Bao gồm một số chi tiết nảy sinh từ cuộc thăm hỏi chia buồn có thể tỏ ra quan trọng về sau. Smike bất ngờ gặp lại một người bạn rất cũ, người mời cậu về nhà mình và nhất quyết không chịu bị từ chối
Hoàn toàn không hay biết gì về những biểu hiện tình tứ của ông hàng xóm si tình, cũng như tác động của chúng đối với trái tim vốn dễ rung động của mẹ mình, Kate Nickleby đến lúc này đã bắt đầu được hưởng một cảm giác bình yên và hạnh phúc êm đềm, một cảm giác mà từ lâu cô chỉ thỉnh thoảng mới thoáng cảm nhận được rồi lại vụt mất. Đang sống dưới cùng một mái nhà với người anh trai yêu quý, người vừa bất ngờ bị chia cắt khỏi cô một cách cay đắng; với tâm trí thảnh thơi, không còn bị quấy rối bởi những điều có thể làm cô phải đỏ mặt vì xấu hổ hay đau đớn trong lòng, cô tưởng như bước sang một cuộc đời mới. Sự vui tươi trước kia đã trở lại, bước chân cô lại khôi phục vẻ nhẹ nhàng uyển chuyển, sắc hồng vốn từng bỏ rơi đôi má cô giờ đã tìm về, và Kate Nickleby trông lại càng xinh đẹp hơn bao giờ hết.
Đó chính là kết luận mà cô La Creevy rút ra sau bao hồi ngẫm nghĩ và quan sát, khi căn nhà nhỏ, như cô vẫn hăng hái tuyên bố, "đã được dọn dẹp ngăn nắp đâu vào đấy, từ cái ống khói cho tới cái gạt bùn trước cửa," và người phụ nữ bé nhỏ bận rộn ấy cuối cùng cũng có một phút thảnh thơi để tâm đến những người sống trong nhà.
“Cái điều mà tôi cam đoan là từ lúc đặt chân đến đây tôi chưa từng có được,” cô La Creevy nói, “vì suốt từ sáng, trưa đến tối, đầu óc tôi chẳng có gì khác ngoài búa, đinh, tua-vít với khoan tay.”
“Cháu tin là cô chưa từng dành lấy một phút nghĩ cho bản thân mình đâu,” Kate mỉm cười đáp.
“Thật tình đấy, cháu yêu à, khi còn bao nhiêu chuyện dễ chịu hơn để nghĩ thì cô đúng là ngốc mới đi nghĩ cho mình,” cô La Creevy nói. “Mà này, cô cũng có nghĩ đến một người đấy chứ. Cháu có biết là cô nhận ra một sự thay đổi lớn ở một người trong gia đình ta không—một sự thay đổi rất kỳ lạ?”
“Ở ai cơ ạ?” Kate lo lắng hỏi. “Không phải ở—”
“Không phải anh trai cháu đâu, cháu yêu,” cô La Creevy đón trước câu nói, “vì cậu ấy vẫn luôn là anh chàng tốt bụng, giàu tình cảm và thông minh, lại thêm một chút tính cách của—cô chẳng buồn nói tên ai ra đâu—mỗi khi có dịp, hệt như lần đầu cô biết cháu. Không. Smike cơ, tội nghiệp cái thằng! Nó nhất quyết không chịu nghe ai gọi mình bằng từ ‘Ông’ trước tên, dạo này nó thay đổi nhiều lắm, dù mới chỉ trong một thời gian ngắn.”
“Thay đổi thế nào ạ?” Kate hỏi. “Không phải về sức khỏe đấy chứ?”
“Kh... kh... không; có lẽ không hẳn là sức khỏe,” cô La Creevy ngập ngừng suy nghĩ, “mặc dù trông nó yếu ớt gầy gò, và nét mặt nó có điều gì đó mà nếu thấy trên mặt cháu thì cô sẽ đau lòng lắm. Không, không phải sức khỏe.”
“Vậy thì là sao ạ?”
“Cô cũng chẳng rõ nữa,” nữ họa sĩ vẽ tranh chân dung siêu nhỏ nói. “Nhưng cô quan sát nó, và nó đã làm cô rơi nước mắt nhiều lần rồi. Tất nhiên, làm cô khóc thì chẳng khó gì, vì cô vốn dễ mủi lòng; nhưng cô nghĩ những giọt nước mắt này rơi ra là có lý do chính đáng. Cô chắc chắn rằng kể từ khi về đây, vì một nguyên do mạnh mẽ nào đó, nó ngày càng nhận thức rõ hơn về trí óc kém cỏi của mình. Nó cảm nhận điều đó sâu sắc hơn. Nó đau đớn hơn khi biết mình thỉnh thoảng lại ngơ ngơ ngác ngác và không hiểu được những điều rất đỗi đơn giản. Cô đã quan sát nó những lúc không có cháu ở bên, cháu yêu ạ, nó ngồi ủ rũ một mình với ánh mắt đau đớn đến mức cô khó lòng chịu nổi, rồi đứng dậy rời khỏi phòng: buồn rầu và chán nản đến mức cô không thể diễn tả nổi nó làm cô đau lòng thế nào. Mới chưa đầy ba tuần trước, nó còn là một anh chàng vui vẻ, bận rộn, sướng rơn khi được lăng xăng làm việc và hạnh phúc suốt cả ngày dài. Giờ đây, nó như biến thành một con người khác—vẫn là sinh linh ngoan ngoãn, hiền lành, trung thành và yêu thương ấy—nhưng ngoài những thứ đó ra thì chẳng còn gì giống trước nữa.”
“Chắc rồi mọi chuyện sẽ qua thôi ạ,” Kate nói. “Tội nghiệp cậu ấy!”
“Cô hy vọng thế,” người bạn nhỏ bé của cô đáp lại bằng một vẻ nghiêm nghị rất khác thường, “hy vọng là vậy. Cô hy vọng vì thằng bé tội nghiệp đó. Tuy nhiên,” cô La Creevy lại trở về với giọng điệu liến thoắng, vui tươi thường ngày, “cô đã nói hết những gì cần nói rồi, mà lại nói dài quá, có khi lại còn nói sai bét nữa cũng nên. Dù sao thì tối nay cô cũng sẽ làm nó vui lên, vì nếu nó làm vệ sĩ thồ cô suốt chặng đường đến phố Strand, cô sẽ nói liên tục, nói mãi không ngừng cho đến khi chọc nó cười mới thôi. Cho nên nó đi càng sớm thì càng tốt cho nó, còn cô đi càng sớm thì càng tốt cho cô, bằng không thì con nhỏ người làm nhà cô lại đi đần đẫn với anh nào đó rồi có khi bị trộm sạch nhà—mặc dù ngoài bàn ghế ra thì nhà cô chẳng có gì để lấy, trừ mấy bức tranh chân dung nhỏ; mà tên trộm nào bán được mấy bức đó giá cao thì đúng là thiên tài, vì chính cô còn chẳng bán nổi nữa là, nói thật lòng đấy.”
Nói đoạn, cô La Creevy bé nhỏ giấu mặt vào trong một chiếc mũ mỏng dẹt, giấu mình trong chiếc khăn quàng rộng thùng xình; rồi cố định chiếc khăn chặt chẽ bằng một chiếc ghim lớn, cô tuyên bố rằng xe buýt muốn đến lúc nào thì đến, cô đã hoàn toàn sẵn sàng.
Nhưng vẫn còn phải chào tạm biệt bà Nickleby nữa; và còn lâu trước khi người phụ nữ tốt bụng ấy kết thúc những lời hoài niệm hợp cảnh hợp tình, chiếc xe buýt đã trỗ tới. Điều này khiến cô La Creevy vô cùng cuống quít, thành ra trong lúc lén thưởng cho cô người làm mười tám xu đằng sau cánh cửa ra vào, cô lỡ tay kéo từ trong túi ra đống tiền lẻ trị giá mười xu, làm chúng lăn lóc vào đủ mọi ngóc ngách ngoài hành lang, ngốn mất bao nhiêu thời gian mới nhặt xong. Lễ tiết này đương nhiên phải nối tiếp bằng một lượt hôn tạm biệt thứ hai dành cho Kate và bà Nickleby, cùng việc thu gom chiếc giỏ nhỏ và gói hàng bọc giấy nâu; trong suốt quá trình đó, theo như cô La Creevy quả quyết thì "tài xế xe buýt đã chửi rủa khủng khếp đến mức nghe mà phát hãi." Sau cùng thì chiếc xe cũng vờ như sắp chạy mất, thế là cô La Creevy lao ra rồi lại lao vào, liến thoắng xin lỗi tất cả hành khách, khẳng định rằng cô tuyệt nhiên không cố ý để họ phải chờ đợi. Trong lúc cô đang dáo dác tìm một chỗ ngồi thuận tiện, gã phụ xe đã đẩy Smike vào, hô to là mọi chuyện đã ổn—dù thực ra chẳng ổn chút nào—và chiếc xe đồ sộ lao đi, vang lên tiếng động ồn ào chẳng kém gì nửa tá xe chở bia gộp lại.
Mặc cho chiếc xe tiếp tục hành trình theo ý thích của gã phụ xe kể trên—người đang ngả ngốn một cách duyên dáng trên chiếc bệ nhỏ phía sau và phả ra làn khói thuốc thơm phức; và mặc cho nó dừng, đi, phi cật lực hay bò lê bước tùy theo điều mà vị quý ông kia cho là thích hợp; câu chuyện này xin tranh thủ cơ hội để tìm hiểu tình trạng của Ngài Mulberry Hawk, xem ông ta đã hồi phục đến đâu sau những chấn thương từ vụ bị hất văng dữ dội khỏi chiếc xe ngựa kéo hai bánh như đã tường thuật chi tiết trước đây.
Với một chi bị gãy nát, thân thể dập nát nghiêm trọng, khuôn mặt biến dạng bởi những vết sẹo mới lành một nửa và xám xịt vì kiệt sức sau những cơn đau cùng trận sốt vừa qua, Ngài Mulberry Hawk nằm ngửa trên chiếc ghế dài, nơi ông ta bị kết án phải làm tù nhân trong vài tuần tới. Ông Pyke và ông Pluck ngồi uống rượu tì tì ở phòng bên cạnh, thỉnh thoảng lại xua tan tiếng rì rào đơn điệu trong cuộc trò chuyện của họ bằng một tiếng cười nén lại; trong khi vị quý tộc trẻ tuổi—thành viên duy nhất trong nhóm không đến mức hoàn toàn hết thuốc chữa và thực sự có một trái tim nhân hậu—ngồi bên cạnh người thầy tinh thần của mình, miệng ngậm điếu xì gà, dưới ánh đèn dầu đọc cho ông ta nghe vài tin tức vụn vặt từ tờ báo trong ngày, những tin có khả năng mang lại chút hứng thú hay giải trí cho người bệnh.
“Cút đi lũ chó săn đó!” kẻ tàn tật cất tiếng, quay đầu về phía phòng bên một cách bực bội; “chẳng có gì khóa nổi cái họng thối nát của chúng lại sao?”
Hai ông Pyke và Pluck nghe thấy tiếng chửi liền im bặt ngay lập tức: họ nháy mắt với nhau rồi rót tràn ly rượu như một khoản đền bù cho việc bị tước mất quyền ăn nói.
“Mẹ kiếp!” bệnh nhân lẩm bẩm qua kẽ răng, cựa quậy đầy bực bội trên giường. “Cái đệm này chưa đủ cứng, cái phòng này chưa đủ u uất, và cơn đau này chưa đủ hành hạ sao mà chúng còn phải tra tấn ta? Mấy giờ rồi?”
“Tám giờ rưỡi,” người bạn đáp.
“Lại đây, kéo cái bàn lại gần hơn rồi đánh bài tiếp đi,” Ngài Mulberry nói. “Chơi piquet tiếp. Nào.”
Thật kỳ lạ khi thấy kẻ bệnh tật, dù bị tước đi mọi khả năng cử động trừ việc xoay đầu sang hai bên, lại quan sát từng chuyển động của bạn mình trong suốt ván bài một cách thèm thuồng đến thế; và ông ta chơi với sự hăng hái cùng hứng thú lớn ra sao, nhưng vẫn vô cùng cảnh giác và lạnh lùng. Sự khôn khéo và kỹ năng của ông ta thừa sức áp đảo đối thủ gấp mười lần, khiến anh ta khó lòng gượng dậy nổi ngay cả khi may mắn mỉm cười cho những lá bài tốt, điều vốn không xảy ra thường xuyên. Ngài Mulberry thắng mọi ván; và khi người bạn đồng hành ném bài xuống, từ chối chơi tiếp, ông ta vươn cánh tay gầy guộc ra chộp lấy tiền cược cùng một lời thề nguyền hợm hĩnh và một tiếng cười khàn khàn—dù hạ tông xuống khá nhiều—chính là tiếng cười từng vang vọng trong phòng ăn của Ralph Nickleby nhiều tháng trước.
Trong lúc ông ta đang bận rộn với công việc đó, người gác cổng xuất hiện để thông báo rằng Ông Ralph Nickleby đang ở bên dưới và muốn hỏi thăm sức khỏe ngài tối nay.
“Đỡ hơn rồi,” Ngài Mulberry gắt gỏng.
“Ông Nickleby muốn biết, thưa ngài—”
“Ta đã bảo là đỡ hơn rồi!” Ngài Mulberry đáp, đập tay xuống bàn.
Người gác cổng ngập ngừng một hai giây rồi nói Ông Nickleby xin phép được vào gặp Ngài Mulberry Hawk nếu không phiền.
“Phiền lắm! Ta không gặp ông ta. Ta chẳng gặp ai hết,” chủ nhân của gã gắt lên dữ dội hơn trước. “Ngươi biết điều đó mà, đồ óc lợn.”
“Tôi rất xin lỗi, thưa ngài,” người gác cổng đáp. “Nhưng Ông Nickleby khẩn khoản quá, thưa ngài—”
Sự thực là Ralph Nickleby đã đút lót cho gã, và vì muốn kiếm tiền lại vừa mong có thêm ân huệ sau này, gã cứ giữ tay trên cánh cửa và đành nán lại.
“Ông ta có nói là có việc gì cần bàn không?” Ngài Mulberry hỏi sau một hồi suy nghĩ đầy bực bội.
“Không, thưa ngài. Ông ấy nói chỉ muốn gặp ngài. Rất đặc biệt, Ông Nickleby nhấn mạnh thế, thưa ngài.”
“Bảo ông ta lên đây. Đây này,” Ngài Mulberry gọi gã hầu quay lại khi vỗ vỗ tay lên khuôn mặt biến dạng của mình, “dời cái đèn đó ra, đặt lên cái kệ đằng sau ta. Đẩy cái bàn kia ra xa, đặt cái ghế ở đó—xa hơn nữa. Cứ để thế.”
Gã hầu làm theo những chỉ thị này như thể hoàn toàn hiểu rõ động cơ đằng sau chúng, rồi rời khỏi phòng. Lãnh chúa Frederick Verisopht, nhận xét rằng mình sẽ quay lại sau, tản bộ sang phòng bên cạnh và đóng cánh cửa xếp lại phía sau.
Sau đó người ta nghe thấy tiếng bước chân khẽ khàng trên cầu thang; và Ralph Nickleby, tay cầm mũ, rón rén bước vào phòng, lưng khom về phía trước như thể thể hiện sự kính trọng sâu sắc, mắt đăm đăm nhìn vào mặt vị khách hàng đáng kính của mình.
“Chà, Nickleby,” Ngài Mulberry nói, ra hiệu cho ông ta ngồi vào chiếc ghế bên cạnh sofa và vẩy tay với vẻ thờ ơ giả tạo, “ông thấy đấy, ta gặp phải một tai nạn tồi tệ.”
“Tôi thấy rồi,” Ralph đáp lại với cái nhìn soi mói không đổi. “Tồi tệ thật! Tôi sẽ không nhận ra ngài mất, Ngài Mulberry. Trời ơi! Tồi tệ quá.”
Thái độ của Ralph tỏ ra cực kỳ khiêm nhường và kính cẩn; và giọng nói trầm thấp của ông ta là thứ giọng mà sự quan tâm dịu dàng nhất dành cho người bệnh sẽ dạy cho một vị khách cất lên. Nhưng nét mặt ông ta—khi Ngài Mulberry đang ngoảnh đi—lại tạo nên một sự tương phản kỳ lạ; và khi đứng đó, giữ tư thế thường ngày, lặng lẽ nhìn hình hài đang nằm bẹp dí trước mặt, tất cả những phần trên khuôn mặt ông ta không bị che khuất bởi hàng lông mày nhô ra và cau lại đều mang dấu vết của một nụ cười mỉa mai.
“Ngồi xuống đi,” Ngài Mulberry nói, quay người về phía ông ta như thể phải dùng một nỗ lực dữ dội. “Thân thể ta trông gớm giếc lắm sao mà ông cứ đứng chăng chăng ra đó mà nhìn?”
Khi ông ta quay mặt lại, Ralph giật lùi một hai bước, làm như thể mình bị thôi thúc không thể cưỡng lại bởi sự ngạc nhiên nhưng lại quyết tâm không thể hiện ra, rồi ngồi xuống với sự bối rối được diễn xuất rất tài tình.
“Ngày nào tôi cũng hỏi thăm ngoài cửa, Ngài Mulberry ạ,” Ralph nói, “mấy ngày đầu thì một ngày hai lần—và tối nay, mạo mạn nhờ vào mối quen biết cũ và những giao dịch trước đây mà hai bên cùng có lợi đôi chút, tôi không thể cưỡng lại việc xin được vào phòng ngài. Ngài... ngài có chịu nhiều đau đớn không?” Ralph vừa nói vừa cúi người về phía trước, để mặc cho nụ cười tàn nhẫn cũ lại hiện lên trên mặt khi người kia nhắm mắt lại.
“Nhiều hơn mức làm ta hài lòng, và ít hơn mức làm vừa lòng mấy con ngựa kiệt sức mà ông và ta đều biết, những kẻ đổ lỗi cho sự sụp đổ của chúng là do hai chúng ta đấy, ta cá là vậy,” Ngài Mulberry đáp, cựa quậy cánh tay một cách bồn chồn trên chăn.
Ralph nhún vai tỏ vẻ phản đối sự giận dữ dữ dội trong lời nói đó; vì trong giọng nói và thái độ của ông ta có một sự rõ ràng, lạnh lẽo đầy khiêu khích, khiến người bệnh ngứa tai đến mức khó lòng chịu nổi.
“Thế trong những ‘giao dịch trước đây’ đó có cái gì mà khiến ông mò đến đây tối nay?” Ngài Mulberry hỏi.
“Chẳng có gì cả,” Ralph đáp. “Có vài kỳ phiếu của ngài lãnh chúa cần gia hạn; nhưng cứ để đó cho đến khi ngài khỏe lại. Tôi... tôi đến,” Ralph nói chậm lại, với giọng nhấn mạnh gay gắt hơn, “tôi đến để nói rằng tôi đau lòng biết bao khi một người họ hàng của tôi, dù đã bị tôi từ mặt, lại có thể gây ra hình phạt như thế đối với ngài—”
“Hình phạt!” Ngài Mulberry ngắt lời.
“Tôi biết đó là một hình phạt nặng nề,” Ralph cố tình hiểu sai ý của lời ngắt lời, “và điều đó càng làm tôi nôn nóng muốn nói với ngài rằng tôi từ mặt gã lang thang đó—rằng tôi không công nhận gã là người thân của mình—và tôi để gã tự nhận lấy hậu quả xứng đáng từ ngài và mọi người khác. Ngài có thể vặn cổ gã nếu ngài thích. Tôi sẽ không can thiệp đâu.”
“Cái câu chuyện mà họ đồn đại ở đây đã lan ra ngoài rồi sao?” Ngài Mulberry hỏi, nghiến chặt răng và siết chặt tay.
“Đồn ầm lên khắp nơi rồi,” Ralph đáp. “Mọi câu lạc bộ và phòng sòng bạc đều xôn xao về nó. Tôi nghe nói người ta còn sáng tác một bài hát rất hay về chuyện đó nữa đấy,” Ralph vừa nói vừa nhìn chằm chằm vào người hỏi. “Bản thân tôi chưa được nghe, vì tôi không hay lui tới những nơi như thế, nhưng tôi nghe nói nó thậm chí còn được in ra—để lưu hành nội bộ—nhưng tất nhiên là cả thành phố này biết hết rồi.”
“Láo loét!” Ngài Mulberry nói; “Ta bảo cho ông biết toàn là dối trá. Con ngựa cái bị giật mình thôi.”
“Họ nói là cậu ta làm nó giật mình,” Ralph nhận xét với thái độ thản nhiên và điềm tĩnh như cũ. “Có người lại nói cậu ta làm ngài giật mình, nhưng tôi biết đó là xảo ngôn. Tôi đã táo tợn nói thế—ôi, hàng chục lần rồi! Tôi là một người hòa nhã, nhưng tôi không thể chịu nổi khi nghe người ta nói thế về ngài. Không, không đời nào.”
Khi Ngài Mulberry tìm được những từ ngữ rành mạch để thốt ra, Ralph ghé sát người tới, tay đặt lên tai, mặt thản nhiên như thể từng đường nét cứng đờ trên đó được đúc bằng sắt.
“Khi ta bước xuống khỏi cái giường nguyền rủa này,” kẻ tàn tật nói, thậm chí còn đập tay vào cái chân gãy trong cơn cuồng nộ, “ta sẽ trả thù một trận chưa từng có trên đời. Thề có Chúa, ta sẽ làm thế. Nhờ may mắn mỉm cười mà nó đánh dấu ta trong một hai tuần, nhưng ta sẽ đóng lên người nó một cái dấu mà nó phải mang xuống tận huyệt mộ. Ta sẽ xẻng mũi, xẻng tai nó, đánh nó, làm nó tàn phế suốt đời. Ta sẽ làm nhiều hơn thế nữa; ta sẽ kéo cái tấm gương trinh tiết đó, cái đỉnh cao của sự đạo đức giả đó, con em gái đài các đó, qua—”
Có lẽ ngay cả dòng máu lạnh của Ralph cũng phải râm rán trên má vào thời điểm đó. Có lẽ Ngài Mulberry nhớ ra rằng, dù là một kẻ bịp bợm và cho vay lãi nặng, ông ta hẳn cũng từng có thời thơ ấu ôm lấy cổ cha cô gái. Ông ta dừng lại, xua tay đe dọa, xạc một lời thề nguyền khủng khiếp để củng cố cho mối đe dọa chưa thốt ra lời.
“Thật là một điều tức giận,” Ralph nói sau một hồi im lặng ngắn, trong lúc ông ta chăm chú quan sát người bệnh, “khi nghĩ rằng một tay chơi có tiếng trong thành phố, một gã ăn chơi trác táng, một kẻ bịp bợm lọc lõi suốt hai mươi mùa lại bị dồn vào bước đường này bởi một thằng ranh con!”
Ngài Mulberry phóng một cái nhìn giận dữ về phía ông ta, nhưng mắt Ralph lại dán xuống đất, và nét mặt ông ta không thể hiện điều gì khác ngoài sự trầm tư.
“Một thằng nhãi ranh yếu ớt, vắt mũi chưa sạch,” Ralph tiếp tục, “so với một người mà chỉ riêng sức nặng thôi cũng đủ đè bẹp nó; chưa kể đến kỹ năng của ngài trong—tôi nghĩ tôi nói đúng chứ,” Ralph ngước mắt lên, “ngày trước ngài từng là nhà tài trợ cho làng quyền anh phải không?”
Người bệnh cử động bực bội, điều mà Ralph tự cho là sự đồng ý.
“Chà!” ông ta nói, “Tôi đã nghĩ thế mà. Đó là trước khi tôi quen ngài, nhưng tôi khá chắc là mình không nhầm. Tôi đoán cậu ta nhanh nhẹn và linh hoạt. Nhưng những lợi thế đó chẳng là gì so với ngài. May mắn, may mắn thôi! Lũ lưu vong treo cổ đó luôn có cái may mắn ấy.”
“Nó sẽ cần tất cả những may mắn đó khi ta khỏe lại,” Ngài Mulberry Hawk nói, “dù nó có bay đằng trời đi nữa.”
“Ồ!” Ralph đáp nhanh, “Cậu ta đâu có mơ đến chuyện đó. Cậu ta đang ở đây, ngài kính mến, đang đợi ý muốn của ngài, ngay tại London này, đi lại trên đường phố giữa ban ngày ban mặt; nhởn nhơ tự tạ; đang tìm ngài đấy, tôi thề đấy,” Ralph nói, mặt sầm lại, và sự thù hận của chính ông ta bùng lên chiếm ưu thế lần đầu tiên khi hình ảnh phơi phới của Nicholas hiện ra; “giá như chúng ta là công dân của một đất nước mà việc đó có thể làm một cách an toàn, tôi sẵn sàng bỏ ra một khoản tiền lớn để thuê người đâm trúng tim nó rồi lăn nó xuống cống cho chó xé xác.”
Trong khi Ralph trút ra thứ tình cảm gia đình thắm thiết đó khiến vị khách hàng cũ có chút ngạc nhiên, rồi cầm lấy mũ chuẩn bị ra về, Lãnh chúa Frederick Verisopht ngó đầu vào.
“Cái quái gì thế hả Hawk, ông và Nickleby đang nói về chuyện gì vậy?” vị thiếu gia trẻ tuổi lên tiếng. “Tôi chưa bao giờ nghe thấy một trận ầm ĩ đáng sợ đến thế. Quạc, quạc, quạc. Gâu, gâu, gâu. Rốt cuộc là có chuyện gì thế?”
“Ngài Mulberry đang nổi giận, thưa Lãnh chúa,” Ralph nói, quay nhìn về phía chiếc ghế dài.
“Không phải về chuyện tiền bạc đấy chứ? Không có gì chệch hộc trong việc làm ăn đấy chứ, Nickleby?”
“Không, thưa Lãnh chúa, không,” Ralph đáp. “Về điểm đó chúng tôi luôn thống nhất. Ngài Mulberry vừa mới nhớ lại nguyên do của—”
Chẳng cần thiết mà cũng chẳng có cơ hội cho Ralph nói tiếp; vì Ngài Mulberry đã tiếp lời, trút ra những lời đe dọa và chửi rủa nhắm vào Nicholas, suýt soát dữ dội như trước.
Ralph, một kẻ quan sát không phải dạng vừa, đã rất ngạc nhiên khi thấy rằng khi tràng chửi rủa này tiếp diễn, thái độ của Lãnh chúa Frederick Verisopht—người ban đầu còn đang vênh râu với vẻ công tử bột và thờ ơ—đã hoàn toàn thay đổi. Ông ta lại càng ngạc nhiên hơn khi Ngài Mulberry vừa dứt lời, vị lãnh chúa trẻ tuổi đã tức giận, và gần như hoàn toàn chân thành, yêu cầu không bao giờ được nhắc lại chủ đề này trước mặt mình nữa.
“Nhớ lấy đấy, Hawk!” anh ta nói thêm với sự kiên quyết bất thường. “Tôi sẽ không bao giờ tham gia, hay cho phép, nếu tôi có thể ngăn cản, một cuộc tấn công hèn hạ nhắm vào anh bạn trẻ này.”
“Hèn hạ!” người bạn ngắt lời.
“Đú-úng thế,” người kia nói, quay hẳn sang phía ông ta. “Nếu ông nói cho anh ta biết ông là ai; nếu ông đưa danh thiếp cho anh ta, rồi sau đó mới biết rằng địa vị hay nhân cách của anh ta không cho phép ông đấu tay đôi với anh ta, thì chuyện đó đã đủ tồi tệ rồi; thề có danh dự tôi, lúc đó nó đã đủ tồi tệ rồi. Đằng này, ông đã làm sai. Tôi cũng làm sai khi không can thiệp, và tôi rất hối hận về điều đó. Những gì xảy ra với ông sau đó là do tai nạn nhiều hơn là cố ý, và là lỗi của ông nhiều hơn là của anh ta; và dưới sự biết cản của tôi, nó sẽ không bị trả thù một cách tàn nhẫn như thế đâu, chắc chắn là không.”
Với sự nhấn mạnh lại những từ cuối cùng đó, vị lãnh chúa trẻ tuổi quay gót; nhưng trước khi sang đến phòng bên cạnh, anh ta lại quay lại và nói với sự dữ dội thậm chí còn lớn hơn trước,
“Bây giờ tôi tin; thề có danh dự tôi thực sự tin rằng cô em gái là một thiếu nữ đức hạnh và khiêm tốn hệt như vẻ xinh đẹp của cô ấy; còn về người anh, tôi xin nói thế này, anh ta đã hành động đúng như một người anh nên làm, một cách nam tính và khí phách. Và tôi chỉ ước, bằng cả trái tim và tâm hồn, rằng bất kỳ ai trong chúng ta thoát ra khỏi chuyện này được bằng một nửa anh ta.”
Nói đoạn, Lãnh chúa Frederick Verisopht bước ra khỏi phòng, để lại Ralph Nickleby và Ngài Mulberry trong sự ngạc nhiên vô cùng dễ chịu.
“Đó là học trò của ngài đấy à?” Ralph khẽ hỏi, “hay cậu ta mới từ nhà một mục sư nông thôn nào ra vậy?”
“Mấy thằng ngốc xanh vỏ đỏ lòng thỉnh thoảng lại lên cơn thế đấy,” Ngài Mulberry Hawk đáp, cắn môi và chỉ tay ra cửa. “Cứ để nó cho ta.”
Ralph trao một ánh mắt quen thuộc với người bạn cũ; vì họ lại đột nhiên trở nên thân thiết trong sự ngạc nhiên đáng báo động này; rồi cất bước về nhà, chậm rãi và đầy suy tư.
Trong khi những điều này đang được nói và làm, và còn lâu trước khi chúng kết thúc, chiếc xe buýt đã trút cô La Creevy cùng người đồng hành của cô ra, và họ đã về đến tận cửa nhà cô. Bây giờ, bản tính tốt bụng của cô họa sĩ vẽ chân dung nhỏ bé nhất định không cho phép Smike đi bộ quay về, cho đến khi cậu được bồi dưỡng một chút gì đó ấm bụng và vài cái bánh quy hỗn hợp; và Smike, vốn chẳng từ chối chút gì ấm bụng hay bánh quy, mà ngược lại còn cho rằng đó sẽ là một sự chuẩn bị rất dễ chịu cho quãng đường đi bộ đến Bow, thành ra cậu đã trễ hơn nhiều so với dự định ban đầu, và mãi đến nửa giờ sau khi trời tối cậu mới khởi hành về nhà.
Không có khả năng cậu bị lạc đường, vì đường đi thẳng tắp ngay trước mặt, và cậu đã cùng Nicholas đi vào thành phố rồi một mình đi về gần như mỗi ngày. Thế là cô La Creevy và cậu bắt tay nhau với sự tin tưởng lẫn nhau, và sau khi nhận thêm nhiều lời nhắn nhủ yêu thương gửi tới bà và cô Nickleby, Smike lên đường.
Dưới chân đồi Ludgate Hill, cậu rẽ rẽ ra khỏi đường chính một chút để thỏa mãn sự tò mò bằng cách ngó qua nhà tù Newgate. Sau khi đứng từ phía bên kia đường nhìn lên những bức tường u tối với vẻ vô cùng cẩn trọng và sợ hãi trong vài phút, cậu quay lại lối cũ và bước đi nhanh hối hả qua khu trung tâm; thỉnh thoảng dừng lại nhìn vào cửa kính của một cửa hiệu đặc biệt hấp dẫn, rồi chạy một đoạn ngắn, rồi lại dừng lại, cứ thế như bất kỳ anh chàng nông thôn nào khác.
Cậu đã đứng nhìn rất lâu qua cửa kính của một tiệm kim hoàn, ước gì mình có thể mang vài món đồ trang sức đẹp đẽ này về làm quà, và tưởng tượng xem chúng sẽ mang lại niềm vui lớn thế nào nếu cậu làm được điều đó, thì đồng hồ điểm tám giờ ba mươi lăm phút; bừng tỉnh bởi âm thanh đó, cậu vội vã bước đi rất nhanh, và đang băng qua góc một con phố nhỏ thì cảm thấy mình bị giật mạnh lại, một cú giật đột ngột đến mức cậu phải bấu chặt lấy một cột đèn đường để khỏi ngã. Cùng lúc đó, một thằng bé ôm chặt lấy chân cậu, và một tiếng kêu the thé "Nó đây rồi, bố ơi! Hurrah!" vang lên bên tai cậu.
Smike biết quá rõ giọng nói đó. Cậu đưa đôi mắt tuyệt vọng nhìn xuống hình dáng phát ra âm thanh đó, và run rẩy từ đầu đến chân, cậu nhìn quanh. Ông Squeers đã móc cán ô vào cổ áo cậu và đang ra sức đu bám ở đầu bên kia với tất cả sức lực. Tiếng reo hò chiến thắng phát ra từ Cậu chủ Wackford, người bất chấp mọi cú đá và sự giẫm đạp của cậu, vẫn bám chặt lấy cậu với sự dai dẳng của một con chó bò!

Chỉ một cái nhìn đã cho cậu thấy điều đó; và trong cái nhìn duy nhất ấy, sinh linh tội nghiệp đáng thương đã hoàn toàn mất hết sức lực và không thể thốt ra một âm thanh nào.
“Thật là một vụ trúng mánh!” Ông Squeers reo lên, từ từ lân tay theo cán ô xuống, và chỉ tháo móc ra khi đã túm chặt lấy cổ áo nạn nhân. “Thật là một vụ trúng mánh tuyệt vời! Wackford, con trai, gọi một chiếc xe ngựa lại đây.”
“Xe ngựa hả bố!” Wackford bé nhỏ reo lên.
“Phải, xe ngựa, thưa cậu,” Squeers đáp, dán mắt vào khuôn mặt Smike. “Mặc kệ tốn kém. Cho nó vào xe ngựa.”
“Nó đã làm gì thế?” một người thợ phụ hối hả vác mảng gạch hỏi, người mà cùng với một đồng nghiệp khác đã bị Ông Squeers húc phải khi giật chiếc ô lần đầu.
“Mọi thứ!” Ông Squeers đáp, nhìn chằm chằm vào người học trò cũ của mình trong một trạng thái ngất ngây mê muội. “Mọi thứ—bỏ trốn, thưa ông—tham gia vào các cuộc tấn công khát máu nhắm vào sư phụ mình—chẳng có việc xấu xa nào mà nó chưa làm. Ồ, thật là một vụ trúng mánh tuyệt vời, Lạy Chúa!”
Người thợ nhìn từ Squeers sang Smike; nhưng chút trí lực ít ỏi mà gã tội nghiệp sở hữu đã hoàn toàn rời bỏ cậu. Xe ngựa đến; Cậu chủ Wackford bước vào; Squeers đẩy chiến lợi phẩm của mình vào, và nối gót ngay sau đó, kéo kính xe lên. Bác tài trèo lên ghế lái và từ từ cho xe lăn bánh, để lại hai người thợ phụ, một bà lão bán táo và một thằng bé thành thị đang trên đường đi học buổi tối về—những nhân chứng duy nhất của cảnh tượng đó—thong thả ngẫm nghĩ về nó.
Ông Squeers ngồi xuống ghế đối diện với Smike bất hạnh, và đặt hai tay chắc chắn lên gối, nhìn cậu trong khoảng năm phút, rồi dường như tỉnh lại sau cơn ngất ngây, ông ta cất tiếng cười lớn và tát vào mặt người học trò cũ vài cái—luân phiên bên trái rồi bên phải.
“Đây không phải là mơ!” Squeers nói. “Đó là xương thịt thật đấy! Ta biết cảm giác của nó mà!” và sau khi hoàn toàn yên tâm về sự may mắn của mình bằng những thử nghiệm này, Ông Squeers ban cho cậu vài cú tát vào tai nữa kẻo cuộc vui lại có vẻ đơn điệu, và cười to hơn, lâu hơn sau mỗi cú tát.
“Mẹ con sẽ sướng đến mức nhảy dựng lên mất, con trai ạ, khi nghe tin này,” Squeers nói với con trai mình.
“Ồ, chắc chắn rồi bố nhỉ?” Cậu chủ Wackford đáp.
“Ai mà nghĩ được,” Squeers nói, “rằng bố con mình vừa rẽ ra khỏi một con phố là đụng ngay phải nó đúng lúc thế; và rằng bố chỉ cần một cú quăng ô là trúng phóc nó, như thể móc được nó bằng cái móc sắt ấy! Ha, ha!”
“Con cũng ôm chặt lấy chân nó nữa chứ bộ, bố?” Wackford bé nhỏ nói.
“Con đã làm thế; giỏi lắm, con trai,” Ông Squeers vừa nói vừa xoa đầu con trai mình, “và con sẽ được thưởng chiếc áo chẽn và áo gile cài cúc đẹp nhất mà thằng học sinh mới tiếp theo mang xuống, như một phần thưởng cho công trạng. Nhớ lấy đấy. Con cứ luôn đi theo con đường đó, làm những việc mà con thấy bố làm, rồi khi chết con sẽ bay thẳng lên Thiên đàng mà chẳng ai hỏi han gì đâu.”
Tận dụng cơ hội để giáo dục bằng những lời này, Ông Squeers lại xoa đầu con trai mình, rồi xoa đầu Smike—nhưng mạnh tay hơn; và hỏi với giọng chế giễu xem giờ này cậu cảm thấy thế nào.
“Tôi phải về nhà,” Smike đáp, dáo dác nhìn quanh.
“Tất nhiên là con phải về rồi. Con nói đúng đấy,” Ông Squeers đáp. “Con sẽ về nhà rất sớm thôi. Con sẽ thấy mình ở ngôi làng bình yên Dotheboys, ở Yorkshire, trong chưa đầy một tuần nữa đâu, anh bạn trẻ của ta; và lần sau mà con trốn khỏi đó, ta cho phép con trốn luôn đấy. Bộ quần áo con mặc lúc trốn đi đâu rồi, đồ ăn xống bất hại này?” Ông Squeers hỏi với giọng nghiêm khắc.
Smike liếc nhìn bộ trang phục tươm tấp mà sự chăm sóc của Nicholas đã cung cấp cho cậu; và vắt hai tay vào nhau.
“Con có biết là ta có thể treo cổ con lên, bên ngoài tòa án Old Bailey, vì tội tẩu tán những tài sản đó không?” Squeers nói. “Con có biết đó là tội treo cổ không—và ta không chắc liệu nó có phải là tội mổ xác nữa không—khi bỏ trốn với tài sản trị giá hơn năm bảng từ một nhà dân không? Hả? Con có biết điều đó không? Con nghĩ bộ quần áo con mặc giá bao nhiêu? Con có biết đôi bốt Wellington con đi giá hai mươi tám shilling khi nó còn là một đôi, và đôi giày giá bảy shilling sáu xu không? Nhưng con đã đến đúng nơi cần tìm sự lòng thành khi đến với ta, và hãy cám ơn các ngôi sao may mắn của con rằng chính ta là người phục vụ con món hàng đó.”
Bất kỳ ai không được Ông Squeers tin cẩn sẽ cho rằng ông ta hoàn toàn hết món hàng đang nói đến, thay vì có sẵn một kho hàng lớn sẵn sàng phục vụ mọi người; nhận định của những người hoài nghi cũng chẳng thay đổi là mấy khi ông ta tiếp nối nhận xét bằng cách thọc đầu bịt sắt của chiếc ô vào ngực Smike, và trút một trận mưa đòn bằng các nan ô lên đầu và vai cậu.
“Ta chưa bao giờ đánh một thằng bé trong xe ngựa kéo bao giờ,” Ông Squeers nói khi dừng lại nghỉ tay. “Có chút bất tiện thật, nhưng sự mới mẻ lại mang lại một hương vị khá thú vị đấy chứ!”
Smike tội nghiệp! Cậu đỡ những cú đòn càng nhiều càng tốt, và giờ đây thu mình vào một góc xe, đầu tựa vào tay, khuỷu tay đặt trên gối; cậu bàng hoàng và ngơ ngác, không còn chút khái niệm nào rằng bất kỳ hành động nào của cậu có thể giúp cậu thoát khỏi tay Squeers toàn năng, giờ đây cậu không có người bạn nào để tâm sự hay tham vấn, hệt như trong những năm tháng mệt mỏi ở Yorkshire trước khi Nicholas xuất hiện.
Chuyến đi tưởng chừng như vô tận; con phố này tiếp con phố khác hiện ra rồi lui lại phía sau; và họ vẫn tiếp tục xóc nảy tiến về phía trước. Cuối cùng Ông Squeers bắt đầu thò đầu ra ngoài cửa sổ cứ mỗi nửa phút một lần, và gào lên đủ mọi chỉ dẫn cho bác tài; và sau khi chật vật đi qua vài con phố tồi tàn mà vẻ ngoài của những căn nhà cùng tình trạng tồi tệ của mặt đường cho thấy mới được xây dựng gần đây, Ông Squeers đột nhiên giật mạnh dây giật dừng xe với tất cả sức lực và gào lên, “Dừng lại!”
“Mày giật đứt tay người ta ra đấy à?” bác tài giận giữ nhìn xuống nói.
“Căn nhà đó đấy,” Squeers đáp. “Căn thứ hai trong bốn căn nhà nhỏ một tầng có cửa cửa chớp màu xanh kia kìa. Có tấm biển đồng trên cửa ghi tên Snawley.”
“Mày không thể nói thế mà không giật đứt tay chân người ta ra à?” bác tài hỏi.
“Không!” Ông Squeers gào lên. “Nói thêm từ nữa là ta kiện mày vì cái cửa sổ vỡ đấy. Dừng lại!”
Nghe theo chỉ dẫn này, chiếc xe dừng lại trước cửa nhà Ông Snawley. Người ta có thể nhớ Ông Snawley là quý ông bóng bẩy và đạo mạo đã gửi hai con (riêng của vợ) cho sự chăm sóc như cha mẹ của Ông Squeers, như đã tường thuật trong chương thứ tư của câu chuyện này. Căn nhà của Ông Snawley nằm ở rìa ngoài cùng của một khu dân cư mới giáp với Somers Town, và Ông Squeers đã thuê phòng ở đó một thời gian ngắn, vì chuyến đi của ông ta dài hơn thường lệ, và quán Saracen, vì đã có kinh nghiệm về sức ăn của Cậu chủ Wackford, đã từ chối nhận cậu trừ khi tính giá như một khách hàng trưởng thành.
“Đến nơi rồi!” Squeers vừa nói vừa lôi xổi Smike vào phòng khách nhỏ, nơi Ông Snawley và vợ đang ăn tối với món tôm hùm. “Đây là gã lang thang—kẻ phạm tội—kẻ nổi loạn—quái vật vô ơn.”
“Cái gì! Thằng bé bỏ trốn đó hả!” Snawley reo lên, dựng đứng dao và nĩa trên bàn, mắt mở to hết cỡ.
“Chính là nó đấy,” Squeers nói, dí nắm đấm vào sát mũi Smike rồi lại rụt ra, lặp đi lặp lại quá trình đó vài lần với vẻ mặt hung tợn. “Nếu không có phụ nữ ở đây, ta đã cho nó một trận—: thôi kệ, ta sẽ đòi nó sau.”
Và tại đây Ông Squeers đã tường thuật lại chuyện ông ta đã bắt lại kẻ bỏ trốn thế nào, bằng cách nào, khi nào và ở đâu.
“Rõ ràng là có Bàn tay An bài trong chuyện này, thưa ông,” Ông Snawley nói, cúi mắt xuống với vẻ khiêm nhường, và giơ chiếc nĩa có xiên một miếng tôm hùm lên phía trần nhà.
“Bàn tay An bài chống lại nó, không nghi ngờ gì nữa,” Ông Squeers đáp, gãi mũi. “Tất nhiên rồi; điều đó đã được dự đoán trước. Ai cũng có thể biết điều đó.”
“Sự nhẫn tâm và việc làm ác sẽ không bao giờ thịnh vượng được đâu, thưa ông,” Ông Snawley nói.
“Chưa từng có chuyện đó bao giờ,” Squeers tiếp lời, lấy một cọc tiền giấy nhỏ từ trong sổ tay ra để kiểm tra xem chúng có an toàn không.
“Tôi đã từng, thưa Ông Snawley,” Ông Squeers nói khi đã yên tâm về điểm này, “tôi đã từng là người ban ân, người nuôi ăn, người dạy dỗ và người may mặc cho cái thằng đó. Tôi đã từng là người bạn cổ điển, thương mại, toán học, triết học và lượng giác của cái thằng đó. Con trai tôi—con trai duy nhất của tôi, Wackford—đã là anh em của nó; Bà Squeers đã là mẹ, bà ngoại, cô,—chà! và tôi có thể nói là cả chú nữa, tất cả trong một. Bà ấy chưa bao giờ quấn quít với ai, trừ hai cậu con trai đáng yêu và tuyệt vời của ông, như quấn quít với cái thằng này. Tôi nhận lại được gì? Cái dòng sữa nhân ái của tôi ra sao rồi? Nó biến thành cặn sữa vón cục khi tôi nhìn vào nó.”
“Đúng là như thế thật, thưa ông,” Bà Snawley nói. “Ồ! Đúng là như thế thật, thưa ông.”
“Suốt thời gian qua nó ở đâu?” Snawley hỏi. “Có phải nó sống với—?”
“À, thưa ông!” Squeers ngắt lời, lại đối mặt với cậu. “Có phải mày đã sống với cái thằng Nickleby quỷ quái đó không, hả?”
Nhưng không đe dọa hay cú tát nào có thể vắt ra từ Smike một lời trả lời cho câu hỏi này; vì cậu đã quyết tâm trong lòng rằng mình thà chết trong căn tù mục nát mà cậu sắp bị tống vào lại, còn hơn thốt ra một âm tiết nào có thể liên lụy đến người bạn đầu tiên và chân chính của cậu. Cậu đã nhớ lại những lời dặn dò nghiêm ngặt về việc giữ bí mật về cuộc sống quá khứ mà Nicholas đã giao cho cậu khi họ đi từ Yorkshire; và một ý nghĩ mơ hồ, rối rắm rằng người ân nhân của cậu có thể đã phạm phải một tội ác khủng khiếp nào đó khi đưa cậu đi, điều sẽ khiến anh phải chịu hình phạt nặng nề nếu bị phát hiện, đã góp phần ở mức độ nào đó làm cậu rơi vào trạng thái thờ ơ và sợ hãi như hiện tại.
Đó là những suy nghĩ—nếu như những ảo ảnh không hoàn hảo và vô định đang lang thang trong bộ não yếu ớt của cậu có thể dùng từ đó—đang hiện diện trong tâm trí Smike, và làm cậu điếc trước cả sự đe dọa lẫn sự thuyết phục. Nhận thấy mọi nỗ lực đều vô ích, Ông Squeers dẫn cậu lên một phòng nhỏ phía sau gác xép, nơi cậu sẽ trải qua đêm nay; và sau khi cẩn thận tháo giày, áo khoác và áo gile của cậu ra, đồng thời khóa cửa bên ngoài, kẻo cậu gom đủ năng lượng để thực hiện một nỗ lực bỏ trốn, quý ông đáng kính đó để cậu lại với những suy tư của mình.
Những suy tư đó là gì, và trái tim của sinh linh tội nghiệp đã chìm nghỉm thế nào khi cậu nghĩ—khi nào mà cậu ngừng nghĩ dù chỉ trong một khoảnh khắc?—về ngôi nhà gần đây của cậu, cùng những người bạn yêu dấu và những khuôn mặt quen thuộc gắn liền với nó, không thể nói hết được. Để chuẩn bị cho tâm trí đón nhận một giấc ngủ nặng nề như thế, sự phát triển của nó phải bị chặn đứng bởi sự khắc nghiệt và tàn nhẫn trong thời thơ ấu; phải có những năm tháng đau khổ và chịu đựng, không được thắp sáng bởi một tia hy vọng nào; những sợi dây đàn của trái tim, vốn đập nhịp đáp lại tiếng nói của sự dịu dàng và tình yêu thương, hẳn đã bị gỉ sét và đứt đoạn trong những nơi thầm kín, và không còn mang theo dư âm kéo dài của bất kỳ từ ngữ yêu thương hay tử tế cũ nào nữa. Thật u uất làm sao cái ngày ngắn ngủi đó, và thật ảm đạm làm sao khoảng thời gian hoàng hôn dài, thật dài, trước một đêm trí tuệ như của cậu.
Có những giọng nói có thể đã đánh thức cậu, ngay cả khi đó; nhưng những tông giọng chào đón của họ không thể xuyên qua nơi này; và cậu bò lên giường, vẫn là sinh linh lơ đãng, tuyệt vọng, héo hắt đó mà Nicholas đã lần đầu tìm thấy tại trường học ở Yorkshire.