Thay Đổi Tí Hon - Hiệu Quá Bất Ngờ

Lượt đọc: 451 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2 | Thói Quen Định Hình Căn Tính Con Người Bạn Như Thế Nào (Và Ngược Lại)
2

❊ ❊ ❊

THÓI QUEN ĐỊNH HÌNH CĂN TÍNH CON NGƯỜI BẠN NHƯ THẾ NÀO (VÀ NGƯỢC LẠI)

Vì sao lại dễ lặp lại một thói quen xấu và khó hình thành một thói quen tốt đến như vậy? Chẳng mấy thứ có thể có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống của bạn nhiều cho bằng việc cải thiện thói quen hằng ngày. Vậy mà vào thời điểm này năm tới, nhiều khả năng là bạn vẫn sẽ làm cùng một thứ như bây giờ thay vì điều gì đó tốt hơn.

Thông thường ta sẽ cảm thấy khó khăn để duy trì các thói quen tốt quá vài ngày, ngay cả với nỗ lực thực tâm và động lực thi thoảng bùng phát. Các thói quen như rèn luyện thân thể, thiền tập, viết nhật ký, hay nấu ăn, thường sẽ dễ dàng trong một hai ngày, rồi sau đó sẽ trở thành một mối phiền phức.

Tuy vậy, một khi thói quen được hình thành, chúng dường như sẽ gắn bó mãi với ta - đặc biệt là các thói quen không mong muốn. Bất chấp dự định của ta tốt đẹp thế nào, các thói quen kém lành mạnh như ăn vặt, xem tivi quá nhiều, trì hoãn, hay hút thuốc, dường như không thể nào loại bỏ được.

Thay đổi thói quen là một việc khó bởi hai lý do: (1) Chúng ta đang cố gắng thay đổi sai việc; và (2) Chúng ta đang cố gắng thay đổi thói quen sai cách. Trong chương này, tôi sẽ thảo luận điểm đầu tiên. Và trong các chương tiếp theo, tôi sẽ trả lời ý thứ hai.

Sai lầm đầu tiên của ta là cố thay đổi sai việc. Để hiểu ý tôi đang nói, mời bạn xem xét ba cấp độ mà thay đổi có thể diễn ra. Bạn có thể hình dung nó giống như các lớp của củ hành.

Hình ảnh

Hình 3: Có ba lớp cấp độ trong việc thay đổi hành vi: thay đổi kết quả đầu ra, thay đổi quá trình, hoặc thay đổi trong căn tính con người bạn.

Lớp đầu tiên là thay đổi kết quả đầu ra. Cấp độ này liên quan đến thay đổi kết quả: giảm cân, xuất bản một quyển sách, giành chức vô địch. Phần lớn các mục tiêu bạn đề ra sẽ gắn với cấp độ thay đổi này.

Lớp thứ hai là thay đổi quy trình. Cấp độ này gắn với thay đổi thói quen và hệ thống: thực hiện một kế hoạch rèn luyện mới ở phòng gym, giải phóng bàn làm việc để tiến trình công việc trôi chảy hơn, thực hành thiền tập. Đa phần các thói quen bạn xây dựng được sẽ gắn với cấp độ này.

Lớp thứ ba và là lớp sâu nhất, đó là thay đổi căn tính. Cấp độ này liên quan đến việc thay đổi niềm tin: thế giới quan của bạn, sự tự nhận thức về bản thân, sự đánh giá của bạn về mình và người khác. Phần lớn các niềm tin, giả định và thiên kiến bạn có đều gắn với cấp độ này.

Đầu ra là cái mà bạn muốn có. Quy trình là cái bạn làm. Và căn tính là cái bạn tin. Khi nói đến việc xây dựng thói quen bền vững - khi nói đến chuyện xây dựng một hệ thống cải thiện 1% - thì vấn đề không nằm ở chỗ cấp độ nào “tốt hơn” hay “tệ hơn” cấp độ kia. Tất cả các cấp độ thay đổi đều hữu hiệu theo cách riêng của nó. Vấn đề nằm ở phương hướng thay đổi.

Nhiều người bắt đầu quá trình thay đổi thói quen bằng cách tập trung vào cái họ muốn đạt được. Điều này dẫn ta đến thói quen dựa-trên-đầu-ra. Nên thay thế bằng việc xây dựng thói quen dựa-trên-căn-tính. Với cách này, chúng ta bắt đầu bằng việc tập trung vào con người mà ta muốn trở thành.

Hình ảnh

Hình 4: Với thói quen dựa-trên-đầu-ra, trọng tâm được đặt trên cái mà bạn muốn đạt được. Với thói quen dựa-trên-căn-tính, trọng tâm được đặt trên con người mà bạn muốn trở thành.

Bạn hãy tưởng tượng hai người đang cai thuốc. Khi được mời một điếu, người đầu tiên nói, “Không, cảm ơn. Tôi đang cố cai thuốc”. Nghe có vẻ là một câu trả lời hợp lý, nhưng trong thâm tâm người này vẫn tin rằng mình là một người hút thuốc đang cố gắng trở nên khác đi. Họ đang hy vọng hành vi của mình sẽ thay đổi trong khi vẫn giữ niềm tin cũ.

Người thứ hai từ chối bằng câu trả lời, “Không, cảm ơn. Tôi không hút thuốc.” Đây chỉ là một khác biệt nhỏ, nhưng câu phát biểu này là dấu hiệu cho một sự chuyển đổi trong căn tính. Hút thuốc là một phần của đời sống cũ, chứ không phải con người bây giờ của người này. Họ không còn định nghĩa bản thân là một người hút thuốc nữa.

Phần đông mọi người thậm chí còn không nhận ra được sự thay đổi này trong căn tính khi họ bắt đầu tiến bộ. Họ chỉ nghĩ rằng, “Tôi muốn thon thả hơn (đầu ra) và nếu tôi kiên trì chế độ ăn kiêng này thì tôi sẽ thon thả (quá trình).” Họ đặt ra mục tiêu và quyết định hành động cần phải thực thi để đạt được mục tiêu mà không ý thức về các niềm tin thúc đẩy các hành động này. Họ không thay đổi cách họ nhìn về mình, và không nhận ra rằng căn tính cũ có thể phá hỏng mọi kế hoạch thay đổi của bản thân.

Đằng sau mỗi hệ thống hành động đều có một hệ thống niềm tin. Ví dụ như hệ thống dân chủ được xây dựng trên nền tảng các niềm tin như tự do, luật của đa số, và bình đẳng xã hội. Chế độ độc tài có một hệ thống niềm tin rất khác như quyền lực tuyệt đối và phục tùng nghiêm ngặt. Bạn có thể tưởng tượng ra nhiều cách để lôi kéo nhiều phiếu bầu trong một thể chế dân chủ, nhưng hành vi như thế không bao giờ xảy ra trong chế độ độc tài cả. Đó không phải là căn tính của chế độ ấy. Bầu cử là hành vi không thể thi hành trong một hệ thống niềm tin như vậy.

Một mô thức tương tự diễn ra khi chúng ta thảo luận về cá nhân, tổ chức, hay xã hội. Luôn luôn có một hệ thống niềm tin và giả định định hình một hệ thống, và một căn tính đằng sau các thói quen.

Hành vi mà không tương thích với cái tôi thì sẽ không bền vững. Có thể bạn muốn có nhiều tiền, nhưng nếu căn tính của bạn là một người thích tiêu thụ hơn tạo tác, thì bạn sẽ tiếp tục bị hút về phía tiêu pha nhiều hơn là kiếm tiền. Bạn có thể mong muốn khỏe hơn, nhưng nếu bạn tiếp tục ưu tiên cảm giác nhàn hạ hơn là cảm giác thành tựu, thì bạn sẽ bị hút về phía thư giãn hơn là rèn luyện. Rất khó thay đổi hành vi nếu như bạn không thay đổi các niềm tin bên dưới, những niềm tin đã dẫn bạn đến hành vi quá khứ. Bạn có một mục tiêu mới và một kế hoạch mới, nhưng bạn vẫn chưa đổi con người hiện tại của bạn.

Câu chuyện của Brian Clark, một doanh nhân từ Boulder, Colorado, là một ví dụ tốt. “Kể từ khi bắt đầu nhớ được thì tôi đã thấy mình có thói quen cắn móng tay.” Clark kể với tôi. “Ban đầu là một thói quen lúc căng thẳng khi tôi còn bé, rồi nó dần dần biến thành một nghi thức chải chuốt không mong muốn. Một ngày nọ, tôi quyết định ngừng gặm móng tay đến khi chúng dài ra được một tí. Chỉ nhờ vào sức mạnh ý chí, tôi đã xoay xở làm được.”

Sau đó Clark đã làm được một điều đáng kinh ngạc.

“Tôi nhờ vợ đặt cho một buổi chăm sóc móng đầu tiên trong đời”, anh kể. “Suy nghĩ của tôi lúc ấy là nếu như tôi bắt đầu chăm chút cho móng tay của mình thì tôi sẽ không cắn chúng nữa. Và nó hiệu quả thật, nhưng không phải vì lý do tiền bạc. Điều xảy ra là buổi chăm sóc móng làm cho móng tay tôi trông rất đẹp, lần đầu tiên trong đời. Nhân viên chăm sóc móng còn bảo rằng - thay vì gặm móng - tôi thật sự đã có một bộ móng tay khỏe mạnh và thu hút. Thế là đột nhiên tôi rất tự hào về bộ móng tay của mình. Và thậm chí tôi chưa từng hứng thú với chuyện làm móng này nọ, vậy mà nó đã thực sự tạo nên sự khác biệt. Từ lúc ấy trở đi, tôi chưa bao giờ cắn móng tay trở lại; không một lần nào. Chính bởi vì bây giờ tôi rất tự hào khi chăm sóc chúng đúng cách.”

Hình thức sau cùng của động lực nội tại là khi một thói quen trở thành một phần trong căn tính của bạn. Phát biểu “Tôi là kiểu người muốn điều này” là một chuyện. Còn nói rằng “Tôi chính là kiểu người này” là một chuyện rất khác.

Bạn càng cảm thấy tự hào một khía cạnh nào đấy trong căn tính của mình thì bạn càng có động lực để duy trì các thói quen gắn với nó. Nếu bạn tự hào về mái tóc của mình, bạn sẽ dần dần hình thành các kiểu thói quen chăm sóc và bảo dưỡng tóc. Nếu bạn tự hào về cơ bắp tay của mình thì bạn sẽ làm mọi thứ để đảm bảo mình không bỏ buổi tập luyện các nhóm cơ thân trên nào. Nếu bạn tự hào về những chiếc khăn choàng mình đan thì bạn sẽ bỏ ra hàng đống giờ ngồi đan móc hàng tuần. Một khi lòng tự hào của bạn lâm trận, bạn sẽ hạ gục thôi thúc muốn gặm móng tay được ngay để duy trì thói quen của mình.

Thay đổi hành vi đích thực chính là thay đổi về căn tính. Có thể lúc mới đầu bạn bắt đầu một thói quen là do động lực, nhưng lý do duy nhất giúp bạn kiên trì được với nó chính là thói quen ấy đã trở thành một phần căn tính của bạn. Bất kỳ ai cũng có thể thuyết phục bản thân đến phòng tập hoặc ăn uống lành mạnh một đôi lần, nhưng nếu bạn không thay đổi niềm tin đằng sau một hành vi, thì bạn sẽ rất khó duy trì được thay đổi dài hạn. Tiến bộ sẽ chỉ có tính tạm bợ nếu như nó không trở thành một phần con người bạn.

Mục tiêu không phải là đọc một quyển sách, mục tiêu là trở thành một người đọc sách. Mục tiêu không phải là tham gia một cuộc chạy marathon, mục tiêu là trở thành một người chạy bộ. Mục tiêu không phải là học chơi một nhạc cụ, mục tiêu là trở thành một người chơi nhạc cụ.

Hành vi của bạn thường là một tấm gương phản ánh căn tính của bạn. Những gì bạn làm, đó là dấu chỉ về kiểu người mà bạn tin mình đang là - cả về mặt ý thức lẫn phi ý thức[1]. Đã có nghiên cứu cho thấy một người tin vào một khía cạnh nào đấy trong căn tính của họ, thì nhiều khả năng họ sẽ hành động tương ứng với niềm tin ấy. Ví dụ, một người định nghĩa bản thân là “một cử tri” thì nhiều khả năng sẽ đi bầu hơn là người chỉ đơn thuần phát biểu mình muốn thực hiện hành động “đi bầu cử”. Tương tự, một người tích hợp việc tập thể dục vào căn tính của mình thì chẳng bao giờ phải thuyết phục bản thân đi rèn luyện. Làm việc đúng bao giờ cũng dễ. Sau cùng thì, khi hành vi của bạn và căn tính của bạn hoàn toàn nhất quán với nhau, bạn sẽ không còn cần phải theo đuổi việc thay đổi hành vi. Bạn chỉ đơn giản là đang hành động như loại người mà bạn đã tin đó chính là bản thân mình.

Hẳn nhiên, như tất tần tật mọi thứ về tạo lập thói quen, đây cũng là một con dao hai lưỡi. Khi làm việc cho bạn, thay đổi căn tính là một nguồn lực mạnh mẽ cho việc tự cải thiện. Khi chống lại bạn, thay đổi căn tính chính là một lời nguyền. Một khi bạn đã nhận lấy một căn tính, lòng trung thành của bạn đối với căn tính sẽ rất dễ dàng ảnh hưởng đến khả năng thay đổi của bạn. Nhiều người bước qua cuộc đời mình trong một cơn mê muội nhận thức, mù quáng đi theo các chuẩn mực gắn với căn tính của họ.

“Tôi rất kém định hướng.” “Tôi không phải là kiểu người dậy sớm.” “Tôi rất dở nhớ tên người.” “Tôi lúc nào cũng trễ.” “Tôi không giỏi công nghệ.” “Tôi rất dở tính toán.”

... và hàng ngàn biến thể khác.

Khi bạn lặp đi lặp lại một câu chuyện với bản thân mình nhiều năm trời, thì có khó hiểu đâu khi bạn trượt vào các khe rãnh tâm trí này và chấp nhận chúng như sự thật hiển nhiên. Rồi đến lúc bạn bắt đầu kháng cự lại một số hành động nhất định, bởi vì “đó có phải con người tôi đâu”. Trong con người bạn luôn có một áp lực nội tại phải duy trì hình ảnh bản thân và cư xử theo một cách nhất quán với niềm tin. Bạn sẽ tìm mọi cách để có thể tránh phải tự xung đột với bản thân mình.

Một suy nghĩ hay một hành động nào đấy càng gắn chặt với căn tính của bạn bao nhiêu, thì thay đổi nó càng khó bấy nhiêu. Có lẽ, việc tin vào cái mà nền văn hóa của ta tin tưởng (căn tính nhóm) hoặc làm gì đó để giữ vững hình ảnh bản thân (căn tính cá nhân) mang lại sự dễ chịu, ngay cả khi nó sai. Rào cản lớn nhất ngăn trở thay đổi tích cực ở bất kỳ cấp độ nào - cá thể, đội nhóm, hay xã hội - chính là xung đột căn tính. Thói quen tốt có thể nghe có lý vô cùng, nhưng nếu mâu thuẫn với căn tính của bạn, bạn sẽ thất bại khi muốn đưa chúng vào hành động.

Có thể vào một ngày nọ, bạn đang phải vật vã duy trì một thói quen nào đấy vì bạn quá bận, quá mệt hay quá tải, hay vì hàng đống lý do khác. Nhưng về lâu về dài, lý do thực sự khiến bạn thất bại trong việc giữ vững thói quen chính là hình ảnh bản thân đã xen vào cuộc chơi. Đây là lý do vì sao bạn không nên gắn quá chặt vào một phiên bản căn tính nào cả. Tiến trình luôn đòi hỏi quá trình quên-đi-những-gì-đã-học[2]. Trở thành phiên bản tốt nhất của bản thân đòi hỏi bạn phải liên tục chỉnh sửa, điều chỉnh các niềm tin, cũng như nâng cấp và mở rộng căn tính của mình.

Điều này đưa ta đến với câu hỏi quan trọng: Nếu niềm tin và thế giới quan của ta có tầm quan trọng như vậy trong hành vi, vậy thì ngay từ đầu chúng từ đâu ra? Chính xác là căn tính của ta hình thành như thế nào? Và làm sao để tô đậm các khía cạnh mới của căn tính có lợi cho ta, cũng như xóa bỏ các chi tiết đang níu chân ta lại?

❀ ❀ ❀

[1] Các thuật ngữ unconscious (vô thức), nonconscious (phi ý thức), và subconscious (tiềm thức) đều được dùng để mô tả sự vắng mặt của nhận thức hoặc suy nghĩ. Ngay cả trong giới học thuật thì các từ này cũng thường được dùng thay thế cho nhau mà không gây ra tranh cãi nào (dù một lần). Tôi sẽ dùng nonconscious (phi ý thức) vì từ này đủ rộng để bao hàm các quá trình tâm trí mà ta không bao giờ truy cập được bằng ý thức và cả các khoảnh khắc chỉ đơn giản là ta đang không tập trung vào sự việc chung quanh. Nonconscious (phi ý thức) mô tả về bất cứ sự thể nào mà bạn đang không nghĩ đến bằng ý thức. (TG)

[2] Unlearning (quên-đi-những-gì-đã-học); quá trình có chủ đích loại bỏ những gì đã học được, đặc biệt là những điều sai hoặc không tốt. (ND)

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.