Hành trình từ Boston tới mạn Đông Cap Cod mất chưa đầy một tiếng rưỡi. Đó là buổi sáng cuối xuân đẹp trời. Bầu trời trong vắt và sáng rỡ, mặt trời rọi loang loáng trên kính chắn gió, rắc ra những hạt li ti vàng rực phấp phới trên bảng điều khiển. Trung thành với những thói quen, bố tôi không buồn nói chuyện, nhưng bầu không khí im lặng không đến nỗi nặng nề. Mỗi dịp cuối tuần, ông thích vừa lái chiếc xe bán tải hiệu Chevrolet vừa nghe mãi những cuộn băng cát sét quay vòng trong đài gắn trên xe: một tuyển tập những ca khúc hay nhất của Sinatra, một bản hòa nhạc của Dean Martin và một album nhạc đồng quê u ám được nhóm Everly Brothers thu âm ở giai đoạn cuối trong sự nghiệp. Dán trên kính sau là tấm đề can ủng hộ chiến dịch ứng cử của Ted Kennedy vào Thượng viện năm 1970. Thi thoảng bố tôi thích sắm vai nông dân quê mùa, nhưng ông là một trong những bác sĩ phẫu thuật lừng danh nhất Boston, và nhất là, ông nắm giữ cổ phần của một doanh nghiệp trị giá nhiều chục triệu đô. Trong công việc làm ăn, tất cả những ai để bản thân bị vẻ quê kệch của ông phỉnh phờ phải trả giá.
Chúng tôi đã qua cầu Segamore, đi tiếp chừng bốn mươi cây số nữa trước khi dừng chân tại quán Sam’s Seafood để mua bánh kẹp xa lát tôm hùm, khoai tây chiên và một lốc bia vàng.
Quá ngọ, chiếc xe bán tải tiến vào lối đi rải sỏi dẫn tới mũi Bắc của vịnh Winchester.
Chốn này hoang vu, bao quanh là đại dương cùng những mỏm đá, và hầu như thường xuyên có gió dập vùi. Chính tại đây, trên một thửa đất biệt lập được khoanh lại bởi các vách đá, mọc lên 24 Winds Lighthouse: ngọn hải đăng 24 Ngọn Gió.
Tháp đèn hiệu cũ kỹ là một công trình hình bát giác hoàn toàn bằng gỗ cao ước chừng mươi mười hai mét ở đỉnh cao nhất. Nó mọc cạnh một ngôi nhà ốp ván gỗ sơn trắng với phần mái nhọn bằng đá bảng. Những ngày đẹp trời, đó là chốn nghỉ ngơi dễ chịu, nhưng chỉ cần trời giăng mây hoặc màn đêm buông xuống là cảnh vật như trong bưu thiếp này nhường chỗ cho một bức tranh ảm đạm và mộng mị đậm phong cách Albert Pinkham Ryder. Ngọn hải đăng đã thuộc sở hữu gia đình được ba thế hệ. Ông nội tôi, Sullivan Costello đã mua nó vào năm 1954 từ bà vợ góa của một kỹ sư hàng không, ông này đã tậu ngọn hải đăng trong một cuộc đấu giá do chính phủ Mỹ tiến hành năm 1947.
Năm đó, vì thâm hụt ngân sách, chính phủ liên bang đã thanh lý hàng trăm vị trí không còn mang tầm quan trọng chiến lược đối với đất nước. 24 Winds Lighthouse nằm trong số đó, nó trở nên lỗi thời sau khi một ngọn hải đăng hiện đại hơn được xây dựng trên đồi Langford, xa hơn về phía Nam mười lăm cây số.
Hết sức hãnh diện về món đồ tậu được, ông nội tôi đã tiến hành cải tạo ngọn hải đăng và ngôi nhà gỗ để biến chúng thành nơi nghỉ dưỡng tiện nghi. Chính trong quãng thời gian tiến hành cải tạo, ông đã mất tích bí ẩn hồi đầu thu 1954.
Người ta tìm thấy ô tô của ông đậu trước nhà. Chiếc Chevrolet Bel Air tháo mui được của ông đang gập mui, chìa khóa xe đặt trên bảng điều khiển. Vào giờ nghỉ trưa, Sullivan có thói quen ngồi trên các mỏm đá để dùng bữa qua loa. Người ta nhanh chóng kết luận ông gặp tai nạn đuối nước. Ngay cả khi những đợt thủy triều không bao giờ xô dạt xác ông vào bờ, ông nội tôi vẫn được tuyên bố là đã chết, đuối nước trên bờ biển Maine.
Tuy không biết mặt nhưng tôi vẫn thường nghe những người từng quen biết ông nội mô tả về ông như một nhân vật hết sức độc đáo. Tên đệm của tôi được đặt theo tên rửa tội của ông, và vì anh cả tôi không muốn nên cũng chính tôi là người đeo chiếc đồng hồ của ông, một chiếc Tank Louis Cartier mẫu đầu những năm 1950, với hộp số hình chữ nhật và kim bằng thép xanh.