Phiên xử vừa kết thúc thì tôi hiểu ra rằng Jeffrey có nhiệm vụ đưa tôi về Boston. Ông khẩn khoản đề tôi về cùng ông nhưng tôi muốn ở lại tự tung tự tác.
- Frank sẽ không hài lòng đâu, ông ca cẩm.
- Nếu có ai đó có thể đương đầu với ông ấy thì đó chính là ông, phải không ạ?
Ông đầu hàng và nhét vào túi áo tôi bốn tờ bạc mệnh giá năm mươi đô.
Cuối cùng cũng được tự do!
Tôi rồi khỏi tòa án rồi đi bộ qua nhiều khối nhà. Lúc này đã là 10 giờ sáng, nhưng không khí trong thành phố vẫn còn mát lành. Âm thanh rì rầm của thành phố nghe thật yên lòng. Dù suốt đêm qua không hề chợp mắt, nhưng tôi cảm thấy mình vừa trút bỏ được một gánh nặng thành ra thể lực cũng sung mãn hơn. Các khớp của tôi đã linh hoạt, tôi thở đều, cơn đau nửa đầu đã biến mất. Chỉ có cái bụng làm tôi thấy khó chịu vì cứ sôi ùng ục. Tôi dừng chân ở tiệm Dunkin’ Donuts, tự chiêu đãi mình một cốc cà phê lớn cùng chiếc bánh rán trước khi tiếp tục hành trình: đại lộ Công viên, đại lộ Madison, đại lộ 5. Lần gần đây nhất tôi đặt chân tới New York là để dự tiệc tiễn biệt đời trai của một trong các đồng nghiệp bác sĩ. Chặng dừng chân đầu tiên ở New York, rồi chuyển hướng sang Atlantic City. Tôi còn nhớ chúng tôi đã thuê một chiếc xe ở quầy của hãng Hertz đặt tại khách sạn nơi cả bọn ở, khách sạn Marriott Marquis, nơi nổi tiếng với quầy bar trên cao có thể xoay tròn và mang lại tầm nhìn ba trăm sáu mươi độ bao trọn Manhattan.
Khi tới quảng trường Thời đại, tôi vẫn có cảm giác lợm giọng như mọi lần. Nếu ban đêm, những thác đèn nê ông ngụy trang được vết lở loét đang phá hủy nó thì giữa ban ngày, khu phố không thể che giấu nổi độ nhớp nhúa của nó: những biển hiệu peep-show và những mặt tiền rạp chiếu phim khiêu dâm bị đám người vô gia cư chiếm dụng, những tên nghiện với bộ mặt như xác ướp cùng đám gái điếm mỏi mệt. Vài ba du khách lùng sục trong mấy tiệm bán đồ lưu niệm buồn tẻ. Một gã móm sều ngồi ăn xin, cổ đeo sợi dây mảnh buộc tấm biển đề “HIV dương tính”. Khu ổ chuột ngay tại ngã giao nhau của thế giới (*).
(*) Crossroads of the World là một trong những biệt danh của quảng trường Thời đại. (Chú thích của tác giả)
Tôi băng qua Broadway rồi tiến vào lối đi ngầm dẫn tới đại sảnh khách sạn. Tôi dễ dàng tìm ra quầy của hãng cho thuê xe. Nhân viên tra cứu trên máy tính và nhận thấy thông tin của tôi vẫn lưu trong dữ liệu của hãng. Để khỏi mất thời gian, tôi chấp nhận chiếc xe đầu tiên mà anh ta đề xuất: một chiếc Mazda Navajo hai cửa với đường nét vuông vức góc cạnh. Đến lúc thanh toán, tôi ngạc nhiên nhưng cũng nhẹ cả người khi thấy thẻ tín dụng của mình vẫn còn hoạt động. Tôi ngồi vào sau tay lái rồi rời Manhattan theo đường FDR Drive thẳng hướng Bắc.
Để tìm lại ký ức, tôi cần phải quay trở lại nơi xảy ra chấn thương tâm thần đầu tiên. Chính là nơi mọi chuyện đã bắt đầu: trong căn hầm của ngọn hải đăng 24 Ngọn Gió.
Suốt bốn tiếng hành trình đến tận Cape Cod, tôi dò đài phát thanh hết kênh này đến kênh khác, các kênh tin tức xen kẽ chương trình âm nhạc. Bốn tiếng học hỏi gấp háp để gỡ lại “khoảng vắng mặt” dài hơn một năm. Tôi ghi nhận mức độ được lòng dân của Bill Clinton, nhân vật mà một năm trước tôi còn chưa biết đến sự tồn tại; ghi nhận độ nổi tiếng của một nhóm rock alternatif mới, Nirvana, những bản ghi ta của nhóm tràn ngập sóng phát thanh. Tôi biết được rằng vào mùa xuân nhiều cuộc bạo loạn đã tàn phá Los Angeles sau khi bốn cảnh sát hành hung Rodney King được tha bổng. Dựa vào cách người dẫn chương trình giới thiệu bài hát Living On My Own, tôi hiểu ra rằng Freddie Mercury hẳn đã vừa qua đời. Trên một kênh phát thanh dành riêng cho điện ảnh, các thính giả bàn luận về những bộ phim mà tôi chưa từng nghe nói đến: Basic Instinct; The Commitments, My Own Private Idaho…