Tôi chạy về phía ngôi nhà để trú mưa.
Tôi tìm cả trong phòng khách lẫn phòng bếp mà không thấy chút whisky hay vodka nào, trong ngọn hải đăng đáng nguyền rủa này không có lấy một giọt rượu. Tôi tìm thấy một bình pha cà phê Moka kiểu Ý cũ mèm và chút ít cà phê xay trong một ngăn tủ tường. Tôi hứng nước để đun sôi, trút chỗ bột cà phê vào một cái phin rồi pha cho mình một tách lớn thứ đồ uống mà tôi hy vọng sẽ tiếp thêm cho mình sinh lực. Vài phút sau, một mùi thơm dễ chịu tràn ngập căn phòng. Tách cà phê đậm đặc đắng ngắt không bọt nhưng lại giúp tôi hoàn hồn. Tôi vẫn đứng trong bếp, đằng sau quầy bằng gỗ bạch diên. Suốt hơn một giờ đồng hồ sau đó, trong khi mưa đã nặng hạt hơn, tôi chăm chú xem toàn bộ những tài liệu pháp lý mà bố tôi để lại. Những bản photo chứng từ mua bán khác nhau cho phép lập lại lịch sử của khối kiến trúc này.
Ngọn hải đăng được xây dựng năm 1852. Ban đầu nó là ngôi nhà nhỏ bằng đá bên trên bố trí nóc vòm nhỏ trong có đặt một lồng đèn gồm khoảng chục chiếc đèn dầu và chẳng bao lâu sau được thay thế bằng một thấu kính Fresnel. Cuối thế kỷ 19, công trình bị một vụ sụt lở và một vụ hỏa hoạn tàn phá. Khối kiến trúc hiện tại - tòa tháp gỗ cùng ngôi nhà sát cạnh - được xây dựng năm 1899, rồi mười năm sau, ngọn hải đăng được trang bị ngọn đèn chạy dầu hiện đại hơn. Năm 1925, ngọn hải đăng được điện khí hóa.
Năm 1947, chính phủ Mỹ nhận định rằng ngọn hải đăng không còn giữ vị trí chiến lược nữa nên đã bán tống bán tháo nó trong một phiên bán đấu giá cùng nhiều công trình quân sự cũ khác.
Theo những tài liệu đang bày trước mắt tôi, người chủ đầu tiên của ngọn hải đăng tên là Marko Horowitz, sinh năm 1906 tại Brooklyn, mất năm 1949. Bà vợ góa của ông tên Martha, sinh năm 1920, chính là người đã bán ngọn hải đăng cho ông nội tôi, Sullivan Costello, vào năm 1954.
Tôi nhẩm tính: lúc này bà Martha ấy đã bảy mươi mốt tuổi. Rất có khả năng bà ấy vẫn còn sống. Tôi cầm cây bút đang lăn lóc trên quầy lên rồi gạch chân địa chỉ thời đó bà cung cấp: 26 Preston Drive tại Tallahassee, bang Florida. Tôi nhấc điện thoại gắn trên tường lên và gọi tổng đài. Không còn ai tên Martha Horowitz ở Tallahassee, nhưng nữ tổng đài viên tìm thấy một phụ nữ tên Abigael Horowitz sống trong cùng thành phố. Tôi xin được kết nối với số điện thoại của người này.
Abigael nhấc máy. Tôi tự giới thiệu rồi trình bày mục đích cuộc gọi của mình. Abigael nói mình là con gái của Marko và Martha Horowitz. Mẹ chị vẫn còn sống, nhưng kể từ năm 1954, bà đã kịp tái hôn hai lần. Lúc này bà đang mang họ người chồng hiện thời và sống tại California. Khi tôi hỏi Abigael liệu chị còn nhớ 24 Winds Lighthouse không, câu trả lời của chị vọt ra tức thì:
- Dĩ nhiên, tôi đã mười hai tuổi khi bố tôi mất tích!
Mất tích ư… Tôi nhướn mày đọc lại tài liệu.
- Theo chứng từ mua bán mà tôi đang đọc, bố chị đã qua đời năm 1949 phải không?
- Bố tôi được tuyên bố là đã chết vào năm đó, nhưng ông mất tích trước đấy hai năm.
- Mất tích thế nào vậy?
- Hồi đó là cuối năm 1947, ba tháng sau khi mua ngọn hải đăng và ngôi nhà nhỏ kế bên. Bố mẹ tôi rất mê vùng đó và có ý định biến ngọn hải đăng thành nơi nghỉ dưỡng. Thời ấy, chúng tôi vẫn sống tại Albany. Một sáng thứ Bảy, bố tôi nhận được cuộc điện thoại từ cảnh sát trưởng quận Barnstable báo ông biết là đêm trước một cây lớn trong khu đất đó bị sét quật đổ xuống đường dây điện. Theo cảnh sát trưởng thì cơn dông cũng làm hư hỏng phần mái nhà bằng đá bảng. Bố tôi liền lái xe tới 24 Winds Lighthouse để xem xét mức độ thiệt hại. Ông không bao giờ từ đó trở về nữa.
- Ý chị là sao?
- Hai ngày sau, người ta tìm thấy chiếc Oldsmobile của ông đỗ trước nhà, nhưng không thấy bất cứ dấu vết nào của bố tôi. Cảnh sát lùng sục khắp ngọn hải đăng và vùng lân cận nhưng tuyệt nhiên không tìm ra manh mối nào có thể giải thích việc ông mất tích. Mẹ tôi vẫn giữ hy vọng và chờ đợi. Hàng ngày, hàng tuần trời, hàng tháng ròng… Cho tới đầu năm 1949 khi một thẩm phán tuyên bố bố tôi chính thức qua đời để có thể tiến hành việc chia tài sản thừa kế.
Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Chưa bao giờ tôi nghe nhắc đến chuyện này!
- Mẹ chị đã đợi năm năm trước khi nhượng lại ngọn hải đăng sao?
- Mẹ tôi không muốn nghe nhắc đến ngôi nhà đó nữa. Bà không mảy may quan tâm đến nó cho tới thời điểm đột nhiên cần tiền. Thế là bà giao trách nhiệm cho một hãng bất động sản tại New York, yêu cầu bên đó tuyệt đối không được chào bán cho những người trong vùng, tất cả bọn họ đều đã nghe phong thanh về vụ mất tích của bố tôi và phần đông đều kết luận rằng ngọn hải đăng mang lại bất hạnh…
- Và kể từ đó, chị không bao giờ nhận được tin tức gì từ bố mình nữa?
- Không bao giờ nữa, người phụ nữ khẳng định.
Trước khi nói chữa lại:
- Chỉ trừ một lần.
Tôi giữ im lặng để chị rộng đường nói tiếp.
- Hồi tháng Chín năm 1954 đã xảy ra một vụ tai nạn thảm khốc tại New York giữa tàu từ ga Richmond Hill và ga Jamaica. Đó là một cuộc thảm sát thực sự: đúng giờ cao điểm, một đoàn tàu đông nghịt hành khách đang lao hết tốc lực đã đâm thẳng vào một đoàn tàu khác vừa vào ga. Vụ tai nạn đó khiến chín mươi người thiệt mạng và gần bốn trăm người bị thương. Đó là một trong những thảm họa đường sắt kinh khủng nhất mọi thời đại…
- Tôi từng nghe nói đến vụ đó, nhưng có liên quan gì tới bố chị?
- Một đồng nghiệp của bố tôi có mặt trên một trong hai đoàn tàu đó. Ông ấy bị thương nhưng vẫn sống sót. Sau thảm kịch, ông ấy tới thăm mẹ tôi nhiều lần và khẳng định rằng bố tôi xuất hiện trong cùng toa tàu với ông và bố tôi đã tử nạn.
Trong khi người phụ nữ kể, tôi ghi chép lại thật nhanh. Nếu so với chuyện đã xảy ra với ông nội tôi thì có thể thấy những chi tiết giống nhau đến rùng mình.
- Dĩ nhiên, người ta chưa bao giờ tìm ra xác của bố tôi trên đoàn tàu đó, nhưng hồi đó tôi mới ở tuổi thiếu niên và những lời người đàn ông kia nói khiến tôi bối rối hết sức. Ông ấy tin chắc như đinh đóng cột vào câu chuyện mình kể.
Đợi Abigael kể xong chuyện, tôi cảm ơn vì những thông tin chị đã cung cấp.
Gác máy rồi, tôi nghĩ đến bố chị và ông nội tôi: hai người đàn ông đã bị ngọn hải đăng nuốt chửng, bị tấn công cách nhau vài năm bởi lời nguyền bao trùm chốn này.
Cái chốn mà kể từ giờ trở đi tôi là chủ nhân duy nhất.