Làn nước xối xuống từ vòi sen khiến tôi cảm thấy dễ chịu. Tôi đã không tắm táp gì từ ba ngày nay. Hay chậm chí có lẽ là từ ba năm nay. Thực ra tôi không còn chút khái niệm nào về thời gian nữa. Càng tìm cách hiểu điều không thể hiểu nổi, đầu óc tôi càng quay cuồng trống rỗng, không thể đưa ra chút suy luận logic nào, dù là sơ đẳng nhất.
Nửa giờ sau, khi gặp lại ông nội trong bếp, tôi đã mày râu nhẵn nhụi, mặc chiếc áo sơ mi thể thao và bộ com lê veston vải tweet Donegal rồi xịt một lượt nước hoa Cologne đắt tiền thoang thoảng mùi chanh cùng oải hương.
- Cậu bốc mùi quá đấy, ông Sullivan chọc ghẹo rồi rót cho tôi một tách cà phê nghi ngút khói.
Ông cũng đã chuẩn bị cho tôi bánh kếp tưới xi rô vị cây thích và ly cam ép. Dù tôi đang căng thẳng lo lắng, cơn đói vẫn cào cấu ruột gan tôi, như thể cả tuần này tôi không được miếng nào vào bụng. Tôi lao tới đĩa bánh và ngốn ngấu nuốt chửng ba cái một.
- Ta biết cái cảm giác ngấu nghiến ngon miệng đang xâm chiếm cậu sau mỗi lần thức dậy này, nhưng cứ ăn chậm thôi kẻo đau dạ dày đấy, ông nhắc nhở như thể tôi mới lên sáu.
Hệt như một cậu thiếu niên bất trị, tôi nuốt gọn tách cà phê chỉ bằng hai ngụm. Bụng đã no bứ rồi, tôi mới yêu cầu ông Sullivan giải thích.
Ông gật đầu, ngồi thẳng lại trên chiếc ghế tựa rồi hít một hơi dài.
- Để hiểu được chuyện đang xảy ra với cậu, cần phải ngược dòng thời gian hơn ba mươi năm về trước, nghĩa là năm 1954. Thời điểm đó, việc làm ăn của ta đang hết sức phát đạt. Hãng quảng cáo do ta sáng lập từ sáu năm trước đang phát triển cực thịnh. Hãng chúng ta thuộc dạng thời thượng và khách hàng từ bốn phương đổ về. Ta sắp bước sang tuổi ba mươi hai. Ta làm việc mười sáu tiếng mỗi ngày và nhìn bề ngoài thì ta có tất cả những gì một gã đàn ông vẫn hằng mong ước: người vợ tận tuỵ, một đứa con, ngôi nhà khang trang, dàn xe hơi… Ta có mọi thứ, ngoại trừ điều cốt yếu. Sự thật là ta thấy cuộc sống thật buồn chán. Ta thiếu ai đó để chia sẻ thành công này. Một tâm hồn đồng điệu, một đồng đảng, một bạn đường…
Vẻ hơi bồn chồn, ông rời khỏi ghế, tiến về phía chiếc bếp gang to ụ để tự rót thêm cho mình một tách cà phê.
- Năm đó, ta đang trải qua một giai đoạn khó khăn, ông đứng tựa vào gờ bếp thổ lộ. Ta bắt đầu ý thức được rằng mình đã bỏ lỡ một nhánh cốt yếu trong đời: ta đã không hiểu được việc sinh con đẻ cái cùng một người phụ nữ mà ta thực sự yêu quan trọng đến thế nào. Ta đã dần trở nên đơn độc, tìm mọi cơ hội khả dĩ để chạy trốn khỏi gia đình mình. Trong tuần, ta tìm thấy chỗ lánh mình tại đây, trong ngôi nhà này, còn các dịp cuối tuần ta dành để sửa sang một ngôi nhà cũ mà ta vừa tậu được với giá rẻ bèo, 24 Winds Lighthouse, ngọn hải đẳng 24 Ngọn Gió.
Ông uống một ngụm lớn cà phê trước khi kể tiếp bằng giọng trang nghiêm:
- Cuộc đời ta đã đảo lộn trong đêm 18 tháng Chín năm 1954. Lúc đó là gần 22 giờ. Ta đã làm việc cả ngày để bịt nhiều chỗ rò rỉ trong tháp hải đăng. Ta mệt rã người nên đã quyết định đi ngủ sớm. Bên ngoài, trận cuồng phong thổi ù ù. Như thường lệ mỗi khi thời tiết xấu, đường điện thoại lại ngừng hoạt động. Cầm chai bia trên tay, ta vừa chén sandwich vừa lắng nghe buổi tường thuật trận bóng chày trên sóng phát thanh. Bỗng nhiên chương trình thể thao bị gián đoạn bởi một mẩu tin vắn thông báo vụ tai nạn đường sắt thảm khốc vừa xảy ra tại New York. Ta vặn tiếng radio to lên, điều này lí giải tại sao ta không lập tức nghe thấy những âm thanh phát ra từ căn hầm. Trong khi chắc mẩm đang ở một mình, ta bỗng trông thấy một người đàn ông máu me bê bết bất thần xuất hiện giữa phòng khách rồi gục xuống.
Nghe nhắc tới vụ tai nạn tàu lửa, tôi liên hệ ngay tức khắc.
- Người đàn ông đó chính là Horowitz, chủ nhân đầu tiên của ngọn hải đăng phải không?
Ông nhìn tôi và tôi đọc thấy trong mắt ông ánh kinh ngạc lẫn vì nể.
- Có thể thấy là cậu khá tinh ranh đấy. Cậu nói đúng, đó là Horowitz. Ta từng thấy gương mặt ông ta xuất hiện trên nhiều tấm ảnh thuộc hồ sư lưu trữ mà luật sư của bà vợ goá đã giao lại. Ông ta đã già đi, nhưng ta vẫn nhận ra ngay. Ta đã cúi xuống nhìn ông ta. Người đàn ông đáng thương đó mang nhiều thương tích: những vết thương hở hoác ở bụng và ngực, như thể ông ta vừa băng qua một bãi chiến trường. Cả hai người chúng ta lúc bấy giờ đều biết ông ta sắp chết. Ông ta bám víu vào ta rồi ghé tai ta thì thào: “Cái cửa. ĐỪNG BAO GIỜ mở cách cửa đó ra.”
Vẻ mặt nghiêm trọng, Sullivan quay trở lại bên chiếc bàn gỗ sồi mộc rồi ngồi xuống đối diện tôi.
- Quá choáng váng, ta vẫn ngồi quỳ gối bên Horowitz hồi lâu sau khi ông tâ trút hơi thở cuối cùng. Ta như tê liệt, không thể tìm ra chút liên kết nào trong chuyện vừa xảy ra. Vì đường điện thoại đã bị cắt, quyết định hợp lý nhất là lái xe tới đồn cảnh sát Barnstable để kể lại câu chuyện của ta, thế nhưng…
- Thế nhưng ông đã không làm vậy.
- Không, bởi có điều gì đó không ăn khớp. Chỉ có một cách duy nhất để lọt vào ngọn hải đăng và ngôi nhà: qua lối cửa ra vào. Tự tay ta đã khoá cửa hai vòng ngay từ đầu tối và cánh cửa vẫn nguyên vẹn không suy suyển. Còn các cửa số cũng đều đang bịt kín. Vậy thì Horowitz từ đâu chui ra? Để trả lời câu hỏi đó, ta đã lần theo các vết máu về phía căn hầm. Chúng dẫn ta tới tận cánh cửa kim loại trứ danh kia. Tôi hôm đó, ta đang mệt mỏi nên đã quyết định không mạo hiểm. Vậy nên ta bằng lòng với việc lau sạch các vết máu…
Tôi ngắt lời ông.
- Tại sao ông không đi báo cảnh sát?
- Bởi vì ta thừa biết cảnh sát là thế nào, cậu nên nhớ điều đó! Nói cho cùng thì là cảnh sát thời đó. Kịch bản đã được viết sẵn: họ sẽ buộc ta tội giết Horowitz.
- Không tránh khỏi việc ấy. Nhưng ít nhất sẽ có một cuộc điều tra.
- Nhưng cuộc điều tra nào chứ? Câu chuyện này chính là Bí ẩn của căn phòng màu vàng (*): xác chết xuất hiện trong một ngôi nhà mà tất cả các lối vào đều đã được khoá trái từ bên trong. Và mọi chuyện còn tệ hơn nữa vì ta từng có tiền án tiền sự: một án phạt mới toe vì gian lận thuế và một án nữa, cũ hơn, sau vụ ẩu đả trong quán bar hồi ta mười tám tuổi.
(*): Tên cuốn tiểu thuyết trinh thám của Gaston Leroux, xuất bản năm 1907.
- Vậy ông đã làm gì?
Ông ngừng một lát rồi bẻ ngón tay kêu răng rắc.
- Chính thức ra thì Horowitz đã chết từ nhiều năm trước. Ta chờ cho cơn bão lặng rồi quyết định chôn cái xác phía cuối khu đất.