Xuân Thu Ngã Vi Vương

Lượt đọc: 4894 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 361
Châu Quốc

❊ ❊ ❊

Tứ Sư của Lỗ quốc thuộc trực tiếp Đại Tông Bá, tước là Hạ đại phu. Tứ, nghĩa là bày biện, chức trách của Tứ Sư là "chưởng phò tá Tông Bá", bày biện vị trí tế tự cùng vật hi sinh, kiểm tra đồ dùng tế lễ được bày ra, nhắc nhở và hỗ trợ quần thần hành tiểu lễ tế tự, trách phạt những kẻ biếng nhác lễ nghi, vân vân.

Tháng mười một năm ngoái, Khổng Tử thăng làm Tứ Sư, vì ông xuất thân thấp kém, trong Tông Bá thự vốn chủ yếu gồm công tộc nên không được người ta ưa thích. Khi rảnh rỗi, ông dẫn người trẻ tuổi trong nước học tập lễ nghi, nhờ vậy mà thu nhận không ít đệ tử, gặp khi nhà chư hầu khanh đại phu có người mất, còn phải chạy tới chủ trì tang lễ, quyền lực và uy vọng vẫn chưa có khởi sắc lớn nào.

Mãi cho đến một lần ngoại giao sính vấn từ nước láng giềng Châu Quốc, mới khiến Khổng Tử danh tiếng đại chấn!

Lần sính vấn đó Triệu Vô Tuất cũng có nghe qua, vì thế còn sai người thu thập không ít điển sử và tin tức về Châu Quốc, dù sao nơi đó cách Hám Ấp của Lỗ quốc cũng chỉ hơn trăm dặm, có lẽ trong tương lai không xa, sẽ trở thành hàng xóm của Triệu Vô Tuất.

Châu Quốc vốn là nước cổ thời Hạ Thương, họ Tào, xuất thân từ bộ tộc Chúc Dung ở Trung Nguyên, tổ tiên truy ngược lại là Lục Chung thị. Chúc Dung có thể "chiêu hiển thiên địa chi quang minh", cho nên hậu duệ phần nhiều là người hiền tài ôn hòa, thời Hạ Thương vô cùng hưng thịnh. Côn Ngô quốc họ Kỷ là hầu bá của nhà Hạ, Đại Bành, Thỉ Vi hai nước là hầu bá của Ân Thương, địa vị tương đương với Tề, Lỗ thời Chu.

Tuy nhiên đến thời Chu, con cháu tám họ Chúc Dung vốn khác hệ với người Chu phần lớn đã suy tàn tiêu vong, ngoại trừ nước Sở họ Mễ lại trỗi dậy ở phương nam, thì ở phía bắc sông Hoài chỉ còn lại hai nước Đông Di hóa là Châu họ Tào và Cử họ Kỷ. Trong lãnh thổ Sơn Đông, chúng là quốc gia chỉ sau Tề, Lỗ, là những kẻ nổi bật trong các nước nhỏ vùng Tứ Thượng.

Vật tổ của Châu Quốc là con nhện, thời Châu Văn Công định đô tại Trâu Thành, nên còn gọi là Trâu Quốc.

Châu và Lỗ vừa là kẻ thù lâu năm, vừa chịu ảnh hưởng văn hóa Lỗ quốc, đến đời sau, thậm chí trở thành vòng tròn gọi là "Trâu Lỗ văn hóa", Mạnh Tử cũng là người nước Trâu.

Nhưng thời Tây Chu, Châu Quốc luôn bị xem là tộc Di dị loại, đến thời Tề Hoàn Công vì lý do giúp Tề tranh bá, mới được vương thất nhà Chu thừa nhận. Phong là "Châu Tử". Lãnh thổ của nó ba mặt đông, tây, bắc bị Lỗ quốc bao vây, cho nên "tiếng mõ canh có thể nghe thấy nhau". Phía nam giáp với Tiểu Châu quốc và Đằng, dân số tương đương nước Tào, khoảng ba mươi vạn người. Thế mà lại xưng có sáu trăm cỗ binh lực, mạnh hơn hai phần ba của nước Lỗ.

Quân Lỗ đặt vào trong số chư hầu Trung Nguyên thường đóng vai trò như miếng mồi ngon, nhưng quốc lực lại mạnh hơn Châu, Cử, lại là nước hầu đứng đầu phụng thờ Chu lễ, địa vị quốc tế khá cao. Thời Xuân Thu, Châu quân nhiều lần đến Lỗ quốc kết minh triều kiến, hy vọng kết giao tốt với Lỗ. Nhưng những kẻ "Đông Di" này lại chính là hướng mở rộng lãnh thổ chủ yếu của người Lỗ, thế là họ thường mượn cớ "phạt Di" để đem quân đánh Châu. Chỉ trong vòng hơn hai trăm năm ngắn ngủi, Lỗ quốc xâm lấn Châu Quốc đã hơn mười lần, lần lượt chiếm đoạt một lượng lớn đất đai và dân số của Châu Quốc.

Chiến tranh phòng ngự của Châu Quốc đối với Lỗ ban đầu là mỗi bên thắng một trận, về sau lại có xu thế sụp đổ, sớm từ thời Châu Điệu Công, đã xảy ra mấy vụ đại phu nước Châu mang theo lãnh ấp đầu quân cho Lỗ quốc, thời Châu Trang Công cũng vậy.

Quốc thế suy sụp, so sánh lực lượng với Lỗ quốc càng thêm chênh lệch. Nước Châu thấy đối đầu trực diện không đánh lại người Lỗ, chỉ có thể thường xuyên kết giao với các cường quốc đương thời như Tấn, Tề, Sở, Ngô để cầu được bảo hộ, khiến Lỗ quốc không thể dễ dàng thôn tính bọn họ. Ví dụ như hơn hai mươi năm trước, tại hội nghị Bình Khâu do Tấn Bình Công triệu tập chư hầu, Châu Quốc từng liên hợp với nước Cử kiện cáo rằng: "Lỗ sớm tối phạt ta, suýt chút nữa diệt vong, việc ta không cống nạp cho minh chủ, là do nước Lỗ gây ra." Một phen nước mắt nước mũi kiện cáo với người Tấn.

Nước Tấn tuy có ý duy trì trật tự quốc tế, nhưng dù sao bá nghiệp đã dần dần suy vi, lực bất tòng tâm, giam giữ quở trách Quý Bình Tử một phen, nhưng cũng không có hiệu quả gì lớn. Cho nên dưới sự áp bức không ngừng của nước Lỗ, Châu Quốc cũng chỉ đành cống nạp tỏ ý tốt để cầu hòa, mượn cớ đó mà thoi thóp qua ngày.

Triệu Vô Tuất hiểu rõ tình hình cụ thể xong không khỏi buồn cười, Lỗ quốc suốt ngày bị Tấn, Tề, Sở bắt nạt, sự ưu việt của họ, cũng chỉ là tìm kiếm trên thân những nước nhỏ này mà thôi.

Thế là vào mùa xuân năm nay, Châu Quốc lại phái người đến triều sính, đồng thời đưa cho Khổng Tử một cơ hội để khuếch trương danh tiếng.

Nguồn gốc việc này lại là một tang sự kỳ lạ vài năm trước. Hám thành nơi Hám Chỉ ở tương đối gần với Châu Quốc, nên biết cực kỳ rõ ràng, lúc đó hắn nhịn cười kể lại những chuyện cười của đám "người Di" này cho Triệu Vô Tuất nghe.

“Châu Trang Công chết cách đây vài năm, cách chết rất kỳ lạ. Nghe nói có lần, Trang Công cùng đại phu Di Xạ Cô của Châu Quốc uống rượu. Trong lúc đó Di Xạ Cô ra ngoài tiểu tiện, tên hoạn quan canh cửa liền đòi rượu thịt, lại bị vị đại phu Di Xạ Cô đang say rượu cầm gậy nhỏ đuổi đánh, hai người từ đó mà kết oán. Một lát sau, đến lượt Châu Trang Công đi dạo trong sân để giải rượu, hoạn quan thấy quốc quân ra, biết ông tính gấp gáp lại ưa sạch sẽ, liền cố ý làm sân ướt nhẹp, lại nói với Trang Công rằng đây là 'Di Xạ Cô tiểu tiện vào đó'...”

Vô Tuất suýt chút nữa phun cả nước tương trong miệng ra, ý câu nói của tên hoạn quan kia là, vết nước trên sân, là do đại phu Di Xạ Cô tiểu tiện làm bẩn, vị đại phu này cũng thật xui xẻo, bị đội một cái nồi đen như vậy.

Hám Chỉ nói: “Châu Trang Công tính gấp gáp lại ưa sạch sẽ, làm sao có thể dung thứ chuyện này, liền ra lệnh bắt giữ Di Xạ Cô, nhưng truyền lệnh xuống hồi lâu vẫn không bắt được. Châu Trang Công càng thêm giận dữ không nhịn nổi, trở về tẩm cung liền tự mình ngồi phịch xuống giường, do ngồi quá mạnh, có lẽ thuận thế lăn một vòng, liền không cẩn thận ngã vào lò than bên giường bị bỏng, không lâu sau thì vì da bị bỏng lở loét mà chết. Sau khi chết được an táng theo lễ Di, chôn theo năm cỗ xe, tuẫn táng năm người, Thái tử Ích của Châu Quốc khi đó còn là đứa trẻ mới có thể kế vị...”

Đây lại là một quốc tang gây ra bởi chuyện tiểu tiện bừa bãi không có thật, xem ra Châu Trang Công là người tính tình nóng nảy lại mắc chứng ưa sạch sẽ trầm trọng, có thể liệt vào top 3 kiểu chết kỳ lạ của chư hầu thời Xuân Thu, có thể so bì với cái chết của Tấn Cảnh Công.

Châu tử Ích khi kế vị tuổi còn nhỏ, ngay cả huyền phục của quán lễ cũng không mặc nổi, thế là chỉ có thể để khanh đại phu nhiếp chính, đợi đến mùa xuân năm nay, vị Châu tử đã lớn bằng tuổi Vô Tuất mới chuẩn bị làm lễ gia quan.

Hắn cực kỳ coi trọng việc này, thế là phái đại phu đến thỉnh giáo cao thủ về lễ là Lỗ quốc, người khác hắn không tìm, lại cứ thông qua Mạnh thị tìm Khổng Tử đang làm "Tứ Sư" mới nhậm chức, hỏi về các lễ nghi liên quan đến việc tổ chức quán lễ.

Khi đó, trong Tông Bá thự ở công cung, trước mặt đám đông lễ quan, Khổng Khâu thản nhiên bàn luận, còn để đệ tử cùng diễn luyện lễ nghi này, dạy cho người nước Châu một bài học đàng hoàng.

“Quán lễ của Châu tử giống với quán lễ của Thái tử nước quân, khi gia quan phải đứng ở bậc thềm phía đông trước đại đường, sau đó đứng ở khách vị rót rượu cho người ở vị trí thấp kém, để biểu thị hắn đã thay cha trở thành quốc quân. Chi bố quan, bì biện, tước biện, ba lần gia quan, lần sau tôn quý hơn lần trước, là để khích lệ hắn có chỗ thành tựu, từ nay về sau liền có thể lấy thân phận người đã đội mũ để chấp chưởng triều chính.”

Trước là người nước Châu nghe đến gật đầu không thôi, sau đó đám người Tông Bá thự cũng tâm phục khẩu phục đối với Khổng Khâu, trong việc chơi lễ, ông thật sự không chê vào đâu được.

Khổng Tử sau đó còn phát biểu luận bàn: “Ngay cả trưởng tử của Thiên tử, trong nội hàm của quán lễ cũng không có gì khác biệt với thứ dân quốc nhân. Bởi vì thiên hạ không có người sinh ra đã cao quý. Mà là do hậu thiên hun đúc mới dần dần tôn quý. Cho nên quán lễ nhất định phải tổ chức ở trong tổ miếu, dùng nghi lễ lõa hưởng để tiến hành, dùng tiếng chuông khánh để chế tiết, như vậy có thể khiến người được gia quan cảm nhận được sự thấp kém của mình. Để biểu thị bản thân không dám tùy tiện vượt quá lễ chế của tổ tiên!”

Câu cuối cùng ông cắn chữ cực nặng, lễ nhạc băng hoại, đây chính là những điều Khổng Khâu nhìn thấy và nghe thấy sau mấy tháng làm Tứ Sư, quyết định chỉnh sửa bù đắp!

Đại phu sính vấn của Châu Quốc cực kỳ hài lòng, hứa hẹn nhất định sẽ dựa theo lễ nghi Khổng Khâu truyền dạy để làm lễ gia quan cho quốc quân. Còn mời Khổng Tử đích thân tới Châu Quốc thay mặt chủ trì điển lễ.

Khổng Tử lấy cớ có công vụ trong người mà từ chối, nhưng vẫn phái Nhan Hồi, Mẫn Tử Khiên là hai đệ tửThiện trường lễ nghi đi Châu Quốc hỗ trợ. Tử Lộ từ chức Tư mã ở Dương Quan trở về thuật chức, cũng bị Lỗ hầu phái đi hộ tống sứ giả nước Châu về nước, chuyến đi này lại lập được tiếng tăm tốt về "không nuốt lời" ở Châu Quốc, Khổng môn lần này xem như đã thành công đưa phạm vi ảnh hưởng ra khỏi biên giới quốc gia.

Việc này đủ để quý tộc Lỗ quốc đàn quan tương khánh, người Lỗ một mặt coi thường đám "người Di" dùng lễ Di này, mặt khác lại hy vọng Chu lễ mình thông thạo có thể cảm hóa họ. Trước kia hiệu quả không lớn, ví dụ như lúc Châu Trang Công chết công khai dùng lễ Di, còn dùng người tuẫn táng, nhưng lần này vị Châu tử mới kế vị dường như rất có hứng thú với Chu lễ. Đây đúng là tin vui.

Ngoài ra, Lỗ quốc vừa mới từ nội loạn mà hồi phục lại, Dương Hổ vẫn chiếm giữ Quán Thành cố thủ, Đạo Chích quậy phá ở phía nam Đại Dã Trạch, cho nên Tam Hoàn thực sự không muốn lại gây thù với Châu Quốc. Dù sao đối phương cũng có sáu trăm cỗ vũ trang, thỏ bị dồn vào đường cùng còn cắn người, chi bằng trước hết cứ hư hư thực thực với nó đã.

Lần triều sính này của Châu Quốc, Khổng Tử đã hoằng dương danh tiếng của Lỗ quốc là nước của Chu Công, làm vẻ vang cho Lỗ hầu, cho nên nhận được ban thưởng của quốc quân. Ông được thăng làm Tiểu Tông Bá. Trong Tam Hoàn, đặc biệt là Quý thị, vì đang trong tuần trăng mật với Khổng môn nên không có dị nghị gì, chỉ bác bỏ ý định của Lỗ hầu muốn ban cho Khổng Khâu tước Trung đại phu.

---❊ ❖ ❊---

Tiểu Tông Bá của Lỗ quốc thường thiết lập ba người. Một người ở phía nam núi Thái Sơn, một người ở công lăng Hám Thành, còn một người ở Lỗ Thành, làm phó thủ cho Đại Tông Bá. Trong nước có đại lễ thì phò tá Đại Tông Bá, tiểu lễ thì là quan chuyên chưởng lễ nghi, quản lý việc lập thần vị tế tự của vương quốc; quản lý các lệnh cấm liên quan đến ngũ lễ. Cũng như đẳng cấp của vật tế và lễ khí sử dụng, quyền lực so với Tứ Sư lại lớn hơn vài phần, địa vị đã gần với chức Tiểu Tư Khấu của Triệu Vô Tuất.

Thế là sự nghiệp của Khổng Khâu bắt đầu dần dần khởi sắc, dựa theo tin tức Triệu Vô Tuất nhận được từ mật thư của Phong Lẫm, sau sự kiện Châu Quốc triều sính, vị Đại Tông Bá xuất thân công tộc mà chỉ biết ăn hại kia bắt đầu việc gì cũng dựa dẫm vào Khổng Khâu.

Dưới Tiểu Tông Bá có nhiều thuộc lại, trong đó có tám Thượng sĩ, mười sáu Trung sĩ cùng lữ hạ sĩ, phủ, sử, tư, đồ... các nhân viên. Mẫn Tử Khiên và Nhiễm Ung, Nhiễm Canh... cũng vì đi sứ Châu Quốc có công, được Liễu Hạ Quý khi đó đang ở dã dâng sớ tiến cử, cũng tiến vào Tông Bá thự, làm thuộc lại cấp cơ sở.

Sau khi có đệ tử phụ tá, Khổng Khâu như hổ thêm cánh, dưới sự ủng hộ ngầm của Lỗ hầu, lá gan của ông cũng càng ngày càng lớn. Lễ nghi không hợp quy cách, tiếm việt của rất nhiều nhà khanh đại phu Lỗ quốc đều bị chỉnh sửa, dần dần chĩa mũi nhọn vào Tam Hoàn!

Ví dụ như đầu hạ, Mạnh thị tế tự tổ tiên Công Tôn Ngao tại tông miếu, sau khi tế xong rút tế phẩm, liền lệnh cho nhạc công hát bài thơ "Ung".

“Có lai ung ung, chí chỉ túc túc. Tương duy tịch công, thiên tử mục mục. Vu tiến quảng mẫu, tương dư tứ tự!”

Sau khi tiếng nhạc bị Khổng Tử đến xem lễ nghe thấy, liền lập tức bước nhanh lên đường thượng xua đuổi đám nhạc quan, nghi thức chấm dứt, khi bị Công Liễm Dương giận dữ chất vấn, Khổng Tử nói: “Hai câu trong bài thơ 'Ung' này, 'Tương duy tịch công, thiên tử mục mục', lời lẽ như vậy, ngay cả chư hầu cũng không thể sử dụng, sao có thể dùng trong miếu đường của nhà khanh?”

Ông còn phê bình Mạnh Tôn Hà Kỵ và Nam Cung Duyệt từng làm đệ tử của mình là không biết lễ, phụ lòng mong đợi của cha họ là Mạnh Hy Tử. Đối mặt với Tiểu Tông Bá Khổng Tử có lý có cứ, gia chúc của Mạnh thị bị bẻ bẻ không còn lời nào để phản bác, chính Mạnh Tôn Hà Kỵ cũng không còn gì để nói, dưới sự hòa giải của Tử Phục Hà, Mạnh thị cúi đầu nhận sai, hủy bỏ những hành vi mất lễ tiếm việt này.

Quý thị hả hê, trong chuyện này ủng hộ Khổng Khâu hết mình, thế là trong Tam Hoàn những hành vi tiếm việt như "Bát dật múa ở sân" bỗng chốc ít đi rất nhiều, uy vọng của Lỗ hầu sau một lần lại một lần lễ nghị mà được nâng cao.

Nhưng Quý thị vạn vạn không ngờ tới, Khổng Khâu, vị Tiểu Tông Bá này, lại là đối sự không đối nhân, lần tới muốn nhắm vào, chính là Quý thị của hắn!

Lần này, ngay lúc Quý Tôn Tư không muốn tăng thêm quyền thế của Triệu Vô Tuất ở tây bỉ Lỗ quốc, với hắn ở thế đối đầu ngầm, thì tâm phúc của hắn lại bị một bức sớ của Khổng Tử đâm trúng chỗ đau, nhất thời luống cuống tay chân.

[Dịch từ bản hv] ChuongId:351
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.