Những Cuộc Phiêu Lưu Của Nicholas Nickleby

Lượt đọc: 685 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 42
Minh Họa Cho Tình Cảm Chan Hòa, Rằng Ngay Cả Những Người Bạn Tốt Nhất Đôi Khi Cũng Phải Chia Tay

❊ ❊ ❊

Vỉa hè Snow Hill cả ngày qua đã bị nướng chín và rán giòn dưới cái nắng hầm hập, còn hai cái đầu rợn người của gã Saracen canh gác lối vào quán trọ — vốn là hình ảnh mô phỏng lại đúng cái tên và tấm biển hiệu của nơi này — trông có vẻ hiểm ác hơn thường lệ sau khi bị mặt trời thiêu đốt. Lúc này, trong một phòng khách nhỏ nhất của quán trọ, nơi làn hơi nồng nặc phả ra từ những con ngựa kéo xe đường dài bốc qua cửa sổ mở rộng thành một luồng khói có thể nhìn thấy rõ, bộ đồ trà thông thường đang được bày biện gọn gàng và bắt mắt. Sóng đôi cùng nó là những tảng thịt nướng và thịt luộc siêu to khổng lồ, một cái lưỡi bò, một ổ bánh mì nhân thịt chim bồ câu, một con gà luộc để nguội, một vại bia tươi và vài món lặt vặt tương tự — những thứ mà ở các thị trấn hay thành phố suy đồi, người ta thường xếp vào loại bữa trưa chắc bụng, bữa tối xe ngựa hành khách hoặc bữa sáng no nê bất thường.

Anh John Browdie xỏ hai tay vào túi quần, bồn chồn lượn qua lượn lại quanh những món sơn hào hải vị này. Thỉnh thoảng anh lại dừng bước để dùng chiếc khăn tay của vợ phẩy ruồi ra khỏi hũ đường, hoặc xục chiếc thìa nhỏ vào hũ sữa rồi đưa lên miệng nếm thử, hay cắn gặm một mẩu vỏ bánh mì cứng cùng một góc thịt rồi nuốt ực hai phát như nuốt thuốc viên. Sau mỗi lần “ve vả” các món ăn như thế, anh lại rút đồng hồ ra quan sát rồi tuyên bố với vẻ nghiêm trọng đến tội nghiệp rằng anh không thể đảm bảo mình chịu đựng thêm nổi hai phút nào nữa.

“Tilly này!” John gọi phu nhân của mình, người đang nằm đung đung đẻng đẻng nửa tỉnh nửa mê trên ghế sofa.

“Sao thế anh, John?”

“Sao thế anh, John!” Anh chồng gắt gỏng lặp lại vẻ sốt ruột. “Thế mình có thấy đói bụng không hả cô em?”

“Cũng không đói lắm,” cô Browdie đáp.

“Không đói lắm!” John giương mắt nhìn lên trần nhà lặp lại. “Nghe cô ấy bảo không đói lắm kìa, trong khi chúng ta ăn tối lúc ba giờ chiều và ăn vặt mấy cái bánh ngọt chỉ làm người ta thêm điên tiết chứ chả xoa dịu được cái dạ dày! Không đói lắm cơ đấy!”

“Có một vị khách muốn gặp ông ạ,” người phục vụ ghé đầu vào nói.

“Cái gì muốn gặp ta cơ?” John thốt lên, cứ như thể anh tưởng đó là một lá thư hay một kiện hàng.

“Thưa ông, một quý ông ạ.”

“Trời cao đất dầy ơi cái chú mày này!” John bảo. “Cao răng dài lưỡi làm sao mà chú mày lại vào đây nói thế hả? Cho cậu ấy vào ngay!”

“Thưa ông, ông có tiếp khách không ạ?”

“Có tiếp không à!” John hô lớn. “Ta chỉ ước mình đang ở nhà; ta đã uống trà từ hai tiếng trước rồi ấy chứ. Này, ta đã dặn cái cậu kia nhìn chong chóng ngoài cửa, hễ thấy cậu ấy đến là phải báo ngay là chúng ta đang xỉu vì đói cơ mà. Cho cậu ấy vào! A ha! Đưa tay đây nào, cậu Nickleby. Đây suýt soát là ngày tự hào nhất đời tôi đấy, cậu ạ. Mọi chuyện thế nào rồi hả cậu? Ôi dồ ôi! Tôi mừng quá đi mất!”

Vì quá đỗi vồ vập trong lời chào hỏi mà John Browdie quên khuấy cả cơn đói. Anh bắt tay Nicholas hết lần này đến lần khác, vừa vỗ bồm bộp vào lòng bàn tay cậu đầy bạo lực giữa mỗi lần bắt để tăng thêm phần nồng nhiệt.

“À! Cô ấy kìa,” John lên tiếng khi nhận ra ánh mắt Nicholas đang hướng về phía vợ mình. “Cô ấy đấy — giờ thì chúng ta sẽ không tranh giành nhau vì cô ấy nữa đâu nhỉ? Úi chà, mỗi lần nghĩ đến chuyện đó... mà thôi, cậu cần ăn cái gì đã. Nhập tiệc đi chú em, nhập tiệc đi, và vì những gì chúng ta sắp được thụ hưởng —”

Chắc chắn là lời tạ ơn trước bữa ăn đã được hoàn tất một cách trọn vẹn, nhưng chẳng ai nghe thêm được từ nào nữa, bởi John đã bắt đầu múa dao nĩa hăng hái đến mức giọng nói của anh tạm thời bị nuốt chửng.

“Tôi xin phép được thực hiện đặc quyền thông thường nhé, anh Browdie,” Nicholas vừa nói vừa kéo ghế cho cô dâu mới.

“Cứ tự nhiên lấy bất cứ thứ gì cậu thích,” John nói, “và khi nào hết sạch thì cứ gọi thêm.”

Chẳng buồn giải thích thêm, Nicholas cúi xuống hôn lên má cô Browdie đang ửng hồng rồi đỡ cô ngồi vào chỗ.

“Tôi bảo này,” John hơi sững sờ trong giây lát, “cứ tự nhiên như ở nhà nhé, được không đấy?”

“Anh cứ yên tâm,” Nicholas đáp, “với một điều kiện.”

“Điều kiện gì thế?” John hỏi.

“Là anh phải cho tôi làm cha rửa tội ngay lần đầu tiên anh cần đến người đảm nhiệm vai trò đó.”

“Hả! Cô nghe thấy gì chưa?” John reo lên, đặt ngay dao nĩa xuống. “Cha rửa tội! Hahaha! Tilly — nghe cậu ấy nói chưa kìa — cha rửa tội! Đừng nói thêm câu nào nữa, cậu không bao giờ vượt qua được câu đó đâu. Cần đến người đảm nhiệm — cha rửa tội! Hahaha!”

Chưa từng có người đàn ông nào lại khoái chí với một trò đùa cổ điển lịch sự đến thế như John Browdie. Anh cười khúc khắc, rồi rống lên cười, suýt thì tự làm mình ngạt thở vì sặc mấy miếng thịt bò to tướng vào khí quản, rồi lại rống lên lần nữa, vừa cười vừa cố nhai nuốt, mặt đỏ gay còn trán thì tím ngắt, ho sặc sụa, chảy cả nước mắt nước mũi, rồi đỡ hơn chút đỉnh, lại tiếp tục bùng nổ cơn cười thầm bên trong, rồi lại tệ hơn, nghẹn ngào, được vỗ lưng bồm bộp, giậm chân thình thịch, làm cô vợ hoảng hốt một phen, và cuối cùng mới hồi phục trong tình trạng kiệt sức hoàn toàn với hai hàng lệ dàn dúa, nhưng vẫn thều thào thốt ra: “Cha rửa tội — cha rửa tội kìa Tilly!” bằng một giọng thể hiện sự thưởng thức trọn vẹn mụm đùa mà không sự đau đớn thể xác nào có thể làm giảm bớt.

“Anh còn nhớ buổi tối chúng ta uống trà lần đầu tiên không?” Nicholas hỏi.

“Làm sao mà tôi quên được hả chú em?” John Browdie đáp.

“Tối hôm đó anh ấy gắt gỏng dữ lắm đúng không, chị Browdie?” Nicholas nói. “Đúng là một con quái vật!”

“Giá mà anh nghe thấy những gì anh ấy nói trên đường chúng tôi về nhà, anh Nickleby ạ, thì anh mới thấy đúng là như thế thật,” cô dâu mới tiếp lời. “Cả đời tôi chưa bao giờ sợ hãi đến thế.”

“Thôi nào, thôi nào,” John toe tót cười rộng ngoác; “cô thừa biết là mọi chuyện đâu có thế, Tilly.”

“Đúng thế thật mà,” cô Browdie đáp. “Tôi đã suýt hạ quyết tâm không bao giờ thèm nói chuyện với anh nữa cơ đấy.”

“Suýt thôi!” John nói, nụ cười còn rộng hơn lúc nãy. “Suýt hạ quyết tâm cơ đấy! Thế mà cô ấy cứ nịnh hót, nịnh hót, ngọt ngào, ngọt ngào suốt cả quãng đường đấy thôi. ‘Sao cô lại để cho gã đó tán tỉnh hả?’ tôi hỏi. ‘Thì em có đâu, anh John,’ cô ấy bảo, vừa nói vừa siết chặt tay tôi. ‘Thật không đấy?’ tôi hỏi. ‘Thật mà,’ cô ấy bảo, lại siết tay tôi lần nữa.”

“Trời ơi, anh John!” Cô vợ xinh đẹp xen vào, mặt đỏ bừng lên. “Sao anh lại nói năng tào lao thế chứ? Làm như thể em từng mơ tưởng đến chuyện đó không bằng!”

“Tôi chẳng biết cô có từng mơ tới nó không, dù tôi nghĩ khả năng đó cao lắm đấy nhé,” John vặn lại; “nhưng cô đã làm thế thật mà. ‘Cô đúng là cái chong chóng gió tráo trở, biến báo,’ tôi bảo. ‘Em không tráo trở, anh John,’ cô ấy bảo. ‘Có chứ,’ tôi bảo, ‘tráo trở, tráo trở tệ hại. Đừng có chối với tôi là cô không thế, sau những gì xảy ra với gã ở chỗ thầy giáo,’ tôi bảo. ‘Gã đó á!’ cô ấy rên xiết lên. ‘Ưm! Gã đó đấy!’ tôi bảo. ‘Kìa anh John,’ cô ấy bảo — rồi cô ấy xán lại gần hơn hẳn và siết tay tôi mạnh hơn nhiều so với trước đó — ‘anh nghĩ có tự nhiên không cơ chứ, khi đã có một người đàn ông đàng hoàng tử tế như anh sánh đôi, mà em lại đi dính dáng đến cái gã nhép nhép, bé tẹo tèo teo như gã kia?’ cô ấy bảo thế đấy. Hahaha! Cô ấy gọi cậu là gã nhép đấy! ‘Úi chà!’ tôi bảo, ‘sau câu đó thì chọn ngày đi, rồi tiến hành luôn cho xong!’ Hahaha!”

Nicholas bật cười rất khoái trí trước câu chuyện này, vừa vì nó chĩa mũi nhọn vào chính cậu, vừa vì cậu muốn đỡ ngượng cho cô Browdie, người có những lời thanh minh đã bị nhấn chìm trong những tràng cười như nổ pháo của chồng. Bản tính tốt bụng của cậu nhanh chóng làm cô thấy dễ chịu; và dù cô vẫn tiếp tục phủ nhận cáo buộc, cô lại cười tươi đến mức Nicholas có thể hoàn toàn yên tâm rằng về mặt bản chất, câu chuyện đó hoàn toàn có thật.

“Đây là lần thứ hai,” Nicholas nói, “chúng ta ăn chung một bữa ăn, và mới là lần thứ ba tôi được gặp hai vợ chồng; vậy mà tôi thật sự cảm thấy như thể mình đang ở giữa những người bạn lâu năm.”

“Chà!” gã đồng hương Yorkshire nhận xét, “tôi cũng nghĩ thế.”

“Và em chắc chắn cũng thấy thế,” cô vợ trẻ nói thêm.

“Tôi là người có lý do lớn nhất để khắc ghi cảm giác đó đấy, anh biết không,” Nicholas nói; “bởi vì nếu không nhờ tấm lòng tốt của anh, người bạn tốt của tôi, vào lúc tôi chẳng có quyền hạn hay lý do gì để trông chờ nó, thì tôi chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra với mình hay giờ này tôi đang rơi vào tình cảnh khốn khổ nào nữa.”

“Nói chuyện khác đi,” John càu nhàu đáp, “đừng có bận tâm chuyện đó nữa.”

“Vậy thì phải là một bài hát mới trên cùng một giai điệu rồi,” Nicholas mỉm cười nói. “Trong thư gửi anh, tôi đã nói rằng tôi sâu sắc cảm kích và thán phục sự đồng cảm của anh dành cho cậu con trai tội nghiệp đó, người mà anh đã giải cứu bất chấp rủi ro tự chuốc lấy rắc rối và rắc rối cho bản thân; nhưng tôi không bao giờ có thể diễn tả hết sự biết ơn của cậu ấy, của tôi, và của những người khác mà anh không quen biết, dành cho anh vì đã rủ lòng thương cậu ấy.”

“Úi chà!” John Browdie xích ghế lại gần, tiếp lời; “và tôi cũng không bao giờ có thể diễn tả cho cậu biết vài người mà chúng ta CÓ biết sẽ ‘biết ơn’ đến mức nào nếu họ biết tôi đã rủ lòng thương cậu ấy đâu.”

“Ôi!” cô Browdie thốt lên, “đêm hôm đó em hoảng loạn đến thế nào cơ chứ!”

“Họ có nghi ngờ gì về việc anh tiếp tay cho cuộc đào tẩu không?” Nicholas hỏi John Browdie.

“Không một chút nào,” gã Yorkshire đáp, miệng ngoác ra đến tận mang tai. “Tôi cứ nằm ườn ra đó, ấm êm trên giường của thầy giáo rất lâu sau khi trời tối, mà chẳng có ai bén mảng đến gần nơi đó. ‘Chà!’ tôi nghĩ, ‘cậu ta đã đi được một quãng khá xa rồi, và nếu giờ này cậu ta chưa về đến nhà thì sẽ chẳng bao giờ về được nữa; nên gã có về nhanh bao nhiêu tùy thích thì cũng sẽ thấy chúng ta sẵn sàng’ — ý tôi là, thầy giáo có thể về đấy.”

“Tôi hiểu rồi,” Nicholas nói.

“Một lúc sau,” John tiếp tục, “gã về thật. Tôi nghe tiếng đóng cửa dưới nhà, rồi tiếng gã bước lên cầu thang trong tối. ‘Cứ từ từ và chắc chắn,’ tôi tự bảo mình, ‘cứ thong thả thôi ông tướng — không việc gì phải vội.’ Gã đến trước cửa, vặn chìa khóa — vặn chìa khóa trong khi chẳng có cái gì để chốt khóa cả — rồi hét lên ‘Alo, có ai ở đó không?’ — ‘Ừ,’ tôi nghĩ, ‘ông có thể gào lại câu đó mà cũng chẳng làm ai thức giấc đâu, ông tướng.’ ‘Alo, có ai ở đó không,’ gã lại gọi, rồi dừng lại. ‘Mày tốt nhất đừng có làm tao điên lên,’ thầy giáo bảo sau một lúc. ‘Tao sẽ bẻ gãy từng cái xương trên người mày, Smike,’ gã lại bảo sau một lúc nữa. Rồi tự dưng gã gào lên đòi đèn, và khi đèn được mang lên — úi chà, một cảnh hỗn loạn cào cào! ‘Có chuyện gì thế?’ tôi hỏi. ‘Nó đi mất rồi,’ gã bảo, — điên lên vì tức giận. ‘Anh không nghe thấy gì à?’ ‘Có chứ,’ tôi bảo, ‘tôi nghe thấy tiếng đóng cửa ra vào cách đây chẳng bao lâu. Tôi nghe thấy một người chạy xuống hướng đó’ (chỉ về hướng ngược lại — đúng không nào?). ‘Cứu tôi với!’ gã gào lên. ‘Tôi sẽ giúp anh,’ tôi bảo; và thế là chúng tôi lao đi — sai hướng hoàn toàn! Khờ khờ khờ!”

“Hai người có đi xa không?” Nicholas hỏi.

“Xa chứ!” John đáp; “tôi bắt gã chạy sút cả quần trong vòng mười lăm phút. Nhìn lão thầy giáo già không đội mũ, lao băng băng ngập đến đầu gối trong bùn và nước, vấp ngã qua hàng rào, lăn lộn xuống rãnh nước, và gào lên như điên dại, cái mắt duy nhất thì giương to ra tìm kiếm thằng bé, hai vạt áo gile bay phấp phới phía sau, còn người thì bắn đầy bùn đất từ đầu đến chân, cả trên mặt nữa chứ! Tôi tưởng mình rơi cả ruột, chết vì cười mất thôi.”

John cười hà hà chỉ vì nhớ lại kỷ niệm đó, làm lây lan cơn buồn cười sang cả hai người nghe, và cả ba cùng bật cười nổ pháo, hết tràng này đến tràng khác, cho đến khi không thể cười thêm được nữa.

“Lão là một gã tồi,” John vừa lau nước mắt vừa nói; “một gã cực kỳ tồi tệ, lão thầy giáo ấy.”

“Em không thể chịu nổi khi nhìn thấy mặt lão, anh John ạ,” cô vợ nói.

“Thôi nào,” John vặn lại, “cô nói thế nghe mới hay làm sao. Nếu không vì cô thì chúng ta làm sao biết gì về lão. Cô quen lão trước cơ mà Tilly, đúng không?”

“Em làm sao mà không biết Fanny Squeers được cơ chứ, anh John,” cô vợ đáp; “cậu ấy là bạn chơi từ nhỏ của em mà, anh biết đấy.”

“Chà,” John đáp, “tôi có bảo không phải đâu, em yêu? Tốt nhất là cứ giữ tình làng nghĩa xóm, duy trì mối quen biết cũ; và điều tôi muốn nói là, đừng có gây gổ nếu có thể tránh được. Cậu có nghĩ thế không, cậu Nickleby?”

“Tất nhiên rồi,” Nicholas đáp; “và anh đã hành động theo đúng nguyên tắc đó khi tôi gặp anh cưỡi ngựa trên đường, sau buổi tối đáng nhớ ấy.”

“Chắc chắn rồi,” John nói. “Những gì tôi nói, tôi luôn giữ lời.”

“Đó là một điều tuyệt vời và rất nam tính,” Nicholas nói, “mặc dù đó không hoàn toàn là những gì người ta hiểu về cụm từ ‘chơi trò Yorkshire’ ở London. Cô Squeers đang ở cùng hai người, đúng như anh đã viết trong thư.”

“Đúng thế,” John đáp, “cô ấy là phụ dâu của Tilly; và là một cô phụ dâu kỳ quặc nữa chứ. Tôi đoán cô ấy còn lâu mới trở thành cô dâu được.”

“Thật là xấu nết, anh John,” cô Browdie nói; dù chính cô, với tư cách là một cô dâu, cũng nhận ra sự hài hước sắc sảo trong câu đùa đó.

“Chú rể sẽ là một người đàn ông được ban phúc đấy,” John nói, đôi mắt anh lóe lên tia tinh nghịch khi nghĩ đến điều đó. “Anh ta sẽ gặp may lớn đấy, thật đấy.”

“Anh thấy đấy, anh Nickleby,” cô vợ nói, “chính vì cô ấy ở đây nên John mới viết thư cho anh và hẹn tối nay, bởi vì chúng tôi nghĩ rằng anh và cô ấy gặp nhau sau những gì đã xảy ra thì sẽ không dễ chịu chút nào.”

“Chắc chắn rồi. Hai người làm thế là hoàn toàn đúng,” Nicholas ngắt lời.

“Đặc biệt là,” cô Browdie quan sát với vẻ rất tinh ranh, “sau những gì chúng ta đã biết về những chuyện tình cảm trong quá khứ.”

“Chúng ta biết thật đấy!” Nicholas lắc đầu nói. “Tôi nghi là chị đã cư xử khá là ác ý trong chuyện đó đấy nhé.”

“Đương nhiên rồi,” John Browdie nói, luôn ngón tay trỏ to đùng của mình qua một lọn tóc quyến rũ của vợ và nhìn cô với vẻ rất đỗi tự hào. “Cô ấy lúc nào chẳng ngổ ngáo và lắm trò như một...”

“Như một cái gì cơ?” cô vợ hỏi.

“Như một người phụ nữ,” John đáp. “Ôi dồ ôi! Nhưng tôi chẳng biết còn cái gì khác trên đời tiến gần đến mức đó đâu.”

“Mọi người đang nói về cô Squeers cơ mà,” Nicholas lên tiếng, nhằm chặn đứng vài cử chỉ âu ếm vợ chồng nho nhỏ vốn đã bắt đầu diễn ra giữa vợ chồng Browdie, những hành động khiến vị khách thứ ba cảm thấy hơi ngượng ngùng khi thấy mình giống như kẻ phá bĩnh.

“Ồ đúng rồi,” cô Browdie tiếp lời. “John thôi đi nào. John hẹn tối nay vì cô ấy đã quyết định sẽ đi uống trà với bố cô ấy. Và để đảm bảo không có gì trục trặc, và anh sẽ hoàn toàn ở riêng với chúng tôi, anh ấy đã tính sẽ ra đó đón cô ấy về nhà.”

“Đó là một sự sắp xếp rất tuyệt,” Nicholas nói, “mặc dù tôi rất tiếc vì đã gây ra nhiều phiền phức như vậy.”

“Chẳng phiền phức chút nào đâu,” cô Browdie đáp; “bởi vì chúng tôi đã rất mong chờ được gặp anh — cả John và em — với niềm vui lớn nhất có thể. Anh có biết không, anh Nickleby,” cô Browdie nói với nụ cười tinh nghịch nhất của mình, “em thật sự nghĩ rằng Fanny Squeers rất thích anh đấy?”

“Tôi rất cảm ơn cô ấy,” Nicholas nói; “nhưng thú thật, tôi chưa bao giờ dám mơ tưởng đến việc để lại ấn tượng gì trong trái tim trinh nguyên của cô ấy cả.”

“Anh chỉ toàn nói thế thôi!” cô Browdie khúc khอด cười. “Không, nhưng anh có biết rằng thật sự — nghiêm túc đấy nhé và không đùa chút nào — em đã được chính Fanny cho biết rằng anh đã cầu hôn cô ấy, và hai người sắp sửa đính hôn một cách rất trang trọng và chính thức không?”

“Chị nhận được thông tin đó đấy à, cô kia — chị nhận được thông tin đó đấy à?” một giọng nữ chói lót cất lên, “chị nhận được thông tin rằng tôi — tôi — sắp đính hôn với một tên trộm sát nhân đã làm đổ máu của ba tôi sao? Chị — chị có nghĩ, cô kia — rằng tôi lại đi tha thiết cái loại bùn đất dưới chân mình, cái loại mà tôi chẳng thèm hạ mình dùng kẹp gắp than trong bếp để chạm vào vì sợ làm bẩn và ố mình không? Chị nghĩ thế sao, cô kia — chị nghĩ thế sao? Ôi! Đồ 'Tilda đê tiện và hạ cấp!”

Cùng với những lời trách móc này, cô Squeers đẩy tung cửa ra, phô bày trước mắt gia đình Browdie và Nicholas đang kinh ngạc không chỉ thân hình cân đối của cô, khoác trên mình bộ trang phục trắng tinh khôi đã được mô tả trước đó (chỉ là bẩn hơn một chút), mà cả thân hình của em trai và bố cô — cặp đôi nhà Wackford.

“Đây là kết cục đấy ư?” cô Squeers tiếp tục, vì quá kích động nên cô phát âm các âm 'h' rất mạnh; “đây là kết cục đấy ư, của tất cả sự nhẫn nại và tình bạn của tôi dành cho cái đồ hai mặt đó — con rắn độc đó — cái con... con người cá đó?” (Cô Squeers khựng lại một lúc lâu trước từ cuối cùng này, và cuối cùng thốt ra một cách tự hào, như thể nó đã chốt hạ hoàn toàn vấn đề.) “Đây là kết cục đấy ư, của việc tôi chịu đựng sự dối trá, sự hạ đẳng, sự giả dối của nó, việc nó tự phô bày ra để tranh thủ sự ngưỡng mộ của những tâm hồn xôi thịt, theo cái cách làm tôi phải xấu hổ cho... cho...”

“Giới tính của cô,” ông Squeers gợi ý, nhìn khán giả bằng một con mắt hiểm độc — đúng nghĩa đen là MỘT con mắt hiểm độc.

“Đúng thế,” cô Squeers nói; “nhưng tôi cảm ơn trời đất vì mẹ tôi cũng cùng một...”

“Đúng thế, đúng thế!” ông Squeers nhận xét; “và bố chỉ ước bà ấy có mặt ở đây để cào rách mặt cái hội này ra.”

“Đây là kết cục đấy ư,” cô Squeers nói, hất đầu lên và nhìn xuống sàn nhà một cách khinh bỉ, “của việc tôi để mắt đến cái sinh vật rác rưởi đó, và tự hạ thấp mình để ban ơn cho nó?”

“Ồ, thôi đi,” cô Browdie tiếp lời, phớt lờ mọi nỗ lực ngăn cản của anh chồng và chen lên hàng đầu, “đừng có nói những chuyện tào lao như thế nữa.”

“Tôi lại không ban ơn cho cô sao, cô kia?” cô Squeers hạch hỏi.

“Không,” cô Browdie đáp.

“Tôi sẽ không tìm kiếm sự thẹn thùng ở một nơi như thế,” cô Squeers kiêu ngạo nói, “bởi cái gương mặt đó xa lạ với mọi thứ trừ sự trơ trẽn hạ cấp và sự trơ trẽn đỏ mặt.”

“Tôi bảo này,” John Browdie xen vào, phát tiết vì những đòn tấn công dồn dập vào vợ mình, “nói năng nhẹ nhàng thôi, nhẹ nhàng thôi chứ.”

“Còn anh, anh Browdie,” cô Squeers bắt đắc dĩ chĩa sang anh rất nhanh, “tôi thương hại anh. Tôi chẳng có cảm xúc gì cho anh ngoài một sự thương hại chưa được thanh toán, thưa anh.”

“Ồ!” John nói.

“Không,” cô Squeers nói, liếc mắt nhìn sang bố mình, “mặc dù tôi là một cô phụ dâu kỳ quặc, và SẼ KHÔNG trở thành cô dâu trong một sớm một chiều, và mặc dù chồng tôi sẽ gặp may, tôi chẳng nuôi dưỡng tình cảm nào dành cho anh ngoài sự thương hại, thưa anh.”

Đến đây cô Squeers lại liếc mắt nhìn sang bố mình, người cũng liếc nhìn cô, như muốn nói: “Con vừa chiếu tướng nó đấy.”

“Tôi biết anh sắp phải trải qua những gì,” cô Squeers nói, lắc mạnh các lọn tóc. “Tôi biết cuộc sống đang chờ đợi anh phía trước là gì, và nếu anh là kẻ thù đắng cay và độc địa nhất của tôi, tôi cũng chẳng thể ước cho anh điều gì tồi tệ hơn thế.”

“Thế cô không muốn ước mình được kết hôn với anh ấy nếu rơi vào trường hợp đó sao?” cô Browdie hỏi với vẻ mặt cực kỳ lịch sự nhẹ nhàng.

“Ôi, cô kia ơi, cô thật là hóm hỉnh làm sao,” cô Squeers vặn lại bằng một cú nhún người chào đầy mỉa mai, “gần như hóm hỉnh như sự thông minh của cô vậy. Cô thật là thông minh làm sao, cô kia, khi chọn đúng lúc tôi đi uống trà với bố tôi, và chắc chắn sẽ không quay lại nếu không có người đi đón! Thật tiếc là cô chưa bao giờ nghĩ rằng người khác cũng có thể thông minh như cô và làm hỏng kế hoạch của cô!”

“Thùy mị lại đi con ơi, đừng có giở cái thói đó ra làm chị khó chịu,” cô Price vừa mới lên chức mệnh phụ tuyên bố.

“Đừng có làm mụ làm phu nhân với tôi, thưa cô,” cô Squeers đốp lại gay gắt. “Tôi không chịu nổi đâu. Đây có phải là kết...”

“Thôi đi cái cô kia,” John Browdie mất kiên nhẫn gào lên. “Nói hết những gì cô muốn nói đi Fanny, và đảm bảo đó là kết thúc đi, chứ đừng có đi hỏi người khác xem nó đã kết thúc hay chưa nữa.”

“Cảm ơn lời khuyên không cần thiết của anh, anh Browdie,” cô Squeers đáp lại với sự lịch thiệp gượng gạo, “nhưng xin anh làm ơn đừng có tự tiện đụng đến tên Thánh của tôi. Ngay cả sự thương hại của tôi cũng không bao giờ làm tôi quên mất những gì mình đáng được hưởng đâu, anh Browdie. ‘Tilda,” cô Squeers bỗng dưng bộc phát sự hung tợn đột ngột đến mức John phải giật bắn người trong ủng, “tôi từ cô vĩnh viễn, cô kia. Tôi từ bỏ cô. Tôi từ mặt cô. Tôi sẽ không,” cô Squeers nói bằng một giọng trang trọng, “đặt tên một đứa trẻ là ‘Tilda, dù là để cứu nó khỏi bước xuống nấm mả.”

“Về chuyện đó,” John nhận xét, “thì khi nào nó đến mới là lúc tính đến chuyện đặt tên cho nó.”

“John!” cô vợ xen vào, “đừng chọc cô ấy nữa.”

“Ôi! Chọc thật cơ đấy!” cô Squeers ghen tức thốt lên. “Chọc thật cơ đấy! Hơ hơ! Lại còn chọc nữa cơ! Không, đừng chọc cô ấy. Hãy nghĩ đến cảm xúc của cô ấy, xin làm ơn!”

“Nếu số phận đã định rằng những kẻ nghe lén không bao giờ nghe được điều gì tốt đẹp về mình,” cô Browdie nói, “thì tôi chẳng thể làm gì khác và tôi rất tiếc vì điều đó. Nhưng tôi phải nói rằng, Fanny ạ, không biết bao nhiêu lần tôi đã nói những lời tốt đẹp về cậu sau lưng cậu, đến mức ngay cả cậu cũng chẳng thể tìm ra lỗi sai nào trong những gì tôi nói.”

“Ôi, tôi cá là không đâu, cô kia!” cô Squeers gào lên cùng một cú nhún người khác. “Cảm ơn sự tốt lành của cô nhiều lắm, và xin cô đừng có khắt khe với tôi vào lần sau nhé!”

“Tôi không biết,” cô Browdie tiếp tục, “rằng tôi đã nói điều gì quá tệ về cậu, ngay cả lúc này. Dù sao thì những gì tôi nói hoàn toàn là sự thật; nhưng nếu tôi có nói sai, tôi rất tiếc và xin lỗi cậu. Cậu đã nói những điều tồi tệ hơn nhiều về tôi hàng chục lần rồi, Fanny ạ; nhưng tôi chưa bao giờ để bụng, và tôi hy vọng cậu cũng không để bụng tôi.”

Cô Squeers không đưa ra câu trả lời trực tiếp nào ngoài việc quan sát người bạn cũ từ đầu đến chân, rồi hếch mũi lên trời với sự khinh bỉ không thể diễn tả. Nhưng vài lời ám chỉ mờ ạt về một “con mèo,” một “con hồ ly” và một “sinh vật đáng khinh” đã thoát ra khỏi miệng cô; và điều này, cùng với việc cắn môi dữ dội, sự khó khăn lớn trong việc nuốt nước bọt, và những nhịp thở dồn dập đến rồi đi liên tục, dường như ám chỉ rằng những cảm xúc đang cuộn trào trong lồng ngực cô Squeers quá lớn để có thể thốt thành lời.

Trong khi cuộc trò chuyện nói trên đang diễn ra, Cậu bé Wackford, nhận thấy mình không bị ai chú ý và cảm thấy những ham muốn áp đảo của mình đang bùng lên mạnh mẽ, đã từng chút một xích lại gần bàn ăn và tấn công các món ăn bằng những cú thăm dò nhẹ nhàng như xoay tròn ngón tay quanh lòng đĩa rồi sau đó mút lấy mút để với sự thèm thuồng vô hạn; tỉa từng mẩu bánh mì rồi kéo các miếng đó qua bề mặt đĩa bơ; nhét những cục đường vào túi, trong khi vẫn vờ như đang chìm đắm trong suy nghĩ; và vân vân. Nhận thấy không ai can thiệp vào những hành động tự do nhỏ nhặt này, cậu dần dần tiến lên những hành động lớn hơn, và sau khi tự phục vụ mình một bữa ăn lạnh khá tươm tấp, lúc này cậu đã chén sâu vào ổ bánh mì nhân thịt.

Chẳng có điều nào trong số này qua mắt được ông Squeers, người mà miễn là sự chú ý của mọi người còn tập trung vào các đối tượng khác, vẫn tự ôm lấy mình mà sung sướng khi thấy con trai và kẻ thừa kế của mình đang béo mầm lên trên sự tổn thất của kẻ thù. Nhưng giờ đây, khi có dấu hiệu của một sự lắng xuống tạm thời, trong đó các hành động của cậu bé Wackford khó lòng mà không bị phát hiện, ông ta giả vờ như mới nhận ra tình huống đó lần đầu tiên, và giáng xuống mặt cậu quý tử một cú tát làm rung chuyển cả những chiếc tách trà.

“Ăn ư!” ông Squeers gào lên, “ăn những thứ mà kẻ thù của bố mày để lại sao! Thật đúng là đồ bất hiếu, đi mà ăn cho trúng độc chết đi.”

“Nó chẳng sao đâu,” John nói, vẻ mặt nhẹ nhõm thấy rõ trước triển vọng có một người đàn ông tham gia vào cuộc cãi vã; “để nó ăn đi. Tôi ước cả cái trường học đều ở đây. Tôi sẽ cho chúng nó cái gì đó để nhét đầy cái dạ dày tội nghiệp của chúng nó, dù có phải tiêu đến đồng xu cuối cùng!”

Squeers lườm anh bằng một nét mặt độc địa và tồi tệ nhất mà khuôn mặt ông ta có thể tạo ra — vốn là một khuôn mặt có khả năng bộc lộ sự hiểm độc rất đỗi kinh ngạc — và lén lút giơ nắm đấm lên.

“Thôi nào, thôi nào, thầy giáo,” John nói, “đừng có làm trò hề nữa; vì nếu tôi mà giơ nắm đấm của mình lên — chỉ một lần thôi — là ông sẽ ngã quay lơ vì gió của nó đấy.”

“Là mày, đúng không,” Squeers vặn lại, “đã giúp thằng ranh trốn chạy của tao thoát thân? Là mày đúng không?”

“Là tôi!” John đáp lại bằng một giọng lớn. “Đúng rồi, là tôi đấy, thì sao nào? Là tôi đấy. Giờ thì sao!”

“Con nghe thấy nó thừa nhận chính nó làm rồi đấy nhé, con gái!” Squeers nói, quay sang con gái mình. “Con nghe thấy chính miệng nó thừa nhận rồi đấy!”

“Làm đấy!” John gào lên. “Tôi còn nói cho ông nghe thêm này; nghe cho rõ đây. Nếu ông có một thằng bé trốn chạy khác, tôi sẽ lại làm thế lần nữa. Nếu ông có hai mươi thằng trốn chạy, tôi sẽ làm thế hai mươi lần, và thêm hai mươi lần nữa trên số đó; và tôi nói cho ông biết thêm,” John nói, “giờ thì máu tôi đã sôi lên rồi, ông đúng là một lão ranh ma; và may cho ông là ông đã già rồi đấy, chứ không thì tôi đã giã ông ra thành bột khi ông kể cho một người đàn ông tử tế nghe việc ông đã đánh đập cái thằng bé tội nghiệp đó trên xe ngựa như thế nào rồi.”

“Một người đàn ông tử tế!” Squeers nhếch môi khinh bỉ.

“Ừ! Một người đàn ông tử tế,” John đáp; “tử tế trong mọi chuyện trừ việc đút chân dưới cùng một cái bàn với cái loại như ông.”

“Thô mạ!” Squeers đắc thắng nói. “Có hai nhân chứng nhé; Wackford biết thế nào là một lời tuyên thệ, nó biết đấy; chúng ta sẽ túm gáy anh ở tòa đấy, ông tướng ạ. Lão ranh ma, hả?” Ông Squeers rút sổ tay ra và ghi chép lại. “Tốt lắm. Tôi xin đoan là câu đó trị giá hẳn hai mươi bảng ở phiên tòa đại hình sắp tới, chưa tính đến đoạn ‘tử tế’ đâu nhé, ông tướng.”

“Tòa đại hình,” John gào lên, “ông tốt nhất đừng có nói với tôi về Tòa đại hình. Các trường học ở Yorkshire đã từng bị bóc phốt ở Tòa đại hình rồi đấy ông tướng, và đó là một chủ đề nhạy cảm để khơi lại đấy, tôi nói cho ông biết.”

Ông Squeers lắc đầu theo cách đe dọa, mặt tái đi vì tức giận; rồi nắm lấy tay con gái, dắt theo cậu bé Wackford, rút lui về phía cửa.

“Còn cậu,” Squeers quay lại nói với Nicholas, người mà vì đã từng làm ông ta đau đớn một trận nên cố tình không tham gia vào cuộc thảo luận, “để xem tao có sờ gáy mày sớm thôi không. Mày thích đi bắt cóc trẻ con đúng không? Cứ cẩn thận kẻo bố chúng nó xuất hiện — nhớ lấy — cứ cẩn thận kẻo bố chúng nó xuất hiện rồi gửi chúng nó quay lại với tao để tao làm bất cứ điều gì tao thích, mặc kệ mày đấy.”

“Tôi chẳng sợ điều đó,” Nicholas đáp, nhún vai khinh bỉ rồi quay đi.

“Mày không sợ à!” Squeers đốp lại với một cái nhìn hiểm độc. “Giờ thì đi thôi.”

“Tôi xin rời khỏi cái xã hội này, cùng với bố tôi, mãi mãi,” cô Squeers nói, nhìn xung quanh một cách khinh bỉ và kiêu ngạo. “Tôi bị vấy bẩn khi phải hít thở chung bầu không khí với những sinh vật như thế này. Anh Browdie tội nghiệp! Hơ! hơ! hơ! Tôi thật sự thương hại anh ta, thật đấy; anh ta bị lừa gạt quá rồi. Hơ! hơ! hơ! — Đồ 'Tilda xảo quyệt và đầy âm mưu!”

Với sự bộc phát đột ngột trở lại trạng thái tức giận nghiêm khắc và uy nghi nhất này, cô Squeers lướt ra khỏi phòng; và sau khi giữ vững phẩm giá của mình đến phút cuối cùng có thể, người ta nghe thấy cô khóc nấc lên, la giãy và giãy giụa ngoài hành lang.

John Browdie vẫn đứng sau bàn, nhìn từ vợ sang Nicholas, rồi lại nhìn ngược lại, miệng há hốc ra, cho đến khi tay anh vô tình chạm vào vại bia tươi, anh liền nhấc nó lên, và sau khi che khuất khuôn mặt mình đằng sau nó một lúc, anh hít một hơi thật sâu, đưa vại bia cho Nicholas rồi rung chuông.

“Đây rồi, phục vụ,” John nhanh nhảu nói. “Nhanh tay lên nào. Dọn mấy thứ này đi, và cho chúng tôi cái gì đó nướng cho bữa tối — thật thoải mái và thật nhiều vào — lúc mười giờ nhé. Mang ít rượu brandy, ít nước lọc, và một đôi dép đi trong nhà — đôi to nhất trong nhà ấy — và nhanh lên nhé. Bỏ mẹ nó đi chứ!” John vừa nói vừa xoa tay, “giờ thì tối nay chẳng phải ra ngoài đón ai về nhà nữa rồi, và úi chà, chúng ta sẽ bắt đầu tận hưởng buổi tối này một cách nghiêm túc thôi.”

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 7 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.