạn còn có thể tối ưu hóa môi trường sống của mình để giúp cho các hành vi được thực hiện dễ dàng hơn. Giả sử, khi bạn đang tìm nơi nào đó để thực thi một thói quen mới, thì tốt nhất là bạn nên chọn nơi có sẵn ngay trên lộ trình của thói quen thường nhật. Thói quen sẽ dễ hình thành hơn nếu nó có thể nhét vừa vặn vào trong dòng chảy cuộc sống của bạn. Bạn có nhiều khả năng đến phòng gym hơn nếu nó ở ngay trên đường mình đi làm, bởi vì dừng lại đi vào sẽ không tạo ra quá nhiều lực cản trong đời sống của bạn. Thử so sánh, nếu phòng tập ở ngoài con đường bạn đi về đều đặn - ngay cả khi chỉ cách đó vài khu nhà thôi - thì bạn phải “ra khỏi lộ trình thông thường” để đến đó.
Hay có thể sẽ hiệu quả hơn nếu bạn giảm lực cản ngay trong nhà hay ở nơi làm việc. Rất thường xuyên, ta hay bắt đầu thói quen ở những môi trường nhiều lực cản. Chúng ta cố gắng theo sát một liệu trình ăn kiêng khi ra ngoài ăn tối với bạn bè. Chúng ta cố gắng viết một quyển sách trong một ngôi nhà hỗn loạn. Chúng ta cố gắng tập trung khi đang dùng một chiếc điện thoại thông minh toàn những sao nhãng. Đâu nhất thiết phải như vậy. Ta có thể loại bỏ những lực cản gây trở ngại cho mình mà. Đây chính xác là điều mà các nhà máy sản xuất điện tử ở Nhật Bản đã bắt tay vào làm những năm 1970.
Trong một bài báo đăng trên tờ New Yorker nhan đề “Tốt hơn mọi lúc mọi nơi”, James Surowiecki viết:
“Các hãng Nhật nhấn mạnh một khái niệm gọi là “sản xuất tinh gọn”, liên tục hướng đến loại bỏ mọi hình thức lãng phí từ quy trình sản xuất cho tới tái thiết kế nơi làm việc, để công nhân không phải tốn thời gian xoay người lấy dụng cụ. Kết quả là các công ty Nhật có năng suất cao hơn và sản phẩm Nhật thì đáng tin cậy hơn của Mỹ. Năm 1974, đơn đặt hàng tivi màu của Mỹ nhiều hơn gấp năm lần so với tivi Nhật. Nhưng đến 1979, công nhân Mỹ tốn gấp ba lần thời gian để lắp ráp xong một máy.”
Tôi thích gọi chiến lược này là thêm vào bằng cách bớt ra[1]. Công ty Nhật tìm kiếm và loại bỏ mọi lực cản trong tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất. Khi bớt đi những nỗ lực thừa thãi, họ được tăng thêm khách hàng và doanh thu. Tương tự, khi chúng ta loại bỏ những lực cản khiến ta mất thời gian và năng lượng, ta sẽ đạt được nhiều hơn với nỗ lực ít hơn. (Đây là lý do vì sao dọn dẹp khiến chúng ta sung sướng: Ta đồng thời vừa cải thiện bản thân và vừa giảm bớt đi gánh nặng tâm trí[2] mà môi trường sống gây ra cho mình.)
Nếu quan sát các sản phẩm dễ gây ra thói quen, bạn sẽ thấy các sản phẩm hay dịch vụ này thạo nhất là loại bỏ từng mẩu lực cản ra khỏi cuộc sống của bạn. Dịch vụ giao thức ăn giảm lực cản của việc đi chợ. Ứng dụng hẹn hò giảm lực cản của việc giới thiệu và kết giao xã hội ban đầu. Dịch vụ đi chung xe giảm lực cản của việc băng qua thành phố. Tin nhắn điện thoại giảm lực cản của việc viết thư tay.
Tựa như những nhà máy sản xuất tivi Nhật Bản tái thiết kế lại nơi làm việc để giảm chuyển động thừa, các công ty thành công sẽ thiết kế những sản phẩm tự động hóa, loại bỏ hoặc đơn giản hóa sao cho càng ít bước thực hiện càng tốt. Họ giảm bớt số lượng nội dung cần điền trong mỗi biểu mẫu. Họ cắt bớt số lần cần click chuột để tạo một tài khoản. Họ giao hàng với các chỉ dẫn dễ hiểu hơn hoặc ít bắt khách phải lựa chọn hơn.
Khi những chiếc loa điều khiển bằng giọng nói đầu tiên được ra mắt - các sản phẩm như là Google Home, Amazon Echo, và Apple HomePod - tôi thử hỏi một người bạn rằng anh thích điều gì từ các sản phẩm đã mua. Anh bảo chỉ cần nói “Chơi nhạc đồng quê” và không cần phải rút điện thoại ra, mở ứng dụng, rồi chọn một danh sách nhạc. Dĩ nhiên, chỉ vài năm trước thôi, có được nhạc không giới hạn trong túi là một kỳ tích lớn lao nếu so với việc phải chạy ra cửa hàng mua đĩa CD. Kinh doanh là một hành trình bất tận hướng đến việc mang lại cùng một kết quả giống nhau theo một kiểu cách đơn giản hơn.
Các chính phủ cũng sử dụng hiệu quả các chiến lược tương tự. Khi chính phủ Anh muốn gia tăng thuế thu vào, họ đã chuyển đổi từ việc bắt công dân truy cập một trang web để có thể tải đơn thuế, đến việc đưa họ đường dẫn trực tiếp đến đơn thuế. Chỉ giảm một bước đó thôi cũng khiến tỷ lệ phản hồi từ 19,2% nâng lên 23,4%. Ở một đất nước như Vương quốc Anh, lượng phần trăm đó tương đương với hàng triệu bảng tiền thuế.
Ý tưởng chủ đạo ở đây là tạo ra một môi trường dễ thực thi nhất có thể cho hành vi đúng. Cuộc chiến kiến tạo các thói quen tốt hơn phần nhiều là nằm ở việc tìm ra cách giảm bớt lực cản liên quan đến thói quen tốt và gia tăng lực cản liên quan đến thói quen xấu.
❀ ❀ ❀
[1] Cụm thêm vào bằng cách bớt ra cũng được các đội nhóm và doanh nghiệp sử dụng để mô tả việc loại bớt người ra khỏi đội nhằm làm toàn đội mạnh hơn. (TG)
[2] Cognitive load: trong tâm lý học nhận thức, đây là từ chỉ sức lực tiêu hao cho trí nhớ ngắn hạn khi con người tiếp nhận và xử lý thông tin. (ND)