20 giờ
Trong buồng giam.
Vùi mặt vào giữa hai tay, tôi vừa day day thái dương bằng ngón cái vừa mơ đến ba viên aspirin và một đợt truyền chống viêm.
Sau khi tôi bị bắt, một chiếc xe cảnh sát chở tôi đến precinct 17, một pháo đài bằng gạch nâu nằm ở ngã tư phố Lexington giao với phố 52. Ngay khi tới đồn cảnh sát, tôi bị giam chung xà lim với đám người vô gia cư, những kẻ vô lại và mấy tên bán lẻ ma túy.
Nằm dưới tầng hầm của toàn nhà nên xà lim vô cùng ngột ngạt. Không có điều hòa nhiệt độ, không có lấy một khung cửa sổ, không có luồng gió nào thoảng qua. Vào mùa đông, hẳn người ta sẽ rét cóng trong này; còn mùa hè thì mồ hôi túa ra như đang xông hơi. Ngồi trên một băng ghế gắn cố định vào tường, tôi chờ đợi suốt ba giờ nay mà không ai buồn đến đưa quần áo cho. Thân trên để trần và chỉ mặc độc chiếc quần đùi chấm bi hồng, tôi đã phải chịu đựng đủ mọi thể loại giễu cợt từ đám “bạn” cùng buồng giam.
Khi nào thì cơn át mộng này mới kết thúc hả giời?
- Mày khoái trần truồng dạo phố lắm hả thằng pêđê kia?
Đã một giờ nay gã vô gia cư ngồi cạnh kia chòng ghẹo tôi. Gầy trơ xương như con chó ghẻ, đó là một kẻ thân tàn ma dại thực sự với khuôn mặt đỏ au phủ đầy vảy mốc. Rõ ràng là đang lên cơn thèm rượu, gã dành thời gian để lải nhải hàng tràng những lời tục tĩu và gãi bộ râu rậm màu vàng nhạt đến bật máu. Ở Boston, trong khoa cấp cứu nơi tôi làm việc, mỗi ngày người ta vẫn đưa đến cho chúng tôi nhiều bệnh nhân kiểu như gã: những con người bị cuộc sống và đường phố hủy hoại, những con người mong manh nhưng hung hãn, bị cắt đứt khỏi thực tại, mà chúng tôi tiếp nhận trong tình trạng hôn mê vì rượu, vì giảm thân nhiệt hoặc rối loạn tâm thần.
- Bộ dạng này càng tiện để thủ dâm chứ gì thằng gay?
Gã khiến tôi khó chịu nhưng đồng thời cũng làm tôi sợ. Tôi ngoảnh mặt ra chỗ khác để lờ gã đi; gã chợt đứng phắt dậy và túm lấy cánh tay tôi.
- Nói xem, bên trong quần lót mày có chút đỉnh rượu nhạt chứ? Chút đỉnh rượu nhạt trong cái vòi nước to tổ bố của mày ấy...
Tôi khẽ đẩy gã ra. Bất chấp nóng bức, gã vẫn ních chiếc măng tô len dày, cứng đanh vì cáu ghét. Khi gã lại ngồi xuống băng ghế, tôi nhìn thấy một tờ báo gập tư thò ra khỏi túi áo gã. Gã nghiện rượu nằm dài ra băng ghế, mặt quay vào tường. Trong khi gã lại bắt đầu lải nhải liên mồm tôi thó của gã tờ nhật báo rồi bồn chồn mở ra. Đó là tờ The New York Times, trên trang nhất có in dòng tít lớn:
Trong cuộc chạy đua tới ghế tổng thống, hội nghị đảng Dân chủ bầu ứng cử viên tổng thống đã xướng đích danh Bill Clinton. Một tiếng nói mới vì một nước Mỹ mới.
Dưới dòng tít này, một bức ảnh lớn chụp ứng cử viên đang huênh hoang trong vòng tay của vợ là Hillary và con gái Chelsea, một gia đình gắn kết. Tờ báo đề ngày 16 tháng Bảy năm 1992.
Tôi lại đưa tay ôm đầu lần nữa.
Không thể thế được…
Tôi đã đào xới trong tâm trí mà vô ích, chẳng thể làm gì được: ký ức cuối cùng tôi còn giữ là đầu tháng Sáu năm 1991. Tôi suy sụp hoàn toàn. Trong giây lát, một vực thẳm mở ra trong tôi và tim tôi đập rộn. Để trấn tĩnh lại, tôi cố gắng kiểm soát nhịp thở và thỉnh cầu lý trí. Làm sao có thể giải thích sự rối loạn ký ức này? Một tổn thương não chăng? Một giai đoạn chấn thương chăng? Do dùng chất gây nghiện?
Tôi vốn là bác sĩ. Ngay cả khi thần kinh học không phải là chuyên khoa của tôi thì tôi cũng đã trải qua nhiều kỳ thực tập trong các bệnh viện khác nhau đủ để biết rằng chứng quên vẫn thường là một vấn đề nan giải.
Rõ ràng tôi đang mắc chứng quên về sau: tôi không còn bất kỳ ký ức nào về những sự kiện diễn ra sau khi tôi bước vào căn phòng “cấm” của ngọn hải đăng. Kể từ ngày hôm ấy, có thể thấy là điều gì đó đã tắc nghẽn trong trí óc tôi. Tôi đã mất tích khỏi cuộc đời mình suốt hơn một năm ròng!
Nhưng tại sao kia chứ?
Tôi ngẫm nghĩ. Tôi đã từng chứng kiến nhiều bệnh nhân không có khả năng xác lập những ký ức mới sau một chấn thương tâm thần khó lòng chịu đựng: một phản xạ phòng vệ để không chìm đắm trong điên loạn. Nhưng thường thì những ký ức của họ cuối cùng cũng trồi lên bề mặt sau vài ngày; thế mà trong trường hợp của tôi lại là cả giai đoạn kéo dài hơn một năm trời…
Thế mới khốn kiếp…
- Arthur Costello?
Một viên cảnh sát mặc sắc phục vừa cao giọng xướng tên tôi trước cửa buồng giam.
- Là tôi đây, tôi nói rồi đứng dậy.
Anh ta mở khóa cửa buồng giam rồi túm tay dẫn tôi ra ngoài. Chúng tôi đi qua một mê cung các hành lang trước khi tới phòng hỏi cung: hai chục mét vuông, một tấm gương rộng, một chiếc bàn kim loại gắn chặt xuống sàn, xung quanh có ba chiếc ghế tựa lẻ bộ.
Tôi nhận ra viên cảnh sát đầu tiên đã tìm cách bắt giữ tôi và bị tôi đạp ra. Anh ta vẫn đang băng ở cung mày và liếc nhìn tôi với vẻ hằn học như muốn nói “thằng khốn”. Không chút thách thức, tôi nháy mắt với anh ta ra chiều: “Không thù hằn gì nhé cậu.” Anh ta đi cùng một sĩ quan nữa, một phụ nữ người Mỹ Latin có mái tóc đen nhánh búi gọn. Vẻ giễu cợt, cô ta chìa cho tôi một chiếc quần dài vải gai thô đã sờn cùng một chiếc áo phông cô tông màu xám thô ráp. Trong khi tôi mặc bộ đồ mới lên người, cô ta giới thiệu mình là booking officer phụ trách trình tự tố tụng chống lại tôi, và khuyên tôi không nên tỏ ra láu tôm láu cá với cô ta.
Cô ta đặt câu hỏi, tôi cung khai danh tính, tuổi tác, địa chỉ, nghề nghiệp của bản thân. Sau khi thông báo cho tôi biết bản thân bị khép những tội gì - tội phô bày thân thể trong một chốn linh thiêng, từ chối cung khai, hành hung và làm bị thương người thi hành công vụ -, cô ta hỏi xem tôi có phản đối không. Trong khi tôi giữ im lặng, cô ta tìm hiểu xem tôi có tiền sử bệnh tâm thần không. Tôi viện dẫn quyền không trả lời các câu hỏi của cô ta và yêu cầu được gặp luật sư.
- Anh có tiền để thuê luật sư không hay muốn gặp luật sư ủy thác?
- Tôi muốn được văn phòng luật sư Jeffrey Wexler có trụ sở tại Boston bào chữa.
Nữ cảnh sát viên không gặng hỏi thêm; cô ta cho tôi ký biên bản lời khai, báo cho tôi biết sáng ngày mai tôi phải trình diện trước thẩm phán, rồi gọi một phụ tá dẫn tôi tới mugshot room để lấy dấu vân tay và chụp ảnh chân dung. Trước khi ra lệnh dẫn tôi về lại buồng giam, cô nàng booking officer đồng ý cho tôi gọi một cuộc điện thoại.