Cả ngày Chủ nhật thả neo tại chỗ. Cơn bão đã dịu đi đáng kể, nhưng biển thì chưa. Ngoài khơi, như chúng tôi có thể thấy rõ qua ống nhòm, những ngọn sóng bọt tung trắng xóa vẫn nối đuôi nhau dựng đứng lên tận lưng trời. Chúng tôi không thể đường hoàng bắt đầu một chuyến du ngoạn giải trí vào ngày Chủ nhật; chúng tôi không thể đem cái bao tử chưa từng trải sóng gió ra thử thách với một vùng biển nhẫn tâm đến thế. Đành phải nằm lại cho đến thứ Hai. Và chúng tôi đã làm thế. Nhưng rồi cũng có những buổi lễ và cầu kinh lặp lại; và tất nhiên, vì thế nên chúng tôi cũng có được chỗ đứng thuận lợi chẳng kém gì bất cứ nơi nào khác.
Sáng sớm hôm ấy, ngày Sa-bát, tôi đã thức dậy và đi ăn điểm tâm sớm. Trong lòng tôi nảy sinh một mong muốn hoàn toàn tự nhiên: được thong thả ngắm nhìn các hành khách một cách thật kỹ lưỡng, khách quan, vào thời điểm mà họ trút bỏ được sự ngượng ngùng e dè — chính là lúc ăn điểm tâm, nếu như khoảnh khắc hiếm hoi ấy thực sự tồn tại trong cuộc đời con người.
Tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều người lớn tuổi — suýt chút nữa tôi có thể gọi họ là những bậc cao niên kính lão đắc thọ. Chỉ liếc qua những hàng đầu lâu tóc bạc cũng đủ khiến người ta tưởng rằng tất cả đều đã già. Nhưng không phải vậy. Vẫn có một lượng kha khá những người trẻ tuổi, và thêm một lượng vừa phải những quý ông quý bà khó đoán tuổi, chẳng già hẳn mà cũng chẳng trẻ chút nào.
Sáng hôm sau, chúng tôi nhổ neo ra khơi. Thật là một niềm hạnh phúc lớn lao khi được rời đi sau chuỗi ngày chờ đợi lê thê và chán ngắt ấy. Tôi tưởng chưa từng có niềm vui nào trong không khí lại dạt dào đến thế, ánh nắng nào lại rực rỡ đến thế, và vẻ đẹp nào của biển cả lại lộng lẫy đến thế. Lúc bấy giờ, tôi hoàn toàn hài lòng với chuyến dã ngoại này cùng tất cả mọi thứ thuộc về nó. Mọi bản tính cay độc trong tôi đều đã lụi tàn; và khi nước Mỹ khuất dần sau tầm mắt, tôi nghĩ rằng một tinh thần bác ái đã trỗi dậy thay thế vào đó, vào thời điểm ấy, mênh mông chẳng kém gì đại dương bao la đang cuồn cuộn những con sóng vỗ quanh chúng tôi. Tôi muốn bày tỏ cảm xúc của mình — tôi muốn cất cao giọng hát vang; nhưng tôi chẳng biết bài gì để mà hát đành phải dẹp bỏ ý định ấy. Dù sao thì, có lẽ điều đó cũng chẳng phải tổn thất gì cho con tàu.
Trời lộng gió và dễ chịu, nhưng biển vẫn còn rất động. Người ta không thể đi dạo mà không mạo hiểm cái cổ của mình; có lúc mũi tàu như chĩa thẳng một nhát chí mạng vào mặt trời giữa đỉnh trời, nhưng ngay khoảnh khắc tiếp theo nó lại cố lao xuống đâm thủng một con cá mập dưới đáy đại dương. Cảm giác mới kỳ lạ làm sao khi thấy phần đuôi tàu sụt xuống nhanh chóng ngay dưới chân bạn còn phần mũi thì vươn cao tít tắp giữa những tầng mây! Sách lược an toàn nhất vào ngày hôm đó là bám chặt lấy lan can và giữ chắc lấy; đi lại quả là một trò chơi mạo hiểm.
Nhờ một vận may nào đó mà tôi không bị say sóng. — Đó là điều đáng để tự hào. Trước kia đâu phải lúc nào tôi cũng tránh được. Nếu trên đời có một điều gì khiến một người trở nên kiêu ngạo một cách kỳ quặc và khó ưa, thì chính là việc cái bao tử của anh ta biết điều vào ngày đầu tiên ra khơi, khi mà hầu như tất cả các bạn đồng hành đều đang oằn mình vì say sóng. Chẳng mấy chốc, một vị lão niên được quấn khăn kín tận cằm và băng bó như một xác ướp xuất hiện ở cửa ngôi nhà bệ lái phía đuôi tàu, và cú tròng trành tiếp theo của con tàu đã hất tung ông ta ngã vào vòng tay tôi. Tôi liền cất lời:

“Chào buổi sáng, thưa ông. Thời tiết hôm nay thật đẹp.”
Ông đặt tay lên bụng, rên rỉ: “Ôi chao!”, rồi lảo đảo bước đi và ngã nhào lên cái lồng kính giếng trời.
Chẳng mấy chốc, một ông cụ khác lại bị hất văng ra từ cánh cửa ấy với một lực cực mạnh. Tôi nói:
“Xin ông hãy bình tĩnh — đâu có gì phải vội. Thời tiết hôm nay đẹp lắm, thưa ông.”
Và ông ta cũng đặt tay lên bụng, thốt lên “Ôi chao!” rồi lảo đảo bỏ đi.
Chỉ một lát sau, một cự binh nữa lại đột ngột bị tống ra từ cánh cửa đó, tay khua khoắng vào không trung tìm kiếm một chỗ bấu víu để cứu mạng. Tôi liền nói:
“Chào buổi sáng, thưa ông. Thật là một ngày tuyệt vời để du ngoạn. Có phải ông vừa định nói là...”
“Ôi chao!”
Tôi đoán thế. Dù sao thì tôi cũng đã đoán trước được lời ông ta. Tôi cứ đứng đó và bị các cụ già "oanh tạc" suốt khoảng một tiếng đồng hồ; và tất cả những gì tôi nhận được từ bất kỳ ai trong số họ chỉ là câu “Ôi chao!”
Bấy giờ tôi mới bỏ đi với tâm trạng đầy vẻ nghĩ ngợi. Tôi tự nhủ, chuyến du ngoạn giải trí này thật tuyệt vời. Tôi thích nó lắm. Các hành khách không hề ba hoa, nhưng bù lại họ rất mực niềm nở. Tôi thích những người lớn tuổi ấy, chỉ có điều không hiểu sao tất cả bọn họ đều mắc chứng “Ôi chao” nặng quá.
Tôi thừa biết chuyện gì đang xảy ra với họ. Họ bị say sóng. Và tôi thấy điều đó thật hả hê. Ai trong chúng ta mà chẳng thích ngắm nhìn cảnh người khác bị say sóng trong lúc bản thân mình thì không. Chơi bài whist dưới ánh đèn lều khi ngoài khơi đang nổi bão thì thật thú vị; đi dạo trên boong chỉ huy dưới ánh trăng thì thật thú vị; hút thuốc ở đài quan sát phía trước lộng gió cũng rất thú vị khi người ta không sợ phải trèo lên đó; thế nhưng tất cả những điều ấy đều trở nên thật nhạt nhẽo và tầm thường so với niềm vui được chứng kiến cảnh thiên hạ đang oằn mình chịu đựng nỗi thống khổ của bệnh say sóng.
Tôi thu lượm được khối thông tin bổ ích trong suốt buổi chiều hôm ấy. Có lúc tôi đang trèo lên boong chỉ huy thì phần mũi tàu vổng tít lên tận mây xanh; miệng ngậm xì gà và cảm thấy dễ chịu đến mức có thể chấp nhận được. Bỗng có ai đó quát lớn:
“Này, không được đâu đấy. Đọc cái biển treo ở kia kìa — KHÔNG HÚT THUỐC PHÍA SAU BÁNH LÁI!”
Hóa ra đó là Đại úy Duncan, chỉ huy trưởng của chuyến thám hiểm. Dĩ nhiên là tôi phải chuồn lên phía trước rồi. Tôi nhìn thấy một ống nhòm dài đặt trên chiếc bàn trong một căn phòng hạng sang ở tầng trên, nằm ngay phía sau buồng lái, liền với tay lấy — có một con tàu ở đằng xa tắp.
“Á chà, á chà — bỏ tay ra! Tránh ra chỗ khác!”
Tôi đành phải tránh ra chỗ khác. Tôi bèn hỏi một tay thủy thủ đang quét dọn boong tàu — nhưng với giọng thật nhỏ:
“Cái tên cướp biển rậm râu với cái giọng nghe chói tai y như cái nhà kho đổ nát kia là ai thế?”

“Đó là Đại úy Bursley — sĩ quan điều hành kiêm thuyền trưởng.”
Tôi lảng vảng ở đó một lúc, rồi vì chẳng có việc gì hay ho hơn để làm, tôi đành lôi dao ra gọt đẽo lan can tàu. Lại có ai đó lên tiếng, giọng vừa ngọt ngào vừa mang ý nhắc nhở:
“Này anh bạn — cậu không biết điều hơn là đứng đẽo gọt con tàu nát bét ra thế này à? Lẽ ra cậu phải khôn ngoan hơn thế chứ.”
Tôi quay lại tìm tay thủy thủ quét dọn boong tàu lúc nãy.
“Thế còn cái gã mặt mày nhẵn nhụi, ra điều ta đây lịch thiệp xúng xính trong bộ đồ diện kia là ai thế?”
“Đó là Đại úy L****, chủ nhân của con tàu này — lão là một trong những trùm chóp bu đấy.”
Chẳng bao lâu sau, tôi lại lảng vảng tới mạn phải của buồng lái và tình cờ thấy một chiếc kính lục phân nằm trên ghế dài. Hừm, tôi tự nhủ, người ta “đo chiều cao mặt trời” bằng cái thứ này đây; chắc là mình cũng có thể nhìn thấy con tàu kia qua nó nhỉ. Tôi vừa mới đưa kính lên ngắm thì có ai đó chạm vào vai tôi và nói với giọng nhún nhường:
“Tôi đành phải phiền anh đưa lại cái đó cho tôi thôi, thưa ngài. Nếu có điều gì ngài muốn biết về việc đo đạc mặt trời, tôi sẵn sàng giải đáp ngay — nhưng tôi không thích giao phó cái dụng cụ ấy cho bất kỳ ai. Nếu ngài cần tính toán gì — Ơi, có mặt đây, thưa đại úy!”
Ông ta đã vội vã chạy đi đáp lại tiếng gọi từ phía mạn bên kia. Tôi lại tìm gặp tay thủy thủ quét boong.
“Thế còn cái gã người nhện chân dài ngoằng mang vẻ mặt ra điều thánh thiện đạo múc kia là ai thế hả?”
“Thưa ngài, đó là Đại úy Jones — thuyền phó nhất.”
“Chà. Thế này thì vượt xa mọi thứ tôi từng nghe thấy từ trước tới nay. Này — tôi xin hỏi anh với tư cách là một người anh em — liệu anh có nghĩ rằng tôi dám vất một hòn đá về bất kỳ hướng nào mà không trúng phải một vị đại úy nào đó trên con tàu này không?”
“Thưa ngài, tôi cũng không rõ nữa — có lẽ ngài sẽ ném trúng đại úy trực ban đấy, bởi vì ngài ấy đang đứng sững ngay ở lối đi kìa.”
Tôi lủi thủi đi xuống dưới — trong lòng đầy vẻ ngẫm nghĩ và có chút chán nản. Tôi thầm nghĩ, nếu năm ông đầu bếp có thể phá hỏng một nồi canh, thì không biết năm vị đại úy sẽ làm gì với một chuyến du ngoạn giải trí đây.