Đêm tối, vốn mang lại biết bao cay đắng cho một tâm hồn tội nghiệp, đã nhường chỗ cho một buổi sáng mùa hè trong trẻo và không một gợn mây. Một chiếc xe ngựa đưa thư từ miền Bắc chạy xóc nẩy qua những con phố tĩnh lặng của vùng Islington với tiếng động vui tai, rồi ngân vang những tiếng tù và lảnh lót của bác xà ích để báo hiệu, rầm rộ tiến về điểm dừng ngay sát Bưu điện.
Hành khách duy nhất ngồi bên ngoài là một anh nông dân vạm xăm, vẻ mặt thật thà ngồi ở ghế đầu. Đôi mắt anh ta dán chặt vào mái vòm của Nhà thờ Thánh Paul, dáng vẻ trầm ồ thán phục đến mức chẳng còn thiết gì đến cảnh náo nhiệt dỡ các túi thư và kiện hàng xung quanh. Mãi đến khi một cánh cửa xe bên dưới hạ xống đánh rạch một cái, anh mới ngoảnh lại và bắt gặp một khuôn mặt thiếu nữ xinh xắn đang thò ra ngoài.
‘Nhìn kìa em!’ Anh nông dân oang oang, tay chỉ về phía công trình mà anh ta đang ngưỡng mộ. ‘Nhà thờ Thánh Paul đấy. Chà chà, nó to gớm giếc chưa kìa.’
‘Tới trời ơi, anh John! Em không nghĩ nó to đến thế đâu. Đúng là một con quái vật!’
‘Quái vật à!—Cô nói đúng rồi đấy, cô Browdie,’ anh nông dân vui vẻ đáp lời, vừa chậm rãi bước xuống trong chiếc áo khoác to sụ; ‘thế cô đoán xem cái chỗ đằng kia—cái toà nhà đằng sau bức tường ấy—là cái gì? Cô có đoán cả mười hai tháng cũng chẳng ra đâu. Nó chỉ là cái Bưu điện thôi đấy! Hô hô! Thảo nào họ thu tiền thư đôi đắt thế. Một cái Bưu điện! Cô thấy thế nào? Chà chà, nếu đó mới chỉ là cái Bưu điện, thì tớ thật muốn xem ngài Thị trưởng London sống ở chỗ nào.’
Nói đoạn, John Browdie—chính là anh—mở cửa xe ngựa, thò đầu vào vỗ nhẹ lên má cô Browdie (vốn là cô Price trước đây) rồi bật ra một tràng cười khoái trá.
‘Chà!’ John nói. ‘Quỷ bắt tớ đi nếu cô ấy không ngủ tiếp!’
‘Cổ ngủ suốt cả đêm, rồi cả ngày hôm qua nữa, trừ vài phút tỉnh dậy thỉnh thoảng thôi,’ người bạn đời của John Browdie đáp, ‘và em đã rất tiếc khi cổ thức dậy, vì cổ gắt gỏng kinh khủng!’
Nhân vật đang được nhắc tới là một thân hình đang nằm ngủ gật, quấn chặt trong khăn quàng và áo xông đến mức nếu không nhờ chiếc mũ nhung nâu cùng tấm che mặt màu xanh lá cây trang trí trên đầu, thì chẳng ai có thể đoán nổi giới tính. Chiếc mũ ấy đã bị đè bẹp dí suốt hai trăm năm mươi dặm trong cái góc xe ngựa cố định—nơi phát ra những tiếng ngáy của tiểu thư—tạo nên một dáng vẻ buồn cười đến mức có thể làm tan chảy cả những khuôn mặt nghiêm nghị nhất, huống chi là gương mặt hồng hào luôn chực cười của John Browdie.
‘Này!’ John giật giật một đầu tấm khăn che mặt rách rưới. ‘Nào, thức dậy đi xem nào!’
Sau vài cử động luồn lách trong cái góc cũ kỹ, cùng muôn vàn tiếng thốt lên đầy bực bội và mệt mỏi, thân hình đó cũng vật lộn ngồi thẳng dậy; và dưới một đống mũ nhung nhăn nhúm, xung quanh là bán cầu những ống cuốn tóc màu xanh, hiện ra đường nét đài các của cô Fanny Squeers.
‘Ôi, ‘Tilda!’ Cô Squeers kêu lên, ‘cậu đã đá tớ suốt cái đêm phúc lành này đấy!’
‘Ồ, tớ lại thích nghe thế cơ đấy,’ cô bạn cười đáp, ‘trong khi cậu chiếm gần như toàn bộ cái xe ngựa.’
‘Đừng có chối, ‘Tilda,’ cô Squeers nói với vẻ đầy nghiêm trọng, ‘bởi vì cậu có đá thật, và chẳng việc gì phải cố vớt vát bảo là không. Trong lúc ngủ có thể cậu không biết, nhưng tớ thì chẳng chợp mắt lấy một giây nào, cho nên tớ nghĩ lời tớ nói đáng tin hơn đấy.’
Đáp lại bằng câu đó xong, cô Squeers sửa sang lại chiếc mũ và tấm che mặt—những thứ mà có lẽ chỉ có phép thuật siêu nhiên hay sự đảo lộn quy luật tự nhiên mới trả lại được hình dáng ban đầu; rồi tự huyễn hoặc rằng trông mình đã vô cùng tươm tất, cô phủi sạch những vụn bánh mì kẹp và bánh quy tích tụ trên đùi, xách váy vịn vào cánh tay John Browdie đưa ra để bước xuống xe.
‘Nào,’ John nói sau khi gọi một chiếc xe ngựa cho thuê và hối hả nhét các cô cùng hành lý vào, ‘cho xe đến quán Đầu Người Sarah đi, bác tài.’
‘Đến đâu cơ?’ Bác tài xế kêu lên.
‘Trời ơi, anh Browdie!’ Cô Squeers ngắt lời. ‘Ý anh là: Quán Đầu Người Saracen!’
‘Chắc chắn rồi,’ John nói, ‘tôi biết nó là cái gì đó liên quan đến Đầu Con Của Sarah mà. Bác biết chỗ đó chứ?’
‘Ồ, ừ! Tôi biết chỗ đó,’ bác tài xế cộc lốc đáp rồi đóng sầm cửa lại.
‘’Tilda yêu quý, thật đấy,’ cô Squeers cằn nhằn, ‘người ta sẽ coi chúng ta là cái thứ gì không biết nữa.’
‘Cứ để họ xem chúng ta là ai tùy thích,’ John Browdie nói; ‘chúng ta đến London đâu phải để làm gì khác ngoài việc tận hưởng bản thân, đúng không?’
‘Thầy hy vọng là thế, anh Browdie,’ cô Squeers đáp, vẻ mặt trông vô cùng ảm đạm.
‘Vậy thì,’ John nói, ‘chẳng sao cả. Tớ mới làm ông chồng được bốn ngày thôi, tại ông bố già mất nên mới hoãn lại đấy. Đây là một đám cưới—có cô dâu, phù dâu, và chú rể—nếu bây giờ người ta không tận hưởng thì còn đợi đến bao giờ nữa, hả? Chết tiệt thật, tớ chỉ muốn biết thế thôi.’
Thế là, để bắt đầu tận hưởng ngay lập tức mà không lãng phí thời gian, anh Browdie trao cho vợ mình một nụ hôn nồng thắm, rồi thừa thắng xông lên giật thêm một nụ hôn nữa từ cô Squeers—sau khi tiểu thư này tung ra sự kháng cự mang tính trinh nữ bằng cách cào cấu và vật lộn, vốn chỉ dừng lại khi họ đã đến trước quán Đầu Người Saracen.
Tại đây, cả nhóm lập tức rút về nghỉ ngơi; giấc ngủ phục hồi sức lực là vô cùng cần thiết sau một chuyến đi dài như vậy; và đến khoảng giữa trưa, họ lại tập hợp bên một bữa sáng giàu dinh dưỡng, được chuẩn bị theo chỉ thị của anh John Browdie trong một phòng riêng nhỏ trên tầng, có tầm nhìn không bị cản trở ra khu chuồng ngựa.
Nếu lúc này được ngắm nhìn cô Squeers—khi đã trút bỏ chiếc mũ nhung nâu, tấm che màu xanh và những ống cuốn tóc màu xanh, để khoác lên mình tất cả vẻ lộng lẫy trinh nguyên của chiếc váy trắng và áo chẽn, cùng chiếc mũ vải phin trắng có gắn một bông hồng gấm nhân tạo đang nở rộ bên trong; mái tóc bồng bềnh của cô được uốn thành những lọn chặt đến mức không tai nạn nào có thể làm bung ra được, còn viền mũ thì đính những bông hồng gấm nhỏ xíu như thể những chồi non hứa hẹn của bông hồng lớn; nếu được nhìn thấy tất cả những thứ đó, cùng dải thắt lưng gấm bản rộng ton-sur-ton với bông hồng gia bảo và mấy bông hồng nhỏ bao quanh vòng eo thon gọn, bằng một sự khéo léo tuyệt vời đã che bớt độ ngắn của chiếc áo chẽn phía sau; nếu được chiêm ngưỡng tất cả những điều này, và tính thêm cả chiếc vòng tay san hô (thiếu mất vài hạt và lòi cả sợi dây đen rất rõ) đang ôm lấy cổ tay cô, cùng chiếc vòng cổ san hô nằm trên cổ, đỡ lấy một trái tim bằng đá mã não cô đơn bên ngoài chiếc váy, biểu tượng cho tình cảm tự do chưa ràng buộc của cô—nếu được thưởng thức tất cả những lời cầu xin thầm lặng nhưng đầy biểu cảm gửi đến những cảm xúc thuần khiết nhất của bản tính con người này, hẳn nó có thể làm tan chảy cả băng giá của tuổi già và bùng lên ngọn lửa cháy rực không bao giờ tắt của tuổi trẻ.
Anh phục vụ đã bị rung động. Dù chỉ là một phục vụ bàn, anh ta vẫn có những đam mê và cảm xúc của con người, và anh ta đã nhìn cô Squeers chằm chằm khi đưa mấy chiếc bánh xốp.
‘Anh có biết thầy tôi có ở đây không?’ Cô Squeers hỏi với vẻ trịnh trọng.
‘Thưa cô, cô nói sao cơ ạ?’
‘Thầy tôi ấy,’ cô Squeers nhắc lại; ‘thầy tôi có ở đây không?’
‘Ở đâu cơ, thưa cô?’
‘Ở đây—trong nhà này này!’ Cô Squeers đáp. ‘Thầy tôi—ông Wackford Squeers—đang trọ ở đây. Ông ấy có nhà không?’
‘Tôi không biết có vị khách nào tên như thế trong nhà này cả, thưa cô,’ anh phục vụ đáp. ‘Có thể ông ấy ở trong phòng cà phê.’
Có thể. Thật là đẹp mặt chưa kìa! Mới vừa rồi cô Squeers còn hí hớn suốt quãng đường đến London rằng mình sẽ làm chủ tình hình thế nào, cái tên và mối quan hệ của cô sẽ gợi lên sự kính trọng ra sao, thế mà giờ lại nhận được câu trả lời rằng bố cô "có thể" ở đây! ‘Làm như thầy mình là cái gánh hàng rong ấy!’ Cô Squeers nhận xét với sự phẫn xộ đầy nhấn mạnh.
‘Anh nên đi hỏi lại đi, anh bạn,’ John Browdie nói. ‘Và mang thêm một đĩa bánh kếp chim câu nữa lên đây được không? Cái gã này,’ John cằn nhằn nhìn vào cái đĩa trống rỗng khi anh phục vụ rút lui; ‘hắn gọi cái này là bánh kếp à—ba con chim câu non với chút xíu bít tết, còn lớp vỏ thì nhẹ đến mức anh chẳng biết nó ở trong miệng hay đã trôi xuống bụng rồi? Không biết phải tốn bao nhiêu cái bánh mới đủ cho một bữa sáng đây!’