Một trong những chuyến viếng thăm thú vị nhất của chúng tôi là tới Père Lachaise, nghĩa trang quốc gia của nước Pháp, nơi an nghỉ trang nghiêm của một số người con vĩ đại và ưu tú nhất xứ sở này, mái nhà cuối cùng của hàng tá danh nhân nam nữ không có tước hiệu cao sang nhưng đã tự tay giành lấy vinh quang bằng chính nghị lực và thiên bẩm của mình. Đó là một thành phố tĩnh lặng với những con đường quanh co, những ngôi đền bằng cẩm thạch thu nhỏ và những dinh thự của người cõi âm ánh lên sắc trắng từ giữa chốn hoang vu của muôn vàn tán lá cùng hoa tươi rực rỡ. Chẳng phải thành phố nào cũng đông đúc dân cư hay rộng lớn khuôn viên được như nơi đây. Hiếm có chốn kinh thành nào sở hữu những lâu đài tinh xảo về thiết kế, giàu có về nghệ thuật, tốn kém về nguyên liệu, kiều diễm và lộng lẫy đến thế.
Chúng tôi từng đứng trong ngôi thánh đường cổ kính St. Denis, nơi các bức tượng cẩm thạch khắc họa ba mươi đời vua chúa hoàng hậu nằm duỗi dài trên những cỗ quan tài, và những cảm xúc trào dâng thật mới mẻ, kinh ngạc; nào bộ giáp kỳ lạ, trang phục lỗi thời, những gương mặt bình thản, đôi bàn tay úp vào nhau như đang thành kính cầu nguyện—đó thực sự là một khung cảnh đậm chất cổ kính thâm trầm. Dường như thật kỳ lạ khi được giáp mặt, theo một cách nào đó, với vua Dagobert Đệ nhất, Clovis và Charlemagne, những vị anh hùng vĩ đại mà mờ ảo, những bóng hình, những huyền thoại từ một ngàn năm trước! Tôi đã chạm ngón tay vào những khuôn mặt phủ đầy bụi bời của họ, nhưng Dagobert còn chết sâu hơn cả mười sáu thế kỷ đã trôi qua cuộc đời ông, Clovis ngủ yên sau trọn vẹn cống hiến vì Chúa Kitô, còn vị vua già Charlemagne vẫn tiếp tục mộng mơ về các hiệp sĩ cận vệ của mình, về thung lũng Roncesvalles đẫm máu, và chẳng buồn bận tâm đến tôi.
Những tên tuổi lớn tại Père Lachaise cũng gây ấn tượng mạnh với người ta, nhưng theo một cách khác. Ở đó, ý niệm liên tục hiện về trong tâm trí người ta rằng chốn này vốn linh thiêng dành cho một vương triều cao quý hơn—vương triều của trái tim và khối óc. Mọi năng lực trí tuệ, mọi phẩm chất cao đẹp của bản tính con người, mọi nghề nghiệp cao quý mà nhân loại theo đuổi, dường như đều được đại diện bởi một cái tên lẫy lừng. Hiệu ứng tạo ra là một sự pha trộn kỳ thú. Davoust và Massena, những người từng gây dựng bao thảm kịch trận mạc, đều yên nghỉ nơi đây, và cả Rachel nữa, người nổi danh không kém trong những bi kịch giả định trên sân khấu. Viện phụ Sicard ngủ yên tại chốn này—người thầy vĩ đại đầu tiên của trẻ câm điếc—một người có trái tim luôn hướng về mọi mảnh đời bất hạnh, và hiến dâng cả cuộc đời để làm việc thiện phục vụ họ; cách đó không xa, cuối cùng cũng được nghỉ ngơi trong bình yên, là Nguyên soái Ney, người có tâm hồn bão táp từng chẳng biết đến thứ âm thanh nào bằng tiếng kèn lệnh xung trận. Người khởi xướng hệ thống chiếu sáng bằng gas công cộng, cùng vị ân nhân khác đã phổ biến việc trồng khoai tây qua đó ban phước cho hàng triệu đồng bào đang chết đói của mình, đang nằm cạnh Thân vương xứ Masserano, cùng những vị hoàng hậu và vương tử lưu vong từ vùng Viễn Ấn. Gay-Lussac nhà hóa học, Laplace nhà thiên văn học, Larrey nhà ngoại phẫu, de Suze vị luật sư, đều có mặt ở đây, bên cạnh họ là Talma, Bellini, Rubini; de Balzac, Beaumarchais, Beranger; Molière và La Fontaine, cùng hàng tá nhân vật khác mà tên tuổi cùng những công trình đáng trân trọng của họ vốn quen thuộc ở tận những xó xỉnh xa xôi của văn minh nhân loại chẳng kém gì chiến công lịch sử của các vị vua chúa đang nằm trong những hầm mộ cẩm thạch tại St. Denis.
Thế nhưng giữa hàng ngàn hàng vạn ngôi mộ tại Père Lachaise, có một ngôi mộ mà không một người đàn ông, phụ nữ hay thanh thiếu niên nào bước qua lại không dừng lại để ngắm nhìn. Mỗi du khách đều mang một ý niệm mơ hồ nào đó về lịch sử của những linh hồn trong ấy và hiểu rằng nơi đó xứng đáng nhận được sự tôn kính, nhưng cứ hai mươi ngàn người thì họa hoằn lắm mới có một người nhớ rõ câu chuyện về ngôi mộ ấy cùng những con người lãng mạn đã nằm lại đó. Đây chính là phần mộ của Abelard và Heloise—một ngôi mộ từ bảy trăm năm nay đã được tôn kính hơn, được biết đến rộng rãi hơn, được viết ca ngợi và rơi lệ nhiều hơn bất kỳ ngôi mộ nào khác trên cõi Thiên Chúa giáo, ngoại trừ duy nhất mộ phần của Đấng Cứu Thế. Mọi du khách đều tha thẩn linger quanh đó với nỗi niềm man mác; tất cả thanh niên đều tìm cách thu nhặt và mang đi những kỷ vật từ nơi này; mọi thiếu niên nam nữ Paris đứt gãy chuyện tình duyên đều đến đó để trút bầu tâm sự khi lòng ngập tràn nước mắt; phải, rất nhiều kẻ lụy tình đau khổ đã hành hương đến chốn linh thiêng này từ những tỉnh xa để khóc than, gào thét và “nghiến răng” trước nỗi buồn sâu sắc của mình, đồng thời chuộc lấy sự đồng cảm từ những linh hồn đã qua thanh luyện trong ngôi mộ ấy qua những vòng hoa bất tử và những đóa hoa chớm nở.
Bạn cứ ghé qua bất cứ lúc nào đi chăng nữa, thể nào cũng thấy có kẻ đang thút thít trước ngôi mộ đó. Bạn cứ ghé qua lúc nào tùy thích, sẽ thấy nơi đây luôn được bày biện những bó hoa tươi và hoa bất tử. Bạn cứ đến bất cứ lúc nào, sẽ thấy một đoàn xe chở sỏi từ Marseille vừa cập bến để bù đắp cho những tổn thất do lũ kẻ cắp kỷ vật phá phách gây ra—những kẻ có tình cảm những hóa ra lại lệch lạc đường đi.

Thế nhưng, mấy ai thực sự tường tận câu chuyện về Abelard và Heloise? Quả thực rất ít người. Tên tuổi họ thì ai nấy đều quen thuộc đến nằm lòng, và chỉ có thế là cùng. Trải qua muôn vàn công sức, tôi đã thu thập được tri thức về câu chuyện lịch sử đó, và tôi dự định sẽ kể lại nó ngay tại đây, một phần nhằm cung cấp thông tin trung thực cho công chúng, phần khác để cho công chúng thấy rằng họ đã lãng phí một lượng lớn tình cảm có giá trị một cách vô cùng vô nghĩa.