Vào năm 1986, đội Los Angeles Lakers sở hữu một trong những đội hình cầu thủ bóng rổ tài năng nhất từng tập hợp, nhưng họ hiếm khi được nhớ đến theo cách đó. Đội bóng bắt đầu mùa giải NBA năm 1985 - 1986 với kỷ lục 29-5 đáng kinh ngạc. “Các học giả nói rằng chúng tôi có lẽ là đội bóng giỏi nhất trong lịch sử bóng rổ”, huấn luyện viên trưởng Pat Riley phát biểu sau mùa giải. Ngạc nhiên là, đội Lakers rơi vào loạt trận play-off[1] của mùa 1986 và hứng một trận thua cuối mùa giải trong Vòng Chung kết Western Conference. “Đội hình tốt nhất trong lịch sử bóng rổ” thậm chí còn không được thi đấu tranh chức vô địch NBA.
Sau cú sốc đó, Riley quá mệt mỏi với những chỉ trích đại loại như cầu thủ của ông đã từng xuất sắc thế nào và ông đã hứa hẹn ra sao. Ông không muốn thấy những ánh hào quang rực rỡ để rồi theo sau đó là phong độ sa sút. Ông muốn đội Lakers phải phát huy hết tiềm năng của mình, hằng đêm. Vào mùa hè năm 1986, ông lên một kế hoạch làm đúng như vậy, một hệ thống ông gọi là chương trình Nỗ Lực Tốt Nhất Trong Sự Nghiệp - Career Best Effort hay CBE.
“Khi cầu thủ vừa gia nhập Lakers”, Riley giải thích, “chúng tôi theo dõi các số liệu thống kê trong bóng rổ của họ ngược về những năm trung học. Tôi gọi đó là Thu Thập Số Liệu - Taking Their Number. Chúng tôi tìm kiếm chỉ số chính xác mà một cầu thủ có thể chơi, sau đó huấn luyện anh ấy theo kế hoạch của đội, dựa trên ý niệm anh sẽ duy trì được phong độ và cải thiện hơn mức trung bình của mình.”
Sau khi quyết định mức độ thành tích cơ sở của một cầu thủ, Riley sẽ thêm vào một bước then chốt. Ông yêu cầu mỗi vận động viên “cải thiện kết quả của mình ít nhất 1% trong suốt mùa giải. Nếu họ thành công, thì đó chính là CBE, hay Nỗ Lực Tốt Nhất Trong Sự Nghiệp”. Tương tự với đội đua xe đạp Anh, ta đã bàn trong Chương 1, đội Lakers tìm kiếm thành tích đỉnh cao bằng cách tiến bộ từng chút mỗi ngày.
Riley cẩn thận chỉ ra rằng CBE không chỉ là về số điểm hay con số thống kê, mà nó là về sự “nỗ lực tốt nhất về mặt tinh thần, tâm trí lẫn thể lực”. Cầu thủ nhận điểm tín nhiệm khi “thu hút một đối thủ chạy về phía mình dù biết là có thể mình sẽ bị phạm lỗi, nhoài người cứu bóng, hỗ trợ đồng đội khi đối thủ mà anh phải chắn cản đã vượt qua anh, và các hành động “anh hùng thầm lặng” khác.
Để minh họa, hãy xem như Magic Johnson - cầu thủ ngôi sao vào lúc bấy giờ - ghi được 11 điểm, 8 pha bắt bóng bật bảng[2], 12 pha hỗ trợ, 2 cú cướp bóng, và 5 lần mất bóng trong một trận đấu. Magic còn có điểm tín nhiệm cho hành động “anh hùng thầm lặng” bằng việc nhoài người cứu bóng. Cuối cùng, anh đã chơi tổng cộng 33 phút trong trận đấu giả định này.
Số dương (11 + 8 + 12 + 2 + 1) tổng cộng là 34. Sau đó, ta trừ đi 5 lần mất bóng (34 - 5) còn 29. Cuối cùng, ta chia 29 cho 33 phút chơi.
❀ ❀ ❀
[1] Play-off là trận đấu quyết định tranh một suất cuối cùng vào vòng tiếp theo của một giải đấu thể thao, cho biết đội bóng nào sẽ được đi tiếp và đội bóng nào sẽ phải ở lại. Nguồn: Wikipedia. (ND)
[2] Rebound.