Những Cuộc Phiêu Lưu Của Nicholas Nickleby

Lượt đọc: 685 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 41
Kể Về Vài Tình Tiết Lãng Mạn Giữa Bà Nickleby Và Vị Quý Tộc Mặc Quần Chẽn Gối Nhà Bên

❊ ❊ ❊

Kể từ sau cuộc trò chuyện hệ trọng gần nhất với đứa con trai, bà Nickleby bắt đầu điểm phấn tô son và chăm chút diện mạo một cách khác thường. Bên cạnh những bộ trang phục đứng đắn, đạo mạo vốn đã thành lề lối hằng ngày của một phụ nữ trung niên, bà dần thêm thắt đủ loại phụ kiện, điểm xuyết hoa mỹ. Xét riêng lẻ thì chúng thật vặt vãnh, nhưng gộp chung lại và đối chiếu với ý định bà vừa hé lộ, chúng lại mang tầm quan trọng chẳng hề nhỏ chút nào. Ngay cả bộ đồ tang đen tuyền cũng toát lên vẻ "sống động chết người" nhờ cách bà khoác lên mình đầy nhí nhảnh. Lại thêm những đường nét quyến rũ còn sót lại được chăm chút khéo léo, điểm xuyết đây đó vài món trang sức trẻ trung rẻ tiền — những thứ chỉ nhờ thế mà thoát khỏi trận "tàn phá" chung, được nằm yên ngủ giấc lành trong mấy góc kẹt tủ đồ cũ kỹ hằng năm hiếm thấy ánh mặt trời — khiến trang phục tang chóc của bà mang một diện mạo hoàn toàn mới. Từ biểu tượng bên ngoài của sự kính trọng và thương tiếc người đã khuất, chúng biến thành chuỗi tín hiệu mang ý đồ vô cùng "sát thương" và "quyết hạ gục" kẻ còn sống.

Biết đâu bà Nickleby hạ quyết tâm làm vậy là nhờ tinh thần trách nhiệm cao cả và những động lực cao đẹp không ai sánh bằng. Rất có thể đến lúc này, bà đã nhận ra cái tội của việc chìm đắm quá lâu trong nỗi đau thương vô ích, hoặc thấy cần phải nêu một tấm gương sáng về sự gọn gàng, nền nếp cho cô con gái đang độ xuân thì. Dù gạt sang một bên những lo toan về nghĩa vụ cùng trách nhiệm, sự thay đổi này vẫn có thể bắt nguồn từ lòng từ thiện thuần khiết và vô tư nhất. Vị quý ông nhà bên từng bị Nicholas lăng mạ, bị vu cho là kẻ lẩm cẩm và ngu ngốc; và đối với những đòn tấn công nhắm vào trí tuệ của ông ta, bà Nickleby cảm thấy mình ít nhiều phải chịu trách nhiệm. Bà có thể cho rằng một con chiên ngoan đạo thì nên làm mọi cách trong khả năng để chứng minh người đàn ông tội nghiệp kia chẳng phải kẻ lẩm cẩm cũng chẳng phải đồ ngu. Và để đạt được mục đích cao quý, đáng khen ấy, còn cách nào tốt hơn việc tự mình chứng minh cho thiên hạ thấy rằng: tình cảm mãnh liệt của ông dành cho bà là điều hợp lý, đúng đắn nhất trên đời, và chính là kết quả duy nhất mà bất kỳ ai kín kẽ, biết suy nghĩ cũng có thể lường trước được, một khi bà lỡ vô tình phô diễn những nét quyến rũ mặn mà của tuổi chín đặn ngay trước mắt một người đàn ông nồng nhiệt và dễ mủi lòng đến thế?

‘Ôi!’ bà Nickleby thở dài, nghiêm nghị lắc đầu. ‘Giá mà Nicholas biết được thầy nó ngày xưa đã phải đau khổ thế nào trước khi tụi mẹ đính hôn, cái hồi mẹ còn ghét ông ấy, thì chắc nó đã biết thương người hơn một chút. Làm sao mẹ quên được cái buổi sáng mẹ lườm ông ấy sa sầm khi ông ấy ngỏ ý che dù giùm mẹ? Hay cái đêm mẹ nhăn mặt quay đi? May mà ông ấy không bỏ xứ đi biệt tích đấy. Dạo đó suýt nữa thì ông ấy làm thật rồi.’

Liệu người quá cố có sống khỏe hơn không nếu trốn đi biệt xứ từ thời còn trai trẻ, đó là câu hỏi mà bà quả phụ chẳng buồn bận tâm suy nghĩ. Đúng lúc này, Kate xách hộp đồ khâu bước vào phòng; mà đối với bà Nickleby thì chỉ cần một sự gián đoạn nhỏ hơn thế, hoặc chẳng cần ai quấy rỗi, tư tưởng của bà cũng tự chuyển sang một dòng chảy mới bất cứ lúc nào.

‘Kate con ơi,’ bà Nickleby cất lời, ‘mẹ chẳng biết sao nữa, nhưng cứ mỗi lần trời hè ấm áp đẹp đẽ thế này, chim chóc hót ríu rít khắp nơi, là mẹ lại thèm thịt heo quay ăn kèm sốt húng tây, hành tây với nước sốt sệt.’

‘Thật là một sự liên tưởng kỳ lạ đấy mẹ nhỉ?’ Kate cười.

‘Mẹ thề đấy con ạ, mẹ cũng chẳng hiểu sao nữa,’ bà Nickleby đáp. ‘Thịt heo quay... để mẹ nhớ xem nào. Đúng vào cái ngày sau khi con rửa tội được năm tuần, nhà mình có làm món thịt quay — à không, làm sao mà heo được, vì mẹ nhớ dạo đó phải xẻ thịt đến một cặp cơ mà, thầy con với mẹ làm sao lại ngồi ăn một lúc hai con heo được — chắc chắn là chim cút rồi. Thịt heo quay ư! Mẹ e là nhà mình chưa bao giờ ăn món đó đâu, giờ nhớ lại mới thấy, thầy con ngày xưa có bao giờ chịu nổi cái cảnh nhìn thấy thịt heo trong tiệm đâu, ông ấy toàn bảo mấy con heo làm ông ấy nhớ đến mấy đứa bé đỏ hỏn, có điều da heo trắng trẻo hơn thôi; mà ông ấy thì khiếp nhất là trẻ con, vì dạo đó nhà mình làm gì có tiền nuôi thêm con cái, nên ông ấy ác cảm tự nhiên với chuyện đó. Kỳ thật đấy, cái gì lại xui khiến mẹ nghĩ đến món đó nhỉ! À, mẹ nhớ rồi, có lần mẹ sang ăn cơm nhà bà Bevan, ở cái phố lớn ngay góc đường chỗ ông đóng xe ngựa ấy, nơi mà cái ông say rượu bị lọt tõm xuống hầm nhà trống trước ngày trả tiền nhà gần một tuần lễ, rồi mãi đến khi người thuê mới chuyển vào mới tìm thấy ấy — dạo đó nhà bà ấy có món heo quay. Chắc chắn là nhờ thế mẹ mới nhớ ra, nhất là dạo đó trong phòng có con chim nhỏ cứ hót líu lo suốt bữa ăn — à không hẳn là chim nhỏ, nó là con vẹt, mà nó có hót đâu, toàn nói xàm nói bậy với chửi thề khiếp lắm: nhưng mẹ tin chắc là nhờ vậy đấy. Đúng rồi, không sai vào đâu được. Con có thấy vậy không con?’

‘Con nghĩ chắc chắn là vậy rồi mẹ ạ,’ Kate đáp bằng một nụ cười tươi tắn.

‘Chứ sao nữa; nhưng con có thật sự nghĩ vậy không Kate?’ bà Nickleby hỏi với vẻ nghiêm trọng như thể đang bàn một vấn đề vô cùng cấp thiết và ly kỳ. ‘Nếu con không nghĩ vậy thì nói ngay nhé; vì thà cứ làm cho rõ ràng minh bạch thì hơn, nhất là cái chuyện kỳ quặc này, rất đáng để chốt hạ cho xong khi mình đang tiện suy nghĩ.’

Kate bật cười đáp rằng mình đã hoàn toàn bị thuyết phục; và thấy mẹ có vẻ vẫn đắn đo xem có nên tiếp tục xới lại đề tài này không, cô bèn rủ mẹ mang đồ khâu ra chòi hóng mát ngoài vườn để tận hưởng không khí buổi chiều tuyệt đẹp. Bà Nickleby vui vẻ đồng ý ngay, thế là hai mẹ con ra thẳng chòi hóng mát mà không bàn cãi gì thêm.

‘À, mẹ phải công nhận,’ bà Nickleby vừa ngồi xuống vừa nhận xét, ‘thằng Smike đúng là một đứa trẻ ngoan hiếm thấy. Mẹ thề đấy, cái cách nó bỏ công sức ra dọn dẹp cái chòi nhỏ này, rồi trồng mấy khóm hoa thơm ngát xung quanh, thật vượt xa những gì mẹ có thể... ôi, nhưng mà Kate này, mẹ ước gì nó đừng rải toàn sỏi sang bên chỗ con ngồi như thế, rồi bỏ lại cho mẹ toàn là đất bùn thế này.’

‘Mẹ ơi,’ Kate vội vàng đáp, ‘mẹ sang ngồi chỗ con này — đi mà mẹ, cho con vui.’

‘Không đâu con, mẹ ngồi bên chỗ mẹ thôi,’ bà Nickleby nói. ‘Chà! Ôi chao!’

Kate ngước nhìn mẹ đầy thắc mắc.

‘Thằng bé này thật là,’ bà Nickleby nói, ‘nó lại đi đào đâu về mấy cái gốc hoa mà hôm nọ mẹ bảo mẹ thích lắm, rồi hỏi con có thích không — à không, hôm nọ con bảo con thích lắm, rồi hỏi mẹ có thích không chứ — thì cũng thế cả thôi. Mẹ thề đấy, nó thật là chu đáo và tinh tế quá chừng! Mẹ chẳng thấy,’ bà Nickleby vừa nói vừa dáo dác nhìn quanh, ‘bên phía mẹ có khóm nào cả, nhưng chắc tại hoa này thích hợp thổ dưỡng có sỏi đá hơn. Mẹ cá là vậy đấy Kate ạ, chính vì thế mà hoa mới mọc hết bên chỗ con, còn nó rải sỏi bên đó là vì bên đó hứng nắng tốt hơn. Mẹ thề đấy, thông minh thật đấy chứ! Mẹ mà là nó thì có nghĩ nát óc cũng chẳng ra!’

‘Mẹ ơi,’ Kate cúi mặt xuống đồ khâu khiến gương mặt gần như che khuất, ‘ngày trước, hồi mẹ chưa lấy chồng ấy...’

‘Trời Phật ơi Kate,’ bà Nickleby ngắt lời, ‘sao tự dưng con lại nhảy tót về cái thời mẹ chưa lấy chồng, trong khi mẹ đang nói cho con nghe về sự chu đáo và quan tâm của nó dành cho mẹ hả? Con chẳng có chút hứng thú nào với cái vườn này cả.’

‘Ôi mẹ!’ Kate ngước mặt lên, ‘mẹ biết là con có thích mà.’

‘Thế thì sao con không khen lấy một lời xem người ta chăm vườn gọn gàng, đẹp đẽ thế nào đi?’ bà Nickleby trách. ‘Con kỳ quặc thật đấy Kate!’

‘Con có khen mà mẹ,’ Kate nhẹ nhàng đáp. ‘Tội nghiệp cậu ấy!’

‘Mẹ chả mấy khi nghe con khen cả,’ bà Nickleby cằn nhằn. ‘Mẹ chỉ biết vậy thôi.’ Nói tới đây, do đã sa đà quá lâu vào một chủ đề, người mẹ tốt bụng liền rơi ngay vào cái bẫy nhỏ của con gái (nếu đó thực sự là cái bẫy) và tò mò hỏi xem lúc nãy cô định nói gì.

‘Về chuyện gì cơ mẹ?’ Kate hỏi, vẻ như đã quên sạch ý định đánh lạc hướng của mình.

‘Trời ơi Kate, con ngơ ngác hay đang ngủ gật đấy! Về cái thời trước khi mẹ lấy chồng ấy.’

‘À đúng rồi!’ Kate reo lên. ‘Con nhớ rồi. Con định hỏi là, ngày trước khi mẹ lấy thầy, mẹ có nhiều người theo đuổi không ạ?’

‘Người theo đuổi ấy hả con!’ bà Nickleby kêu lên, nở một nụ cười tự mãn đến ngỡ ngàng. ‘Tính từ đầu chí cuối, Kate ạ, mẹ phải có ít nhất cả tá người theo đuổi.’

‘Mẹ này!’ Kate lên tiếng với giọng điệu có phần phản đối.

‘Mẹ nói thật đấy con,’ bà Nickleby phân trần; ‘đó là chưa tính thầy con đâu nhé, với lại một cậu công tử ngày xưa học chung trường nhảy với mẹ, cái cậu mà toàn gửi đồng hồ vàng với vòng tay đến nhà mình gói trong giấy mạ vàng ấy (lần nào nhà mình cũng trả lại), về sau cậu đó xui xẻo bị đày sang Vịnh Botany trên một chuyến tàu chở tù nhân — ý mẹ là tàu phạm nhân ấy — rồi trốn vào rừng sâu đi săn cừu (mẹ chả hiểu sao cừu lại ở trong rừng nữa), suýt nữa thì bị treo cổ, may mà cậu ấy tự mắc nghẹn chết trước nên chính phủ ban lệnh ân xá luôn. Rồi còn cậu Lukin trẻ tuổi nữa chứ,’ bà Nickleby bắt đầu xòe ngón tay cái bên trái ra rồi bấm đốt ngón tay đếm từng cái tên — ‘Mogley này — Tipslark này — Cabbery này — Smifser này —’

Đếm tới ngón út, bà Nickleby định chuyển đếm sang bàn tay bên kia thì một tiếng "Hèm!" thật to vang lên như phát ra từ chính móng bức tường rào, khiến cả bà lẫn cô con gái giật bắn mình.

‘Mẹ ơi! Tiếng gì thế ạ?’ Kate hạ thấp giọng hỏi.

‘Mẹ thề đấy con ạ,’ bà Nickleby bàng hoàng đáp, ‘trừ khi là cái ông quý tộc nhà bên, chứ mẹ chịu không biết làm sao mà...’

‘Khụ... hèm!’ giọng nói ấy lại vang lên; lần này không phải kiểu hắng giọng thông thường, mà là một tiếng rống làm chấn động cả không gian xung quanh, kéo dài đến mức kẻ giấu mặt kia chắc phải tím tái cả mặt mày.

‘Mẹ hiểu rồi con ạ,’ bà Nickleby đặt tay lên tay Kate; ‘đừng sợ con yêu, người ta không nhắm vào con đâu, cũng chẳng cố ý làm ai hoảng sợ đâu. Phải công bằng với mọi người chứ Kate, mẹ phải nói thật lòng như thế.’

Nói đoạn, bà Nickleby gật gật đầu, vỗ nhẹ lên lưng bàn tay con gái liên tiếp mấy cái, tỏ vẻ như thể mình đang nắm giữ một bí mật vô cùng quan trọng nếu muốn là nói ra được ngay, nhưng nhờ Trời Phật giúp sức nên bà đã biết kiềm chế mà giữ miệng.

‘Ý mẹ là sao ạ?’ Kate thắc mắc ra mặt.

‘Đừng cuống lên con,’ bà Nickleby quay nhìn về phía bức tường rào, ‘con thấy mẹ có cuống đâu, mà nếu có ai có lý do để cuống lên vào lúc này, thì xét trong mọi hoàn cảnh, người đó chắc chắn phải là mẹ mới đúng, nhưng mẹ có cuống đâu Kate — chẳng cuống chút nào.’

‘Hình như người ta cố tình gây sự chú ý với mình thì phải mẹ ạ,’ Kate nói.

‘Người ta cố tình gây sự chú ý đấy con ạ; ít nhất,’ bà Nickleby ưỡn ngực, vỗ vỗ tay con gái bằng vẻ dịu dàng hơn trước, ‘là gây sự chú ý với một trong hai chúng ta. Hèm! Con không việc gì phải bất an đâu con yêu.’

Kate trông vô cùng bối rối, định cất lời hỏi cho ra lẽ thì một trận ồn ào vừa hò reo vừa đạp chân sành sạch vang lên từ phía bức tường, nghe như một ông già đang hú hét rồi lấy hết sức giậm chân trên lớp sỏi. Âm thanh ấy chưa kịp dứt thì một quả dưa chuột lớn từ đâu bay vút lên không trung như tên lửa, rồi nhộn nhạo lộn vòng rơi bộp ngay dưới chân bà Nickleby.

Màn xuất hiện kỳ lạ này vừa dứt thì một màn khác hệt như thế lại nối tiếp; một quả bí ngòi to chà bá vút lên cao rồi rớt bịch xuống; tiếp đó là vài quả dưa chuột cùng nhau "bay" lên; và cuối cùng, không trung như tối sầm lại bởi một cơn mưa hành tây, củ củ cải đỏ cùng đủ loại rau củ nhỏ khác rơi vãi, lăn lóc và đập chan chát khắp nơi.

Kate hoảng hốt đứng dốc dậy, nắm lấy tay mẹ định chạy vội vào nhà, nhưng cô cảm thấy mẹ chẳng những không hợp tác mà còn ghìm cô lại. Nhìn theo ánh mắt của bà Nickleby, Kate không khỏi kinh hãi khi thấy một chiếc mũ nhung đen cũ kỹ từ từ nhô lên khỏi bức tường ngăn cách hai khu vườn (ngôi nhà bên cạnh cũng là một căn nhà riêng biệt giống nhà họ), giống như kẻ đội nó đang leo từng bậc cầu thang; tiếp sau chiếc mũ là một cái đầu to tướng cùng khuôn mặt già nua với cặp mắt xám kỳ dị hết sức: trợn ngược, giố ma giố quỷ, nhãn cầu đảo liên hồi với ánh nhìn đờ đẫn, tình tứ đến phát gớm.

‘Mẹ ơi!’ Kate thực sự kinh hãi kêu lên, ‘sao mẹ lại đứng trơ ra thế, sao không đi ngay đi? Mẹ ơi, xin mẹ vào nhà đi!’

‘Kate con ơi,’ bà Nickleby vẫn ngập ngừng giằng lại, ‘sao con lại ngốc nghếch thế? Mẹ xấu hổ vì con quá. Nhát gan như thế này thì sau này làm sao con sống nổi ở đời? Ông muốn gì đấy ông kia?’ bà Nickleby cất lời bằng giọng bất bình nhưng vẫn kèm một nụ cười chúm chím mỉm chi với kẻ đột nhập. ‘Sao ông giở trò dòm ngó vào cái vườn này?’

‘Nữ hoàng của lòng ta ơi,’ kẻ lạ mặt chắp hai tay lại đáp, ‘nhấp chút chén nồng này đi!’

‘Vớ vẩn nào ông kia,’ bà Nickleby mắng. ‘Kate con yêu, yên nào con.’

‘Nàng không chịu nhấp chút chén nồng sao?’ gã lạ mặt nài nỉ, cái đầu ngoẹo sang một bên đầy van lơn, tay phải đặt lên ngực. ‘Ôi, nhấp chút chén nồng đi mà!’

‘Tôi sẽ không đời nào làm cái trò đó đâu ông nhé,’ bà Nickleby đáp. ‘Mời ông đi cho.’

‘Tại sao chứ,’ ông lão bước lên một bậc cao hơn, chống hai cùi trỏ lên tường với vẻ thản nhiên như thể đang tựa cửa sổ nhà mình, ‘tại sao sắc đẹp lại luôn tuyệt tình đến thế, ngay cả khi sự ngưỡng mộ của ta là vô cùng danh giá và kính cẩn?’ Nói rồi ông ta mỉm cười, hôn lên tay và cúi chào liên tục vài cái. ‘Phải chăng là do loài ong, khi mùa mật đã qua và người ta tưởng chúng đã chết vì khói lưu huỳnh, nhưng thực chất chúng đã bay sang tận xứ Barbary để ru ngủ những tù nhân người Moor bằng những bài hát đờ đẫn? Hay là,’ ông ta hạ giọng xuống gần như thì thầm, ‘do pho tượng ở Charing Cross dạo gần đây người ta thấy lúc nửa đêm trên Sàn Gốc Khoán đang khoác tay đi dạo với cái Bơm Nước ở Aldgate trong bộ đồ cưỡi ngựa?’

‘Mẹ ơi,’ Kate thì thầm, ‘mẹ có nghe ông ta nói gì không?’

‘Suýt, con yêu!’ bà Nickleby đáp bằng giọng tương tự, ‘ông ấy rất lịch sự, mẹ nghĩ đó là lời thơ đấy. Đừng có làm phiền mẹ nữa — con nhéo tay mẹ bầm tím lên rồi này. Đi đi ông kia!’

‘Đi hẳn sao?’ vị quý ông nhìn bằng ánh mắt đắm đuối. ‘Ôi! Đi hẳn thật sao?’

‘Đúng thế,’ bà Nickleby đáp, ‘chắc chắn rồi. Ông chẳng có việc gì ở đây cả. Đây là tư gia đấy ông nhé, ông phải biết điều đó chứ.’

‘Ta biết chứ,’ ông lão đặt ngón tay lên mũi với sự suồng sã thật đáng trách, ‘rằng đây là một nơi linh thiêng và đầy phép thuật, nơi mà những nét quyến rũ thần thánh nhất’ — đến đây ông ta lại hôn tay và cúi chào — ‘đang tỏa hương ngào ngạt sang tận vườn nhà hàng xóm, ép cho hoa trái củ quả phải nảy mầm sớm. Điều đó thì ta biết rõ. Nhưng liệu người đẹp nhất thế gian có cho phép ta hỏi một câu, nhân lúc hành tinh Kim Tinh đã đi công tác ở Bộ Tổng Tham mưu, bằng không — do ghen tị với nhan sắc tuyệt trần của nàng — cô ta sẽ xen vào giữa hai chúng ta mất?’

‘Kate này,’ bà Nickleby quay sang con gái, ‘phiền phức thật đấy. Mẹ thực sự chẳng biết phải nói sao với vị quý ông này nữa. Lịch sự thì vẫn phải lịch sự, con biết đấy.’

‘Mẹ ơi,’ Kate nài nỉ, ‘mẹ đừng nói câu nào với ông ta nữa, mình chạy lẹ vào nhà rồi khóa chặt cửa lại chờ anh Nicholas về đi mẹ.’

Bà Nickleby ra vẻ xa hoa, nếu không muốn nói là khinh khỉnh trước đề nghị hạ mình này; bà quay sang ông lão, người đang chăm chú theo dõi những lời thì thầm của hai mẹ con với thái độ vô cùng sốt sắng, và nói:

‘Nếu ông cư xử như một quý ông thực sự — điều mà tôi đoán qua ngôn từ và... và... diện mạo của ông (y hệt đấng sinh thành ra tôi thời phong độ nhất, Kate con ạ), và nếu ông đặt câu hỏi cho tôi bằng những từ ngữ rõ ràng, tôi sẽ trả lời.’

Nếu đấng sinh thành khả kính của bà Nickleby thời phong độ nhất mà giống gã hàng xóm đang nhô đầu qua tường rào kia, thì ông cụ chắc chắn phải là một vị quý ông cực kỳ kỳ quặc vào thời hoàng kim của mình. Có lẽ Kate cũng nghĩ vậy, nên cô mạn phép ngắm nhìn "bức chân dung sống" ấy kỹ hơn một chút khi ông ta cởi chiếc mũ nhung đen ra, để lộ cái đầu trọc lốc không một sợi tóc, rồi thực hiện một chuỗi cúi chào dài dằng dặc, mỗi lần cúi xuống lại kèm theo một nụ hôn gió. Sau khi đã vắt kiệt sức lực cho màn trình diễn mệt nhoài ấy, ông ta lại đội mũ lên, cẩn thận kéo sụp mép mũ che kín hai vành tai, rồi quay trở lại tư thế cũ và cất lời:

‘Câu hỏi là...’

Đến đây ông ta khựng lại, dáo dác nhìn quanh khắp phía để đảm bảo chắc chắn không có kẻ rình nghe nào ở gần. Khi đã yên tâm, ông ta gõ ngón tay lên mũi mấy cái, kèm theo một cái nhìn gian xảo như thể tự đắc về sự cẩn trọng của mình; rồi vươn cổ ra, ông ta thì thầm thật to:

‘Nàng có phải là công chúa không?’

‘Ông đang chế nhạo tôi đấy à,’ bà Nickleby đáp, vờ như sắp lùi bước đi vào nhà.

‘Không, nhưng nàng có phải không?’ ông lão dồn hỏi.

‘Ông thừa biết là không phải rồi,’ bà Nickleby đáp.

‘Thế nàng có họ hàng gì với Đức Tổng Giám mục vùng Canterbury không?’ ông lão hỏi với vẻ cực kỳ sốt sắng, ‘hay với Đức Giáo hoàng La Mã? Hay Chủ tịch Hạ viện? Bỏ lỗi cho ta nếu ta sai, nhưng người ta bảo ta nàng là cháu gái của Ủy ban Lát đường, và là con dâu của Thị trưởng cùng Hội đồng Thành phố, điều đó giải thích cho mối quan hệ họ hàng của nàng với cả ba vị kia.’

‘Bất kỳ ai phao tin đồn như thế,’ bà Nickleby đáp với vẻ hơi gay gắt, ‘đã xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự của tôi, một điều mà tôi tin chắc là con trai Nicholas của tôi nếu biết được sẽ không đời nào bỏ qua đâu. Thật là vẽ chuyện!’ bà Nickleby ưỡn người lên, ‘cháu gái của Ủy ban Lát đường cơ đấy!’

‘Mẹ ơi, xin mẹ vào nhà đi!’ Kate thì thầm.

‘"Mẹ ơi" cái gì! Vớ vẩn nào Kate,’ bà Nickleby bực bội nói, ‘con toàn thế thôi. Giá mà người ta bảo mẹ là cháu gái của một con chim oanh biết thổi sáo thì chắc con cũng mặc kệ đúng không? Mẹ chẳng nhận được chút cảm thông nào cả,’ bà Nickleby sụt sùi. ‘Mẹ cũng chẳng trông mong gì, đấy là một chuyện.’

‘Nước mắt!’ ông lão kêu lên với một cú nhảy hăng hái đến mức ngã bật lùi hai ba bậc cầu thang, cằm đập chát vào tường. ‘Hứng lấy những giọt tinh thể đó — hứng lấy — đóng chai lại — nút chặt lại — lấy xi niêm phong lên — đóng dấu hình thần Tình yêu Cupidon — dán nhãn "Hàng thượng hạng" — rồi cất vào hộc số 14, nhớ chặn một thanh sắt lên trên để tránh sấm sét nhé!’

Nêu ra những mệnh lệnh ấy như thể đang có cả tá người làm đang tất bật thi hành, ông ta lộn ngược chiếc mũ nhung ra, đội lên đầu một cách cực kỳ trang trọng sao cho che khuất mắt phải và ba phần tư cái mũi, rồi chống hai tay vào hông, trừng mắt nhìn chằm chằm một con chim sẻ gần đó cho đến khi con chim sợ hãi bay mất. Lúc này ông ta mới nhét chiếc mũ vào túi với vẻ vô cùng mãn nguyện, rồi quay sang bà Nickleby với thái độ khép lép kính cẩn.

‘Thưa phu nhân cao quý,’ đó là những lời ông ta thốt ra, ‘nếu ta có lỡ lời nhầm lẫn về gia thế hay họ hàng của nàng, ta xin thành kính tha lỗi. Nếu ta có lỡ tưởng nàng có họ hàng với các Cường quốc Ngoại bang hay các Bộ ngành Trong nước, thì đó là vì nàng có một thần thái, một dáng điệu, một sự quý phái mà xin lỗi cho ta được nói thẳng rằng không một ai ngoài nàng (có lẽ ngoại trừ duy nhất nàng thơ kịch nghệ khi hứng chí chơi đàn organ thùng trước mặt Công ty Đông Ấn) có thể sánh bằng. Ta không còn là gã trai trẻ nữa, thưa bà, như bà đã thấy; và mặc dù những bậc tiên nữ như nàng chẳng bao giờ già đi, ta vẫn mạn phép tin rằng chúng ta sinh ra là để dành cho nhau.’

‘Thật là, Kate con yêu!’ bà Nickleby nói giọng yếu ớt, ánh mắt nhìn đi chỗ khác.

‘Ta có điền sản, thưa bà,’ ông lão xua xua tay phải một cách hờ hững như thể chẳng xem trọng mấy chuyện tiền bạc đó, giọng nói cực kỳ liến thoắng; ‘trang sức, ngọn hải đăng, ao cá, một đội tàu đánh bắt cá voi riêng ở Bắc Hải, và vô số bãi nuôi ngọc trai béo bở ở Thái Bình Dương. Nếu nàng rủ lòng thương bước xuống Sàn Gốc Khoán Hoàng gia, cởi chiếc mũ hai sừng của viên bảo vệ béo nhất ra, nàng sẽ tìm thấy danh thiếp của ta nằm trong lót mũ, bọc trong một tờ giấy màu xanh. Cây gậy chống của ta cũng có thể xem qua nếu hỏi vị linh mục ở Hạ viện, người bị cấm tuyệt đối không được thu tiền khi cho người ta xem gậy. Ta có kẻ thù xung quanh, thưa phu nhân,’ ông ta nhìn về phía nhà mình rồi hạ giọng thật thấp, ‘những kẻ luôn tìm cách tấn công ta mọi lúc mọi nơi để chiếm đoạt tài sản. Nếu nàng ban cho ta bàn tay và trái tim nàng, nàng có thể đệ đơn lên Đại pháp官 hoặc gọi quân đội đến nếu cần — chỉ cần gửi chiếc tăm xỉa răng của ta cho vị Tổng chỉ huy là đủ — để tống cổ sạch sẽ chúng ra khỏi nhà trước khi lễ cưới diễn ra. Sau đó, tình yêu, hạnh phúc và sung sướng; sung sướng, tình yêu và hạnh phúc. Hãy là của ta, hãy là của ta!’

Lặp lại những lời cuối ấy bằng một sự say đắm và nhiệt thành mãnh liệt, ông lão lại đội chiếc mũ nhung đen lên, vội vã ngước nhìn lên trời rồi lẩm nhẩm điều gì đó không rõ ràng về một chiếc khí cầu mà ông ta đang chờ đợi, vốn đã đến trễ giờ.

‘Hãy là của ta, hãy là của ta!’ ông lão lặp lại.

‘Kate con ơi,’ bà Nickleby cất lời, ‘mẹ gần như không còn sức để nói nữa; nhưng vì hạnh phúc của tất cả các bên, cần phải chấm dứt chuyện này vĩnh viễn.’

‘Mẹ đâu nhất thiết phải nói một lời nào đâu mẹ?’ Kate phân tích.

‘Mẹ xin con hãy để mẹ tự quyết định,’ bà Nickleby nói.

‘Hãy là của ta, hãy là của ta!’ ông lão gào lên.

‘Khó có thể trông chờ, thưa ông,’ bà Nickleby cất lời, mắt khiêm tốn nhìn xuống đất, ‘rằng tôi lại đi nói cho một người xa lạ biết liệu tôi cảm thấy hãnh hãnh diện và biết ơn trước những lời cầu hôn như thế hay không. Chúng chắc chắn được đưa ra trong những hoàn cảnh rất kỳ quặc; tuy nhiên, xét ở một khía cạnh nào đó và trong một chừng mực nào đó tất nhiên’ (cách thắt mở quen thuộc của bà Nickleby), ‘chúng vẫn phải mang lại sự hãnh diện và dễ chịu cho cảm xúc của một người chứ.’

‘Hãy là của ta, hãy là của ta,’ ông lão gào lên. ‘Gog và Magog, Gog và Magog. Hãy là của ta, hãy là của ta!’

‘Chỉ cần tôi nói thế này là đủ, thưa ông,’ bà Nickleby tiếp tục với vẻ cực kỳ nghiêm túc — ‘và tôi tin ông sẽ thấy được sự đúng đắn của việc nhận lời đáp rồi đi cho — rằng tôi đã quyết định ở vậy nuôi con, hết lòng vì các con tôi. Ông có thể không tin tôi là mẹ của hai đứa con — quả thực nhiều người đã nghi ngờ và bảo rằng chẳng có gì trên đời khiến họ tin nổi chuyện đó — nhưng thực tế là vậy, và chúng đều đã trưởng thành cả rồi. Chúng tôi rất vui được nhận ông làm hàng xóm — rất vui; hân hạnh lắm chứ — nhưng ở bất kỳ một tư cách nào khác thì tuyệt đối không thể, không thể nào. Còn về chuyện tôi có đủ trẻ để tái giá hay không, chuyện đó có thể đúng hoặc không; nhưng tôi không thể nghĩ đến chuyện đó dù chỉ trong một khoảnh khắc, dù bất kỳ lý do gì. Tôi đã nói là không bao giờ và tôi sẽ không bao giờ. Thật là đau lòng khi phải từ chối những lời cầu hôn, và tôi thà rằng đừng ai cầu hôn mình thì hơn; tuy nhiên đây là câu trả lời tôi đã quyết định từ lâu, và đây là câu trả lời tôi sẽ luôn đưa ra.’

Những lời bộc bạch này một phần hướng về ông lão, một phần hướng về Kate, và một phần là lời tự thầm thì của bà. Đến đoạn cuối, người cầu hôn lại tỏ ra thiếu tập trung một cách bất kính, và bà Nickleby vừa dứt lời thì trước sự kinh hãi tột cùng của cả bà lẫn cô con gái, ông ta đột ngột cởi phăng áo khoác ngoài, nhảy tót lên đỉnh tường, tạo một tư thế phô diễn trọn vẹn chiếc quần chẽn gối cùng đôi tất dạ màu xám, rồi kết thúc bằng cách đứng một chân và lặp lại tiếng rống yêu thích với sự dữ dội gấp bội.

Trong khi ông ta vẫn đang ngân dài nốt nhạc cuối cùng và điểm xuyết thêm những tiếng luyến láy kéo dài, người ta thấy một bàn tay bẩn thỉu lén lút và nhanh như cắt trượt dọc theo đỉnh tường, như thể đang bắt một con ruồi, rồi chộp lấy một bên cổ chân của ông lão một cách cực kỳ điệu nghệ. Ngay sau đó, bàn tay còn lại xuất hiện và chộp lấy cổ chân kia.

Vướng víu như vậy, ông lão vụng về nhấc chân lên mấy cái như thể chúng là những bộ phận máy móc vô cùng thô kệch và hỏng hóc, rồi nhìn xuống phía bên kia tường và bật cười khoái trá.

‘Ngươi đấy à?’ ông lão hỏi.

‘Vâng, tôi đây,’ một giọng nói ồm ồm đáp lại.

‘Đại đế xứ Tartary dạo này thế nào rồi?’ ông lão hỏi.

‘Ồ! Ngài ấy vẫn thế thôi,’ giọng nói đáp. ‘Chẳng khá hơn mà cũng chẳng tồi đi.’

‘Thái tử Trung Hoa trẻ tuổi thì sao,’ ông lão tỏ vẻ vô cùng quan tâm. ‘Cậu ta đã hòa giải với ông bố vợ làm nghề bán buôn khoai tây lớn chưa?’

‘Chưa,’ giọng ồm ồm đáp; ‘và cậu ấy bảo sẽ không bao giờ hòa giải đâu, thế mới gắt chứ.’

‘Nếu vậy,’ ông lão nhận xét, ‘có lẽ ta nên leo xuống thì hơn.’

‘Ừm,’ người đàn ông bên kia tường nói, ‘tôi cũng nghĩ ông nên xuống đi thôi.’

Một bàn tay sau đó cẩn thận buông ra, ông lão tụt xuống tư thế ngồi, đang quay đầu lại định mỉm cười và cúi chào bà Nickleby thì biến mất một cách khá đột ngột, như thể hai chân ông ta vừa bị kéo xỉu từ bên dưới.

Thở phào nhẹ nhõm khi ông ta biến mất, Kate đang quay sang định nói chuyện với mẹ thì hai bàn tay bẩn thỉu lại xuất hiện, tiếp theo đó là thân hình của một người đàn ông lùn tịt, thô kệch, trèo lên bằng các bậc thang mà gã hàng xóm kỳ dị vừa chiếm giữ.

‘Xin lỗi hai bà,’ người mới đến nói, nhếch miệng cười và vung tay chạm vào vành mũ. ‘Lão ấy có giở trò tán tỉnh ai trong hai bà không đấy?’

‘Có đấy,’ Kate đáp.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 7 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.