Tôi đưa cẳng tay lên gạt mồ hôi đang nhỏ giọt trên mặt. Xung quanh tôi là những mâm bếp, một bồn rửa khổng lồ chia thành sáu khoang, một bàn chế biến, một chiếc chảo rán to đùng ngã ngửa, những chiếc nồi trăm lít, một dãy lò nướng điện, một lò quay thịt, một băng tải. Kê sát tường là mấy chiếc tủ inox; trên trần là hệ thống hút mùi khổng lồ.
Rõ ràng là tôi đang ở trong một căn bếp trung tâm. Một dạng bếp ăn tập thể giống như căn bếp ta thường thấy trong các căng tin của trường học, nhà máy hay xí nghiệp.
Khỉ thật, mình làm cái quái gì ở đây thế này?
Một chiếc đồng hồ báo thức cũ kỹ chất liệu nhựa tổng hợp bày trên giá cho biết lúc này đang là 1 giờ chiều.
Tôi lê bước tới tận khung cửa sổ gần nhất, mở toang nó ra để chút không khí trong lành lọt vào bên trong rồi nhìn ngó cảnh vật. Có một điều chắc chắn: lần này tôi không còn ở Manhattan nữa. Nhìn đến hút tầm mắt, tôi cũng chỉ thấy lán hàng, nhà kho, ống khói của các nhà máy. Tôi đang lọt vào giữa một khu công nghiệp và bao quanh ở phía xa xa là xa lộ và một dòng chảy. Tôi mở khung cửa sổ thứ hai trên bức tường đối diện. Rốt cuộc tôi cũng nhìn thấy dãy cao ốc chọc trời của Manhattan. Khi nheo mắt lại, tôi còn lờ mờ đoán được bóng dáng của tòa Empire State, chóp tháp của tòa Chrysler, khối kiến trúc kim loại của cầu Queensboro.
Tôi ngẫm nghĩ một hồi. Giờ thì tôi nghĩ đã biết mình đang ở đâu rồi: phía Nam khu Bronx. Chắc chắn là trên bán đảo Hunts Point, nơi tập trung tất cả các khu chợ đầu mối của New York: trái cây, rau củ, thịt cá.
Tôi quay ngoắt lại rồi tiến về phía lối ra duy nhất của căn phòng: một cánh cửa bằng thép mạ kẽm chống cháy đang... chốt ngoài.
- Ê này! Có ai không?
Không lời đáp.
Tôi tìm một bình cứu hỏa để xô bật cánh cửa kia nhưng không thấy.
“Pull in case of fire”
Lời chỉ dẫn in trên thiết bị báo cháy khiến tôi nảy ra một ý. Tôi gạt cần điều khiển bằng tay xuống nhưng không thấy có động tĩnh gì: không thấy đèn sáng cũng chẳng thấy còi hụ.
Bực quá, tôi quay ra phía cửa sổ. Tôi đang ở cách mặt đất chừng hai chục mét. Chẳng thể hy vọng thoát ra bằng lối đó mà không gãy cổ.
Bất chấp luồng gió bên ngoài thốc vào, hơi nóng như trong lò lửa vẫn dai dẳng trong căn phòng, trong khi bên ngoài thứ không khí ô nhiễm đang cuốn theo mùi phân hóa học hăng hắc. Phía Tây sông Bronx, những khu đất quây rào cùng bến bốc hàng trải dài hàng cây số. Vài chiếc xe công ten nơ và rơ moóc đến rồi đi quanh tuyến đường nhánh xa lộ, nhưng khu vực này không mấy nhộn nhịp.
Xung quanh chỗ tôi đang đứng chỉ có những bãi đỗ xe vắng ngơ vắng ngắt và những khung cửa sổ của các tòa nhà trống. Tôi dám cá rằng lúc này đang là cuối tuần.
Số đen vãi...
- Ê này! Ê này! tôi hét đến váng óc.
Nhọc công vô ích. Dần dà tôi hiểu ra rằng từ chỗ mình đang đứng, chẳng ai có thể nghe thấy hay nhìn thấy mình đâu.
Tôi thơ thẩn quanh phòng hòng tìm kiếm một ý tưởng. Trên tường có treo một tờ lịch áo tắm. Mặc độc bộ áo tắm xẻ thân, cô gái tháng Tám năm 1966 là một mỹ nhân tóc nâu gợi tình với cặp vú nhòn nhọn. Cô nàng ngồi chống khuỷu tay bên một quầy bar gần bờ biển và đang nhấm nháp ly cocktail đựng trong trái dứa khoét rỗng.
Tôi không chờ đợi lâu la gì mà tính nhẩm ngay. Nếu lúc này đang là giữa mùa hè thì lần này tôi đã thực hiện một cú nhảy hơn chín tháng.
Tôi tiến hành kiểm kê nhanh những đồ đạc khác trong phòng: những tầng giá đựng khay ăn, mấy chiếc xe đẩy chở đồ ăn, một chiếc tủ lớn bằng inox – giống chiếc tủ nhiều ngăn ở quầy gửi đồ - được bảo vệ bằng ổ khóa số.
Trong giờ đồng hồ tiếp theo, tôi cố tìm cách thoát khỏi nhà tù này. Tôi dỡ lớp trần giả, tháo những mối nối của ống thoát nước, dò đường ống thông gió của hệ thống đổ rác, tôi cố phá bung cánh cửa kim loại kia bằng một cái muôi thủng và đồ gắp mì spaghetti.
Không thành công.
Càng ra sức xoay xở, cổ họng tôi càng khô khốc. Tôi lục được trong tủ lạnh một lon soda khốn kiếp uống dở thơm mùi kẹo cao su và một phần bánh phô mai trông rất đáng ngờ. Tôi hít ngửi vẻ nghi hoặc nhưng bụng đã đói ngấu nên tôi chẳng được quyền kén cá chọn canh nữa.
Trong góc phòng có treo một chiếc ti vi cũ. Tôi tìm thấy điều khiển từ xa để trên một chiếc bàn thu dọn chén đĩa lạnh tanh bèn bật ti vi lên. Những trích đoạn hình ảnh thể thao diễu trên màn hình: điền kinh, bơi lội và quần vợt. Tôi lơ đễnh nhận ra Carl Lewis, Michael Johnson và Andre Agassi. Tôi vừa xem đoạn cuối phóng sự vừa đánh chén phần bánh ngọt, rồi một bình luận viên xuất hiện, đeo tai nghe và cầm micro.
“Như vậy là phần điểm lại Thế vận hội mùa hè lần thứ hai mươi sáu đang diễn ra tại đây, Atlanta, từ 19 tháng Bảy đến ngày 4 tháng Tám của chúng tôi đã khép lại. Thế vận hội sẽ kết thúc bằng màn biểu dương với lễ bế mạc được tường thuật trực tiếp từ sân vận động Centennial Olympic vào tối nay trên kênh NBC...”
Lời nhắc đến ngày tháng khiến tôi giật mình. Vậy là tôi đang ở ngày 4 tháng Tám năm 1996.
Đúng sinh nhật tôi.
Sinh nhật lần thứ ba mươi của tôi.
Năm năm đã trôi qua kể từ buổi sáng tháng Sáu năm 1991 ấy. Buổi sáng khi bố tìm tới nhà tôi để trao cho tôi món thừa kế độc địa chính là ngọn hải đăng 24 Ngọn Gió.
Năm năm đã trôi qua trong năm ngày.
Tôi quan sát hình ảnh phản chiếu của mình trong chiếc gương bé tẹo treo phía trên bồn rửa phụ.
Đây là lần đầu tiên tôi soi mình trong gương kể từ thời điểm khởi đầu cơn ác mộng này. Tôi đã già đi đôi chút: gương mặt tôi lộ vẻ mỏi mệt, nước da mờ xỉn. Đồng tử dãn nở và bọng mắt đã hình thành, như thể ngày nào tôi cũng hội hè thâu đêm suốt sáng. Ngay lúc này, tôi còn chưa có nếp nhăn và gương mặt vẫn còn khá dễ coi, nhưng các đường nét trên đó đã rắn đanh lại và hốc hác đi nhiều. Mắt tôi u tối hơn, mái tóc đã mất đi ánh vàng rực. Điều gây ấn tượng mạnh nhất với tôi, đó là trên gương mặt tôi đã biệt tích tất cả những dấu vết của tuổi thiếu niên. Bay biến hết toàn bộ vẻ ngây ngô, bầu bĩnh, lém lỉnh...
Chúc mừng sinh nhật, Arthur…