Những Kẻ Ngây Thơ Du Ngoại

Lượt đọc: 226 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 27

❊ ❊ ❊

Đến đây thì mọi việc vẫn tốt đẹp. Nếu có ai có quyền tự hào và thỏa mãn về bản thân, thì chắc chắn đó chính là tôi. Bởi vì tôi đã viết về Đấu trường La Mã, về các võ sĩ giác đấu, những vị tử đạo và bầy sư tử, vậy mà chưa một lần nào dùng đến câu cửa miệng “bị tàn sát để làm vui lòng người La Mã” (*butchered to make a Roman holiday*). Tôi là người đàn ông da trắng tự do duy nhất ở tuổi trưởng thành làm được điều này kể từ khi Byron sáng tạo ra câu nói ấy.

Câu nói ấy nghe có vẻ hay cho đến tầm một triệu bảy hoặc một triệu tám trăm ngàn lần đầu tiên người ta nhìn thấy nó trên mặt chữ, nhưng sau đó thì nó bắt đầu trở nên nhàm chán. Tôi thấy nó trong tất cả các sách viết về thành Rome — và gần đây, điều này lại khiến tôi nhớ đến Thẩm phán Oliver. Oliver là một luật sư trẻ, mới ra trường, đã đến các hoang mạc ở Nevada để lập nghiệp. Anh nhận ra rằng vùng đất ấy, và lối sống của chúng tôi ở đó vào những ngày tháng sơ khai ấy, rất khác biệt so với cuộc sống ở New England hay Paris. Nhưng anh đã mặc áo sơ mi bằng vải dạ, đeo một khẩu súng lục hải quân bên mình, ăn đậu và thịt xông khói của địa phương, và quyết định ở Nevada thì phải làm theo cách của người Nevada. Oliver chấp nhận hoàn cảnh triệt để đến mức dù hẳn phải đau lòng trước nhiều gian truân, anh chưa bao giờ phàn nàn — nghĩa là, anh chỉ phàn nàn đúng một lần. Anh, hai người nữa và tôi, khởi hành đến các mỏ bạc mới ở dãy núi Humboldt — anh làm Thẩm phán Tỷ thẩm của hạt Humboldt, còn chúng tôi đi làm mỏ. Khoảng cách là hai trăm dặm. Lúc đó là giữa mùa đông giá rét. Chúng tôi mua một chiếc xe ngựa kéo hai con ngựa và chất lên đó mười tám trăm cân thịt xông khói, bột mì, đậu, thuốc nổ phá đá, cuốc và xẻng; chúng tôi mua hai con ngựa cỏ Mexico trông thật thảm hại, với lớp lông mọc ngược chiều và trên cơ thể chúng nhiều góc cạnh hơn cả đền thờ Omar; chúng tôi cày cột lên và xuất phát. Đó là một chuyến đi khủng khiếp. Nhưng Oliver không hề phàn nàn. Đàn ngựa kéo chiếc xe được hai dặm khỏi thị trấn thì kiệt sức. Thế là ba chúng tôi đẩy xe bảy dặm rưỡi, còn Oliver tiến lên phía trước và kéo đầu ngựa đi theo bằng dây cương.

Chúng tôi phàn nàn, nhưng Oliver thì không. Mặt đất đóng băng, và nó làm cóng cả lưng chúng tôi khi ngủ; gió thổi thét qua mặt và làm cóng cả mũi chúng tôi. Oliver không hề phàn nàn. Năm ngày đẩy xe ban ngày và chết cóng ban ban đêm đã đưa chúng tôi đến chặng đường hiểm trở — Sa mạc Bốn Mươi Dặm, hay Sa mạc Lớn của Mỹ, tùy bạn gọi thế nào cũng được. Thế nhưng, người có phong thái ôn hòa nhất từng được sinh ra ấy vẫn chưa hề phàn nàn. Chúng tôi bắt đầu vượt sa mạc lúc tám giờ sáng, lội qua những lớp cát không có đáy; nhọc nhằn suốt cả ngày dài đi qua những xác xe ngựa đổ nát của hàng ngàn chiếc, những bộ xương của mười ngàn con bò; đi qua số niềng xe ngựa đủ để bó kín Đài tưởng niệm Washington lên đến đỉnh, và những sợi xích bò đủ để quấn quanh Long Island; đi qua những ngôi mộ người; với cổ họng lúc nào cũng khô cháy vì cơn khát; đôi môi rướm máu vì bụi kiềm; đói khát, đầm đìa mồ hôi, và vô cùng, vô cùng mệt mỏi — mệt đến mức cứ năm mươi thước chúng tôi lại ngã rũ xuống cát để cho ngựa nghỉ, và suýt không chống lại được cơn buồn ngủ — vậy mà không một lời phàn nàn từ Oliver: và cả sáng hôm sau lúc ba giờ, khi chúng tôi sang đến bờ bên kia, mệt mỏi rã rời.

Hai hoặc ba đêm sau, bị đánh thức vào lúc nửa đêm trong một hẻm núi hẹp bởi những bông tuyết rơi vào mặt, và hoảng sợ trước hiểm họa cận kề là bị “tuyết vùi lấp”, chúng tôi lại trasnh ngựa và tiếp tục đẩy xe cho đến tám giờ sáng, vượt qua đỉnh “Divide” và biết rằng mình đã được cứu. Không một lời phàn nàn. Mười lăm ngày gian khổ và mệt nhọc đưa chúng tôi đến điểm cuối của hành trình hai trăm dặm, và vị Thẩm phán vẫn chưa hề phàn nàn. Chúng tôi tự hỏi liệu có điều gì có thể làm ông nổi giận không. Chúng tôi dựng một ngôi nhà kiểu Humboldt.

Công việc được tiến hành thế này. Bạn đào một khoảng vuông ở phần chân dốc dựng đứng của sườn núi, rồi dựng hai cột đứng và đặt lên trên hai thanh xà ngang. Sau đó, bạn căng một tấm vải “cotton thô” lớn từ điểm giáp giữa xà ngang và sườn đồi phủ xuống qua các thanh xà chạm đất; tấm vải này tạo thành mái và mặt tiền của căn biệt thự; các bức tường bên và phía sau chính là vách đất do việc đào bới để lại. Một chiếc ống khói được làm rất dễ dàng bằng cách bẻ quặt một góc mái lên. Một đêm nọ, Oliver đang ngồi một mình trong cái hang ảm đạm này bên đống lửa củi cây ngải đắng, làm thơ; anh rất thích vắt kiệt thơ ra từ bản thân — hoặc dùng thuốc nổ phá ra khi thơ quá khó ra. Anh nghe thấy tiếng bước chân của một con vật sát bên mái nhà; một hai viên đá cùng ít đất rơi xuyên qua và rơi xuống cạnh anh. Anh bắt đầu thấy bất an và thỉnh thoảng lại cất giọng: “Này! Tránh ra chỗ khác mau, không được à!” nhưng rồi chẳng mấy chốc anh lại ngủ thiếp đi ngay trên ghế, và chẳng mấy chốc một con ngựa thồ lại rơi tòm xuống ống khói! Lửa văng tung tóe khắp nơi, và Oliver ngã ngửa ra đằng sau. Khoảng mười đêm sau đó, anh mới lấy lại đủ sự tự tin để tiếp tục viết thơ. Lại một lần nữa anh chìm vào giấc ngủ, và lại một lần nữa một con ngựa thồ rơi xuống ống khói. Lần này, khoảng một nửa bức tường bên ấy của ngôi nhà đổ sập vào cùng con ngựa. Trong lúc vùng vẫy đứng dậy, con ngựa đã đá văng ngọn nến, đập nát phần lớn đồ đạc trong bếp và làm nổi lên một đám bụi mù mịt. Những cú đánh thức bạo lực này hẳn phải rất phiền toái đối với Oliver, nhưng anh chưa bao giờ phàn nàn. Anh chuyển đến một căn biệt thự ở phía bên kia hẻm núi, bởi vì anh nhận thấy lũ ngựa thồ không hề lai vãng tới đó. Một đêm nọ vào khoảng tám giờ, anh đang cố gắng hoàn thành bài thơ của mình thì một hòn đá lăn vào — rồi một cái móng guốc xuất hiện phía dưới tấm bạt — rồi một phần của con bò — phần thân sau. Anh ngả người ra sau đầy kinh hãi và hét lên: “Này! Này! Biến khỏi đây mau!” và con bò vùng vẫy một cách dũng mãnh — liên tục tụt lùi — đất đá tuôn xối xả xuống, và trước khi Oliver kịp né ra cho xa, toàn bộ con bò đã lao rầm xuống chiếc bàn và biến mọi thứ thành một đống đổ nát hình thù kỳ dị!

Khi đó, có lẽ là lần đầu tiên trong đời, Oliver mới phàn nàn. Anh nói:

“Trò này bắt đầu trở nên nhàm chán rồi đấy!”

Rồi anh từ chức thẩm phán và rời khỏi hạt Humboldt. Câu “Bị tàn sát để làm vui lòng người La Mã” cũng đã trở nên nhàm chán đối với tôi.

Nhân cơ hội này, tôi muốn nói vài lời về Michael Angelo Buonarotti. Tôi từng tôn sùng thiên tài vĩ đại của Michael Angelo — con người vĩ đại trong thơ ca, hội họa, điêu khắc, kiến trúc — vĩ đại trong mọi việc ông làm. Nhưng tôi không muốn dùng Michael Angelo cho bữa sáng — cho bữa trưa — cho bữa tối — cho bữa xế — cho bữa khuya — hay cho những lúc ăn lót dạ giữa các bữa. Thỉnh thoảng tôi thích được thay đổi. Ở Genoa, ông thiết kế mọi thứ; ở Milan, ông hoặc các học trò của ông thiết kế mọi thứ; ông thiết kế hồ Como; ở Padua, Verona, Venice, Bologna, chúng ta từng nghe hướng dẫn viên nhắc đến ai ngoài Michael Angelo chứ? Ở Florence, ông vẽ mọi thứ, thiết kế gần như mọi thứ, và những gì ông không thiết kế thì ông thường ngồi lên một hòn đá ưa thích để ngắm nhìn, và họ còn chỉ cho chúng tôi xem hòn đá đó. Ở Pisa, ông thiết kế mọi thứ trừ tòa tháp đổ cũ kỹ, và họ chắc cũng đã quy công trình đó cho ông nếu nó không bị lệch khỏi trục thẳng đứng quá mức như thế. Ông thiết kế các kè chắn sóng ở Leghorn và các quy định hải quan ở Civita Vecchia. Nhưng ở đây — ở đây thì thật là khủng khiếp. Ông thiết kế nhà thờ St. Peter; ông thiết kế Giáo hoàng; ông thiết kế đền Pantheon, đồng phục của lính gác Giáo hoàng, sông Tiber, điện Vatican, Đấu trường La Mã, đồi Capitol, vách đá Tarpeian, cung điện Barberini, nhà thờ St. John Lateran, vùng đồng quê Campagna, con đường Appian, Bảy ngọn đồi, Nhà tắm Caracalla, hệ thống dẫn nước Claudian, cống ngầm Cloaca Maxima — tên kẻ quấy rầy vĩnh cửu này đã thiết kế Thành phố Vĩnh cửu, và nếu như tất cả mọi người và sách vở không nói dối, thì ông đã vẽ mọi thứ trong đó!

Hôm nọ Dan nói với hướng dẫn viên rằng: “Đủ rồi, đủ rồi, đủ rồi! Đừng nói nữa! Gom tất cả lại đi! Cứ nói rằng Đấng Tạo Hóa đã tạo ra nước Ý dựa trên các bản thiết kế của Michael Angelo là xong!”

Tôi chưa bao giờ cảm thấy biết ơn một cách tha thiết, được xoa dịu, được thanh thản, và ngập tràn một sự bình yên phước hạnh đến thế, như ngày hôm qua khi tôi hay tin Michael Angelo đã qua đời.

Nhưng chúng tôi đã trút sự bực bội đó lên đầu tay hướng dẫn viên này. Hắn đã dẫn chúng tôi đi qua hàng dặm tranh ảnh và tác phẩm điêu khắc trong các hành lang bao la của điện Vatican; và qua hàng dặm tranh ảnh và tác phẩm điêu khắc trong hai mươi cung điện khác; hắn cho chúng tôi xem bức tranh vĩ đại trong Nhà nguyện Sistine, và những bức bích họa đủ để vẽ kín cả bầu trời — hầu như tất cả đều do Michael Angelo thực hiện. Thế là chúng tôi đã chơi với hắn cái trò mà đã đánh bại rất nhiều hướng dẫn viên trước đây của chúng tôi — trò giả vờ đần độn và đặt những câu hỏi ngớ ngẩn. Những sinh linh này không bao giờ hoài nghi — chúng chẳng có chút khái niệm nào về sự châm biếm.

Hắn chỉ cho chúng tôi xem một bức tượng và nói: “Statoo brunzo.” (Tượng đồng.)

Chúng tôi nhìn nó một cách thờ thợm và vị bác sĩ hỏi: “Do Michael Angelo làm à?”

“Không — không biết của ai.”

Rồi hắn dẫn chúng tôi đến Diễn đàn La Mã cổ đại. Vị bác sĩ hỏi: “Michael Angelo?”

Hướng dẫn viên trân trân nhìn. “Không — cách thời ông ấy sinh ra cả ngàn năm.”

Rồi đến một cột tháp Ai Cập. Lại hỏi: “Michael Angelo?”

“Ôi, lạy Chúa, thưa các ngài! Cái này có từ hai ngàn năm trước khi ông ấy sinh ra cơ!”

Có lúc hắn cảm thấy quá mệt mỏi với câu hỏi không dứt đó đến mức hắn sợ phải cho chúng tôi xem bất cứ thứ gì. Tên khốn này đã thử mọi cách hắn có thể nghĩ ra để làm chúng tôi hiểu rằng Michael Angelo chỉ chịu trách nhiệm cho việc tạo ra một phần thế giới mà thôi, nhưng ngặt nỗi hắn vẫn chưa thành công. Việc giải tỏa cho đôi mắt và bộ não đang quá tải vì học tập và ngắm cảnh là điều cần thiết, nếu không chúng ta sẽ trở nên đần độn mất thôi. Do đó, tay hướng dẫn viên này buộc phải tiếp tục chịu đựng. Nếu hắn không thích thú gì với điều đó, thì đó là vận rủi của hắn. Còn chúng tôi thì rất thích.

Đến lúc này, tôi cũng có thể ghi lại một chương về những nỗi phiền toái thiết yếu mang tên: hướng dẫn viên châu Âu. Khối người đã thầm ước trong lòng rằng họ có thể xoay sở mà không cần hướng dẫn viên; nhưng biết rằng không thể, họ lại ước mình có thể vắt kiệt chút niềm vui từ gã như một sự đền bù cho nỗi khổ khi phải chịu đựng sự hiện diện của hắn. Chúng tôi đã đạt được điều sau này, và nếu kinh nghiệm của chúng tôi có ích cho người khác thì họ cứ việc dùng tự nhiên.

Lũ hướng dẫn viên biết vừa đủ tiếng Anh để làm mọi thứ rối tung lên khiến người ta chẳng thể hiểu nổi đầu đuôi ra sao. Chúng thuộc làu câu chuyện của mình — lịch sử của từng bức tượng, bức tranh, nhà thờ hay kỳ quan nào khác mà chúng cho bạn xem. Chúng biết và kể lại những chuyện đó như một con vẹt — và nếu bạn ngắt lời, làm chúng chệch đường ray, chúng sẽ phải quay lại từ đầu. Suốt cả cuộc đời, chúng được thuê để cho người nước ngoài xem những điều kỳ lạ và lắng nghe những lời trầm trồ thán cảm của họ. Bản tính con người là thích thú khi khơi gợi sự ngưỡng mộ. Đó là điều thúc đẩy trẻ em nói những câu “khôn lỏi” và làm những trò ngớ ngẩn, hay dùng những cách khác để “làm hàng” khi có khách khứa. Đó là điều khiến những kẻ hay lê đôi dép hóng chuyện đổ xô ra trời mưa gió để trở thành người đầu tiên kể một mẩu tin tức động trời. Hãy nghĩ xem, điều đó trở thành một nỗi đam mê lớn đến nhường nào đối với một hướng dẫn viên, kẻ có đặc quyền mỗi ngày được cho những người lạ xem những kỳ quan khiến họ rơi vào trạng thái xuất thần vì ngưỡng mộ hoàn toàn! Hắn ta quen đến mức không tài nào có thể sống nổi trong một bầu không khí bình lặng hơn. Sau khi phát hiện ra điều này, chúng tôi không bao giờ tỏ ra xuất thần nữa — chúng tôi không bao giờ trầm trồ bất cứ thứ gì — chúng tôi chẳng bao giờ trưng ra bộ mặt nào khác ngoài vẻ dửng dưng vô cảm và sự ngốc nghếch trước những kỳ quan hùng vĩ nhất mà một hướng dẫn viên phải trưng bày. Chúng tôi đã tìm ra điểm yếu của chúng. Kể từ đó, chúng tôi đã tận dụng triệt để điều này. Đôi khi chúng tôi đã khiến một số kẻ trong số họ phát điên lên được, nhưng chúng tôi chưa bao giờ đánh mất sự điềm tĩnh của chính mình.

Vị bác sĩ thường là người đặt câu hỏi, bởi vì ông có thể giữ nguyên nét mặt, trông giống một gã đần được truyền cảm hứng hơn, và pha nhiều sự ngốc nghếch vào giọng điệu của mình hơn bất kỳ ai trên đời. Điều đó đến với ông một cách rất tự nhiên.

Lũ hướng dẫn viên ở Genoa rất mừng khi vớ được một đoàn khách Mỹ, bởi vì người Mỹ rất hay kinh ngạc và thường bày tỏ nhiều cảm xúc ủy mị trước bất kỳ thánh tích nào của Columbus. Tay hướng dẫn viên của chúng tôi ở đó cứ lăng xăng đi lại như thể hắn nuốt phải một chiếc đệm lò xo. Hắn tràn đầy sinh khí — tràn đầy sự sốt sắng. Hắn nói:

“Đi với tôi nào các ngài! — đi thôi! Tôi cho các ngài xem bức thư do chính Christopher Colombo viết! — tự tay ông ấy viết! — viết bằng chính đôi tay của ông ấy! — đi nào!”

Hắn dẫn chúng tôi đến cung điện thành phố. Sau một hồi lúi húi mở ổ khóa và lục lọi đầy vẻ trang trọng, tài liệu ố vàng và già nua ấy được trải ra trước mắt chúng tôi. Đôi mắt hướng dẫn viên sáng rực lên. Hắn nhảy nhót quanh chúng tôi và gõ ngón tay lên tấm da cừu:

“Tôi nói có sai đâu hở các ngài! Phải thế không nào? Nhìn đi! Chữ viết tay của Christopher Colombo! — tự tay ông ấy viết đấy!”

Chúng tôi tỏ ra dửng dưng — phớt lờ. Vị bác sĩ săm soi tài liệu rất từ tốn, trong một khoảng lặng đầy ngượng ngùng. — Rồi ông nói, không hề lộ chút quan tâm nào:

“À — Ferguson — anh — anh vừa bảo tên của cái người viết cái này là gì cơ?”

“Christopher Colombo! Đại danh họa Christopher Colombo vĩ đại chứ lỵ!”

Lại một hồi săm soi từ tốn nữa.

“À — thế ông ấy tự viết lấy; hay là — hay là thế nào?”

“Ông ấy tự viết chứ! Christopher Colombo! Chữ viết tay của chính ông ấy, do tự tay ông ấy viết!”

Rồi vị bác sĩ đặt tài liệu xuống và nói:

“Ơ hay, ở Mỹ tôi từng thấy mấy đứa trẻ mới mười bốn tuổi mà viết chữ còn đẹp hơn thế này.”

“Nhưng đây là vị Christo vĩ đại—”

“Tôi mặc thây ông ta là ai! Đây là chữ viết xấu nhất mà đời tôi từng thấy. Giờ anh đừng có tưởng bở là có thể lừa bịp chúng tôi chỉ vì chúng tôi là khách lạ nhé. Chúng tôi không phải lũ ngốc đâu, còn lâu nhé. Nếu anh có mẫu chữ viết nào thực sự đáng giá thì lôi ra đây! — còn không có thì biến đi cho khẩn trương!”

Chúng tôi biến. Tay hướng dẫn viên bị sốc kha khá, nhưng hắn vẫn chơi canh bạc cuối cùng. Hắn có một thứ mà hắn nghĩ sẽ đánh gục được chúng tôi. Hắn nói:

“À, các ngài, đi với tôi nào! Tôi cho các ngài xem bức tượng bán thân của Christopher Colombo đẹp tuyệt trần, ôi, lộng lẫy vô cùng! — xuất sắc, vĩ đại, tráng lệ!”

Hắn đưa chúng tôi đến trước bức tượng bán thân tuyệt đẹp ấy — vì nó thực sự đẹp — rồi nhảy lùi lại và làm dáng:

“À, nhìn đi các ngài! — đẹp, vĩ đại — bức tượng bán thân của Christopher Colombo! — tượng bán thân đẹp, bệ tượng đẹp!”

Vị bác sĩ giơ chiếc kính một tròng lên — thứ được chuẩn bị sẵn cho những dịp thế này:

“À — anh vừa bảo vị quý ông này tên là gì cơ?”

“Christopher Colombo! Đại danh họa Christopher Colombo vĩ đại!”

“Christopher Colombo — vị Christopher Colombo vĩ đại. Ồ thế ông ta làm gì nhỉ?”

“Khám phá nước Mỹ! — khám phá nước Mỹ, ôi trời ơi là trời!”

“Khám phá nước Mỹ. Không — cái luận điệu đó nghe không lọt tai đâu. Tụi này vừa từ Mỹ sang đây. Chẳng nghe ngóng được gì về chuyện đó cả. Christopher Colombo — cái tên nghe hay đấy — thế — thế ông ta chết chưa?”

“Ôi, corpo di Baccho! — chết từ ba trăm năm nay rồi chứ lại!”

“Ông ta chết vì bệnh gì thế?”

“Tôi không biết! — tôi không thể nói được.”

“Chắc là đậu mùa à?”

“Tôi không biết đâu các ngài! — tôi không biết ông ấy chết vì cái quái gì!”

“Chắc sởi chứ gì?”

“Có lẽ — có lẽ — tôi không biết nữa — tôi nghĩ ông ấy chết vì một thứ gì đó.”

“Bố mẹ còn sống không?”

“Im-poseeeble! (Không thể nào!)”

“À — thế cái nào là tượng bán thân và cái nào là bệ tượng?”

“Santa Maria! — đây là tượng bán thân! — đây là bệ tượng!”

“À, tôi hiểu rồi, tôi hiểu rồi — một sự kết hợp thật hạnh phúc — quả thực là một sự kết hợp rất hạnh phúc. Thế — thế đây là lần đầu tiên vị quý ông này đập phá tơi bời như thế này phải không?”

Trò đùa đó trôi tuột đi đối với người ngoại quốc — lũ hướng dẫn viên không thể nào lĩnh hội được sự thâm thúy của trò đùa kiểu Mỹ.

Chúng tôi đã làm cho gã hướng dẫn viên người La Mã này cảm thấy vô cùng thú vị. Hôm qua chúng tôi lại dành ba bốn tiếng đồng hồ ở điện Vatican, thế giới kỳ thú ấy. Suýt chút nữa thì có lúc chúng tôi bày tỏ sự quan tâm — thậm chí là trầm trồ — thật rất khó để kìm lại. Tuy nhiên chúng tôi đã thành công. Chưa ai từng làm được điều đó trong các bảo tàng Vatican. Tay hướng dẫn viên bối rối — hoàn toàn cạn lời. Hắn đi rot cả cẳng để lùng sục những thứ kỳ lạ, và vắt kiệt mọi sự khéo léo ra với chúng tôi, nhưng tất cả đều thất bại; chúng tôi chẳng bao giờ tỏ ra quan tâm đến bất cứ thứ gì. Hắn đã để dành thứ mà hắn cho là kỳ quan vĩ đại nhất của mình cho đến phút cuối cùng — một xác ướp hoàng gia Ai Cập, có lẽ là được bảo quản tốt nhất trên thế giới. Hắn đưa chúng tôi đến đó. Lần này hắn cảm thấy chắc mẩm đến mức chút nhiệt huyết cũ của hắn lại trỗi dậy:

“Xem này các ngài! — Xác ướp! Xác ướp đấy!”

Chiếc kính một tròng lại được giơ lên bình thản và từ tốn như mọi khi.

“À — Ferguson — tôi nghe không rõ anh vừa bảo vị quý ông này tên là gì nhỉ?”

“Tên ư? — ổng có tên tuổi gì đâu! — Xác ướp! — Xác ướp Ai Cập!”

“Vâng, vâng. Sinh ở đây à?”

“Không! Xác ướp Ai Cập cơ mà!”

“À, ra thế. Chắc là người Pháp nhỉ?”

“Không! — không phải người Pháp, không phải người La Mã! — sinh ra ở Ai Cập!”

“Sinh ra ở Ai Cập. Chưa nghe nói đến Ai Cập bao giờ. Chắc là một địa danh nước ngoài nào đó. Xác ướp — xác ướp. Trông ông ta bình thản làm sao — điềm tĩnh làm sao. Thế — thế — ông ta chết chưa đấy?”

“Ôi, sacre bleu, chết từ ba ngàn năm nay rồi chứ lị!”

Vị bác sĩ quay phắt lại quát thét vào mặt hắn:

“Này, thế ý anh là gì khi cư xử kiểu này hả! Định coi chúng tôi là người Tàu chắc, vì chúng tôi là khách lạ và đang cố học hỏi đây phỏng? Định tống mấy cái xác hôi thối đồ lại thứ hai này lên đầu tụi này chắc! — sấm sét đánh chết tươi bây giờ, tao có ý định — định — nếu mày có cái thây ma nào còn tươi mới ngon lành một chút thì lôi ra đây! — bằng không thì tao thề có thần George là tao đập nát sọ mày ra đấy!”

Chúng tôi khiến cho gã người Pháp này cảm thấy cực kỳ thú vị. Tuy nhiên, hắn cũng đã trả thù được một phần, dù chẳng hay biết gì. Sáng nay hắn đến khách sạn để hỏi xem chúng tôi đã dậy chưa, và hắn đã cố hết sức để miêu tả ngoại hình của chúng tôi, sao cho chủ khách sạn biết hắn đang nhắc đến những vị khách nào. Hắn kết luận bằng một câu xanh rờn rằng chúng tôi là những kẻ tâm thần. Nhận xét đó ngây thơ và thành thật đến mức trở thành một câu nói cực kỳ hay ho đối với một tên hướng dẫn viên.

Có một câu nói (đã được nhắc tới) chưa bao giờ thất bại trong việc làm cho lũ hướng dẫn viên này phát bực. Chúng tôi luôn dùng nó, khi chẳng thể nghĩ ra câu gì khác để nói. Sau khi chúng hết lời ca ngợi và chỉ cho chúng tôi thấy những vẻ đẹp của một bức tượng đồng cổ kính hay một bức tượng cụt chân nào đó, chúng tôi đứng nhìn đờ đẫn trong im lặng suốt năm, mười, mười lăm phút — thực ra là lâu nhất có thể chịu đựng được — rồi mới hỏi:

“Thế — thế ông ta chết chưa?”

Câu đó đánh gục cả những gã điềm tĩnh nhất. Đó không phải là điều chúng mong đợi — nhất là một tên hướng dẫn viên mới vào nghề. Gã Ferguson người La Mã của chúng tôi là đối tượng kiên nhẫn nhất, cả tin nhất và chịu đựng bền bỉ nhất mà chúng tôi từng có. Chúng tôi sẽ thấy tiếc khi phải chia tay hắn. Chúng tôi đã rất tận hưởng sự hiện diện của hắn. Chúng tôi hy vọng hắn cũng tận hưởng sự hiện diện của chúng tôi, nhưng ngặt nỗi trong lòng vẫn đầy rẫy những mối hoài nghi.

Chúng tôi đã xuống thăm các hầm mộ. Cảm giác giống như đi xuống một tầng hầm rất sâu, chỉ có điều đây là một tầng hầm chẳng có điểm dừng. Những lối đi hẹp được đẽo thô sơ vào vách đá, và ở mỗi bên đường đi, những chiếc kệ khoét sâu được chạm trổ thành từng tầng, từ ba đến mười bốn lớp; mỗi ô từng là nơi đặt một cỗ quan tài. Có tên thánh, các biểu tượng Cơ Đốc giáo, và những lời cầu nguyện, hoặc những câu văn diễn tả niềm hy vọng của người theo đạo được khắc trên hầu như mọi cỗ quách. Đương nhiên là các niên đại thuộc về những thủa bình minh của kỷ nguyên Cơ Đốc giáo. Ở đây, trong những cái hốc dưới lòng đất này, những tín đồ Cơ Đốc đầu tiên đôi khi chui rúc để trốn tránh sự bách hại. Họ bò ra ngoài vào ban đêm để kiếm ăn, nhưng ẩn nấp kín đáo vào ban ngày. Vị linh mục kể với chúng tôi rằng Thánh Sebastian từng sống dưới lòng đất một thời gian khi bị truy lùng; ngợi một ngày nọ ngông cuồng đi ra ngoài và bị binh lính phát hiện rồi bắn chết bằng những mũi tên. Năm hoặc sáu vị Giáo hoàng thời kỳ đầu — những người trị vì cách đây khoảng mười sáu thế kỷ — đã tổ chức các triều đình giáo hoàng và hội biện với giáo sĩ của họ ngay trong ruột trái đất. Suốt mười bảy năm — từ năm 235 sau Công nguyên đến năm 252 sau Công nguyên — các Giáo hoàng không hề xuất hiện trên mặt đất. Mỗi vị trị vì khoảng bốn năm, hoặc đại loại thế. Điều đó gợi lên rất nhiều suy nghĩ về sự độc hại của các nghĩa trang dưới lòng đất khi được dùng làm nơi cư trú. Sau đó, một vị Giáo hoàng đã dành toàn bộ triều đại của mình trong các hầm mộ — suốt tám năm trời. Một vị khác bị phát hiện ở đó và bị sát hại ngay trên chiếc ghế giám mục của mình. Chẳng có gì là sung sướng khi làm Giáo hoàng vào thời đó cả. Có quá nhiều nỗi phiền toái. Có một trăm sáu mươi hầm mộ bên dưới thành Rome, mỗi hầm mộ là một mê cung với những lối đi hẹp đan xen chằng chịt vào nhau và mỗi lối đi được xây tường kín mít bằng các ngôi mộ khoét sâu suốt chiều dài của nó. Một ước tính cẩn trọng cho thấy tổng chiều dài các lối đi của tất cả các hầm mộ cộng lại lên tới chín trăm dặm, và số lượng mồ mả lên tới bảy triệu. Chúng tôi không đi hết tất cả các lối đi của mọi hầm mộ. Chúng tôi rất khao khát làm điều đó và đã chuẩn bị đầy đủ các sắp xếp cần thiết, nhưng thời gian quá hạn hẹp buộc chúng tôi phải từ bỏ ý định đó. Thế nên chúng tôi chỉ mò mẫm qua mê cung ảm đạm của thánh Callixtus, bên dưới Nhà thờ St. Sebastian. Trong các hầm mộ khác nhau có những nhà nguyện nhỏ được đẽo thô sơ vào vách đá, và đây là nơi những tín đồ Cơ Đốc thời kỳ đầu thường tổ chức các buổi lễ tôn giáo dưới ánh sáng mờ ảo, ma quái. Hãy thử tưởng tượng khung cảnh làm thánh lễ và nghe giảng đạo sâu tận dưới những hang động chằng chịt dưới lòng đất ấy xem!

Trong các hầm mộ là nơi an nghỉ của thánh Cecilia, thánh Agnes, và một vài vị thánh nổi tiếng nhất khác. Trong hầm mộ của thánh Callixtus, thánh Bridget từng dành nhiều giờ liền để chiêm nghiệm thánh thi, và thánh Charles Borromeo thường trải qua cả đêm để cầu nguyện ở đó. Nơi đây cũng từng diễn ra một sự việc kỳ diệu vô cùng.

“Tại đây, trái tim của thánh Philip Neri đã tràn ngập tình yêu thiêng liêng đến mức làm bứt tung cả xương sườn của ngài.”

Tôi tìm thấy câu khẳng định chắc nịch đó trong một cuốn sách xuất bản tại New York vào năm 1808, do “Linh mục William H. Neligan, Tiến sĩ Luật học, Thạc sĩ Nghệ thuật, Đại học Trinity, Dublin; Thành viên Hội Khảo cổ học Anh Quốc” viết. Do đó, tôi tin là thật. Bằng không, tôi đã chẳng thể nào tin nổi. Trong hoàn cảnh khác, chắc tò mò lắm không biết hôm đó ngài Philip ăn món gì cho bữa tối.

Tác giả này thỉnh thoảng lại thử thách lòng tin của tôi đến mức tối đa. Ông kể về một vị thánh tên là Joseph Calasanctius có ngôi nhà ở Rome mà ông từng đến thăm; ông chỉ thăm ngôi nhà thôi — vị linh mục đã qua đời từ hai trăm năm trước. Ông kể rằng Đức Trinh Nữ Maria đã hiện ra với vị thánh này.

Rồi ông viết tiếp:

“Lưỡi và trái tim của ngài, sau gần một thế kỷ người ta tìm thấy vẫn còn nguyên vẹn khi thi hài được khai quật trước lễ phong thánh, vẫn được bảo quản trong một chiếc hộp kính, và sau hai thế kỷ trái tim ấy vẫn nguyên vẹn. Khi quân đội Pháp tiến vào Rome, và khi Pius VII bị bắt đi làm tù binh, máu từ trái tim ấy đã nhỏ xuống.”

Đọc điều đó trong một cuốn sách do một tu sĩ viết từ thời Trung cổ sâu thẳm, thì chẳng ai phải ngạc nhiên cả; nó sẽ nghe rất tự nhiên và hợp lý; nhưng khi được khẳng định một cách nghiêm túc giữa thế kỷ thứ mười chín, bởi một người có học thức uyên thâm, một Tiến sĩ Luật học, một Thạc sĩ Nghệ thuật, và một cây đa cây đề trong ngành Khảo cổ học, thì nó lại nghe kỳ lạ làm sao. Tuy nhiên, tôi vẫn sẵn lòng đánh đổi sự hoài nghi của mình lấy đức tin của Neligan, và cứ để ông đặt ra bao nhiêu điều kiện ngặt nghèo tùy thích.

Sự ngây thơ không mảy may nghi ngờ, không chút vấn vương thắc mắc của cụ ông ấy mang đến một sự tươi mới hiếm có giữa thời đại tàu lửa và điện báo đầy thực tế này. Hãy lắng nghe ông viết về nhà thờ Ara Coeli:

“Trên mái nhà thờ, ngay phía trên bàn thờ lớn, có khắc dòng chữ: ‘Regina Coeli laetare Alleluia.’ Vào thế kỷ thứ sáu, Rome bị một trận dịch hạch khủng khiếp tàn phá. Giáo hoàng Gregory Cả hối thúc người dân chịu tang và một cuộc rước kiệu lớn đã được tổ chức. Cuộc rước đi từ Ara Coeli đến nhà thờ St. Peter. Khi đi qua lăng mộ của Adrian, nay là Lâu đài St. Angelo, âm thanh của những giọng ca thiên đường vang lên hát (đó là sáng Phục Sinh) ‘Regina Coeli, laetare! alleluia! quia quem meruisti portare, alleluia! resurrexit sicut dixit; alleluia!’ Đức Giáo hoàng, tay giơ cao bức chân dung của Đức Mẹ (đặt phía trên bàn thờ lớn và tương truyền do chính thánh Luke vẽ), cùng đám đông ngỡ ngàng đáp rằng: ‘Ora pro nobis Deum, alleluia!’ Cùng lúc đó, người ta nhìn thấy một thiên thần cất thanh kiếm vào vỏ, và căn bệnh dịch chấm dứt ngay vào ngày hôm đó. Có bốn tình tiết ‘XÁC NHẬN’ — [Các chữ in nghiêng là của tôi — M. T.] — phép lạ này: cuộc rước kiệu hàng năm diễn ra ở giáo hội phương Tây vào ngày lễ thánh Mark; bức tượng thánh Michael đặt trên lăng mộ của Adrian, nơi kể từ thời điểm đó được gọi là Lâu đài St. Angelo; khúc đối ca Regina Coeli mà giáo hội Công giáo hát trong Mùa Phục Sinh; và văn khắc trong nhà thờ.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.