Những Kẻ Ngây Thơ Du Ngoại

Lượt đọc: 249 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 55

❊ ❊ ❊

Chúng tôi tổng kết lại sổ sách. Mọi khoản thu chi khớp khá ổn. Ở Jerusalem chẳng còn gì để xem, ngoại trừ những ngôi nhà truyền thống của Dives và Lazarus trong ngụ ngôn, lăng mộ của các vị vua và các thẩm phán; nơi họ ném đá đến chết một môn đồ và chặt đầu một môn đồ khác; căn phòng và chiếc bàn nổi tiếng vì Bữa Tiệc Ly; cây vả mà Chúa Jesus đã khiến cho héo khô; một số địa điểm lịch sử quanh Gethsemane và Núi Olives, cùng mười lăm hay hai mươi chốn khác rải rác trong lòng thành phố.

Chúng tôi đang tiến đến chặng cuối. Bản năng con người lúc này trỗi dậy. Tình trạng làm việc quá sức và kiệt sức kéo theo bắt đầu gây ra hệ quả tất yếu. Chúng bắt đầu bóp nghẹt năng lượng và làm nhụt đi nhiệt huyết của cả đoàn. Giờ đây, khi đã hoàn toàn yên tâm rằng mình không bỏ sót bất kỳ tiểu tiết nào của cuộc hành hương, họ cảm thấy muốn ứng trước kỳ nghỉ sắp được ghi nhận cho mình. Họ đâm ra hơi lười biếng. Họ tới điểm ăn sáng muộn và ngồi lì rất lâu bên bàn ăn tối. Ba mươi hay bốn mươi lữ khách đã từ con tàu đi tới theo các ngả đường tắt, và những câu chuyện phiếm cứ thế được đem ra trao đổi rôm rả. Vào những buổi chiều oi ả, họ tỏ rõ ý thích nằm dài trên những chiếc đi-văng mát lạnh trong khách sạn, hút thuốc và trò chuyện về những trải nghiệm thú vị của khoảng một tháng trước đó — bởi vì ngay từ lúc này đây, những sự kiện lữ hành đôi lúc gây bực bội, đôi lúc làm người ta phát điên và cũng thường chẳng có mấy ý nghĩa khi chúng xảy ra, đã bắt đầu vượt lên trên cái bề mặt phẳng lặng của những ký ức đơn điệu để trở thành những cột mốc rõ hình hài trong ký ức mỗi người. Tiếng còi sương mù, bị bóp nghẹt giữa hàng triệu âm thanh vụn vặt, chẳng ai để ý tới dù chỉ cách một dãy nhà trong thành phố, nhưng người thủy thủ lại nghe thấy nó từ ngoài khơi xa, nơi mà hàng ngàn thứ âm thanh vụn vặt ấy chẳng thể với tới. Khi người ta ở Rome, mọi mái vòm đều giống nhau; nhưng khi đã rời đi mười hai dặm, thành phố hoàn toàn mờ khuất khỏi tầm mắt và chỉ để lại đỉnh St. Peter nhô lên trên vùng đồng bằng phẳng lặng giống như một quả khinh khí cầu được neo giữ. Khi người ta du lịch ở Châu Âu, những biến cố hằng ngày có vẻ đều ná ná nhau; nhưng khi đã đặt tất cả chúng lùi lại phía sau hai tháng và hai ngàn dặm, những sự kiện đáng nhớ sẽ trở nên nổi bật, còn những thứ thực sự tầm thường thì đã phai mờ. Khuynh hướng hút thuốc, lười nhác và trò chuyện này không phải là điều hay. Rõ ràng không thể để nó lấn tới. Phải thử tìm một sự đổi gió, bằng không sự sa sút tinh thần sẽ xảy ra. Sông Jordan, Jericho và Biển Chết được đề xuất. Phần còn lại của Jerusalem đành phải gác lại, chưa ghé thăm vội. Chuyến đi lập tức được tán thành. Luồng sinh khí mới sục sôi trong từng mạch máu. Được ngồi trên yên ngựa — dạo bước trên những đồng bằng — ngủ trong những căn lều chẳng có ranh giới nào khác ngoài đường chân trời: trí tưởng tượng bỗng chốc bay bổng với những điều ấy. — Thật đáng ngạc nhiên khi thấy những con người quen sống chốn thị thành này lại dễ dàng thích nghi với đời sống phóng khoáng nơi trại tạm và chốn hoang mạc đến thế. Bản năng du mục vốn là bản năng của con người; nó sinh ra cùng Adam và được truyền đời qua các tộc trưởng, và sau ba mươi thế kỷ nỗ lực không ngừng nghỉ, nền văn minh vẫn chưa thể tẩy sạch nó hoàn toàn khỏi chúng ta. Nó có một sức hút mà một khi đã nếm trải, con người ta sẽ khao khát được nếm lại lần nữa. Bản năng du mục hoàn toàn không thể bị giáo dục để mất đi ở một người da đỏ.

Chuyến đi sông Jordan đã được thông qua, người dẫn đường của chúng tôi được báo tin.

Đúng chín giờ sáng, đoàn lữ hành đã tập hợp trước cửa khách sạn và chúng tôi đang dùng điểm tâm. Khung cảnh xung quanh nhốn nháo hẳn lên. Những tin đồn về chiến tranh và đổ máu bay đi khắp nơi. Lũ Bedouin vô pháp trong Thung lũng Jordan và các vùng hoang mạc dọc Biển Chết đã nổi dậy cầm vũ khí, và định tiêu diệt bất kỳ kẻ nào bén mảng tới. Chúng đã giao tranh với một đội kỵ binh Thổ Nhĩ Kỳ và đánh bại họ; vài người đã thiệt mạng. Chúng vây hãm cư dân của một ngôi làng cùng một đồn lính Thổ Nhĩ Kỳ trong pháo đài cổ gần Jericho. Chúng đã tiến đánh một trại lữ hành của đoàn chúng ta bên bờ sông Jordan, và những người hành hương chỉ giữ được tính mạng nhờ lén lút trốn chạy về Jerusalem trong đêm tối dưới làn roi và tiếng thúc ngựa phi nước đại. Một nhóm khác trong đoàn chúng tôi cũng đã bị bắn tỉa từ chỗ phục kích rồi bị tấn công giữa ban ngày. Tiếng súng vang lên từ cả hai phía. May thay không có đổ máu. Chúng tôi đã trò chuyện chính với vị lữ khách từng nã một phát súng ấy, và nghe anh ta kể lại bằng chính miệng mình rằng trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc đó, chỉ có sự can đảm bình tĩnh của những người hành hương, số lượng áp đảo cùng màn giương oai múa võ rầm rộ của trang thiết bị quân sự mới cứu họ khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn. Có tin đồn rằng Ngài Lãnh sự đã yêu cầu không được có thêm đoàn lữ hành nào của chúng ta đến sông Jordan chừng nào tình hình này còn kéo dài; hơn thế nữa, ông ấy cũng không muốn bất kỳ ai đi nữa, ít nhất là nếu không có một đội vệ binh quân sự hùng hậu bất thường. Rắc rối đây rồi. Nhưng khi ngựa đã đứng sẵn ngoài cửa và ai nấy đều thừa biết mình có mặt ở đó để làm gì, bạn sẽ xử trí thế nào đây? Thừa nhận rằng mình sợ hãi và hèn nhát rút lui sao? Khó lòng lắm. Sẽ chẳng phải là con người nếu làm thế, nhất là khi có quá nhiều phụ nữ trong đoàn. Bạn cũng sẽ hành động như chúng tôi thôi: tuyên bố rằng mình chẳng sợ một triệu tên Bedouin nào cả — rồi âm thầm lập di chúc và tự nhủ sẽ kín đáo chiếm một vị trí khiêm nhường ở tận cùng đoàn diễu hành.

Tôi nghĩ tất cả chúng tôi hẳn đã cùng thống nhất một chiến thuật, bởi có cảm giác như thể chúng tôi chẳng bao giờ đến được Jericho vậy. Con ngựa của tôi nổi tiếng là chậm chạp, thế mà chẳng hiểu sao tôi không tài nào giữ nó đi tụt lại phía sau để bảo toàn cái mạng nhỏ của mình. Nó cứ liên tục chồm lên dẫn đầu. Trong những tình huống như vậy, tôi hơi run rẩy và trèo xuống để chỉnh lại yên ngựa. Nhưng chẳng ích gì. Những người khác cũng đều trèo xuống để chỉnh lại yên ngựa của họ. Tôi chưa từng thấy cái thời buổi nào mà yên ngựa lại giở chứng nhiều đến thế. Đó là lần đầu tiên trong vòng ba tuần có chiếc yên nào bị hỏng, thế mà giờ đây tất cả chúng lại lăn ra hỏng cùng một lúc. Tôi thử đi bộ để tập thể dục — tôi vốn chưa vận động đủ khi lùng sục các thánh tích ở Jerusalem. Nhưng chẳng ăn thua. Cả đám đông đang khao khát được vận động, và chưa đầy mười lăm phút sau, tất cả bọn họ đều đã xuống đi bộ và tôi lại một lần nữa rơi vào thế dẫn đầu. Thật là nản lòng.

Tất cả chuyện này diễn ra sau khi chúng tôi đã qua khỏi Bethany. Chúng tôi dừng chân tại ngôi làng Bethany, cách Jerusalem một tiếng đi đường. Họ cho chúng tôi xem ngôi mộ của Lazarus. Tôi thà sống ở đó còn hơn ở bất kỳ ngôi nhà nào trong thị trấn. Và họ cũng cho chúng tôi xem một “Suối nước Lazarus” lớn, cùng căn nhà cổ của Lazarus nằm ngay giữa làng. Lazarus có vẻ là một người có của ăn của để. Những giai thoại ở Trường Chúa Nhật đã đối xử rất bất công với ông; chúng gieo cho người ta ấn tượng rằng ông là kẻ nghèo khó. Ấy là vì họ nhầm lẫn ông với vị Lazarus chẳng có công đức nào ngoài lòng tốt, mà lòng tốt thì xưa nay vốn chẳng thể sánh được với tiền bạc về độ uy quyền. Ngôi nhà của Lazarus là một tòa kiến trúc ba tầng bằng đá khối, nhưng lớp rác rưởi tích tụ qua nhiều thời đại đã vùi lấp toàn bộ phần dưới, chỉ chừa lại tầng trên cùng. Chúng tôi cầm nến đi xuống những căn phòng tối tăm như thể những buồng giam, nơi Chúa Jesus từng ngồi dùng bữa cùng Martha và Mary, và trò chuyện với họ về người anh trai. Chúng tôi không khỏi nhìn những gian phòng cổ kính, tối tăm ấy với một niềm hứng khởi vượt mức bình thường.

Chúng tôi từng thoáng thấy Biển Chết từ trên đỉnh núi, trông như một chiếc khiên xanh nằm trải dài trên đồng bằng sông Jordan, và giờ đây chúng tôi đang tiến xuống một khe núi hẹp, nóng như thiêu đốt, gập ghềnh và hoang vu, nơi chẳng có sinh vật nào có thể tận hưởng sự sống, ngoại trừ, có lẽ là một con kỳ nhông. Thật là một chốn hoang mạc ảm đạm, ghê tởm và đáng sợ làm sao! Đó chính là “vùng hoang dã” nơi Gioan từng ra giảng đạo, với tấm vải lông lạc đà quấn quanh hông — ngần ấy y phục là đủ — nhưng chắc chắn ông không thể nào kiếm nổi châu chấu và mật ong rừng ở cái chốn này. Chúng tôi cứ lầm lũi tiến xuống cái nơi khủng khiếp ấy, ai nấy đều dạt ra phía sau. Đám vệ binh của chúng tôi — hai gã tù trưởng Ả Rập hào nhoáng mang trên người cả một kho gươm, súng, súng lục và dao găm — thì đang phe phẩy đi trước.

“Bọn Bedouin!”

Mỗi người đều co rúm lại và chui tọt vào trong lớp áo của mình giống như một con rùa đất. Bản năng đầu tiên của tôi là lao lên phía trước để tiêu diệt bọn Bedouin. Bản năng thứ hai của tôi là phi thật nhanh về phía sau để xem có kẻ nào đang tiến tới từ hướng đó không. Tôi hành động theo bản năng thứ hai. Tất cả những người khác cũng vậy. Nếu có bất kỳ tên Bedouin nào tiếp cận chúng tôi từ góc độ đó vào lúc ấy, chúng sẽ phải trả giá đắt cho sự liều lĩnh của mình. Tất cả chúng tôi đều bàn tán về điều đó sau này. Sẽ có những cảnh tượng bạo loạn và đổ máu xảy ra ở đó mà không ngòi bút nào tả xiết. Tôi thừa biết điều đó, bởi vì ai nấy đều kể lại những gì mình dự định sẽ làm với tư cách cá nhân; và một tá những phát minh kỳ quái, chưa từng có về sự tàn ác mà bạn không thể nào tưởng tượng nổi. Một người nói rằng anh ta đã bình tĩnh hạ quyết tâm sẽ hy sinh tại chỗ nếu cần thiết, nhưng tuyệt đối không lùi một bước; anh ta sẽ đợi với một sự kiên nhẫn chết chóc cho đến khi đếm được những sọc vằn trên chiếc áo khoác của tên Bedouin đầu tiên, rồi cứ thế mà đếm và cho hắn một trận. Một người khác thì định ngồi im cho đến khi ngọn giáo đầu tiên chĩa sát ngực mình, rồi sẽ né sang một bên và chộp lấy nó. Tôi xin phép không kể lại anh ta định làm gì với tên chủ nhân của ngọn giáo đó. Nghĩ đến thôi cũng đủ làm máu trong người tôi đông cứng lại. Một kẻ khác lại tính chuyện lột da những tên Bedouin nào rơi vào tay mình, rồi áp tải những gã con hoang đầu trọc của sa mạc ấy về nhà còn sống để làm chiến lợi phẩm. Riêng vị lữ khách thi sĩ với ánh mắt hoang dại thì vẫn im lặng. Tròng mắt ông ánh lên một thứ ánh sáng chết chóc, nhưng đôi môi hoàn toàn mím chặt. Sự lo lắng dâng cao, và ông bị gạn hỏi. Nếu tóm được một tên Bedouin, ông sẽ làm gì với hắn — bắn hạ hắn chăng? Ông mỉm cười với vẻ khinh miệt lạnh lùng rồi lắc đầu. Sẽ đâm hắn ư? Lại một cái lắc đầu. Sẽ phanh thây hắn — lột da hắn chứ? Thêm những cái lắc đầu. Ôi trời! Kinh hoàng thay, ông định làm gì cơ chứ?

“Ăn thịt hắn!”

Đó là câu phán quyết khủng khiếp vang lên từ đôi môi ông. Ngữ pháp thì xá gì với một kẻ liều lĩnh như thế? Tôi thầm thấy nhẹ nhõm trong lòng vì đã thoát khỏi những cảnh tượng tàn sát đẫm máu đến rợn người ấy. Chẳng có tên Bedouin nào tấn công cái hậu phương đáng sợ của chúng tôi cả. Và cũng chẳng có tên nào tấn công phía tiền phương. Những kẻ mới xuất hiện thực chất chỉ là một nhóm tăng viện gồm những tên Ả Rập gầy giơ xương, mặc áo sơ mi và đi chân đất, được phái đi trước chúng tôi một đoạn xa để khua chiêng gõ mõ, vung vẩy những khẩu súng rỉ sét, hò hét, khoác lác và làm trò như những kẻ mất trí, nhằm dọa cho khiếp sợ mọi băng đảng Bedouin cướp bóc có thể đang rình rập dọc theo con đường chúng tôi đi. Thật là hổ thẹn làm sao khi những người Cơ Đốc giáo da trắng mang vũ khí lại phải di chuyển dưới sự bảo vệ của một lũ đê tiện thế này để chống lại những kẻ lang thang vô lại nơi sa mạc — những kẻ ngoài vòng pháp luật đầy sát khí ấy lúc nào cũng ra vẻ sắp làm điều gì đó táo tợn, nhưng rốt cuộc chẳng bao giờ dám làm. Tôi cũng xin được nhắc lại ở đây rằng trong suốt chuyến đi, chúng tôi chẳng hề thấy bóng dáng tên Bedouin nào, và sự có mặt của đám vệ binh Ả Rập cũng vô dụng chẳng khác gì đôi bốt da bóng hay găng tay da dê trắng. Lô quân Bedouin từng tấn công dữ dội vào các đoàn lữ khách khác thực chất đều do chính đám vệ binh Ả Rập của các đoàn đó dàn dựng cho từng dịp, được điều động từ Jerusalem đến để tạm thời đóng vai người Bedouin. Họ đã tụ họp lại ngay trước mắt đoàn lữ khách sau trận chiến, cùng nhau ăn trưa, chia chác số tiền boa vòi vĩnh được trong mùa nguy hiểm, rồi túc trực hộ tống đoàn kỵ mã trở về thành phố! Cái phiền toái mang tên vệ binh Ả Rập ấy là sản phẩm do chính các tù trưởng và tộc trưởng Bedouin cùng cấu kết tạo ra nhằm mưu lợi chung, người ta đồn thế, và chắc chắn điều đó có rất nhiều phần sự thật.

Chúng tôi đã đến thăm dòng suối mà tiên Elisha từng làm cho ngọt nước (đến nay nó vẫn ngọt), nơi ông từng lưu lại một thời gian và được quạ mang thức ăn đến nuôi.

Jericho cổ đại trông không mấy nên thơ khi chỉ còn là một đống đổ nát. Khi Joshua đi vòng quanh nó bảy lần vào khoảng ba ngàn năm trước, rồi thổi sập nó bằng tiếng kèn trác-bét của mình, ông đã làm việc đó quá xuất sắc và triệt để đến mức hầu như chẳng chừa lại nổi một mẩu thành nào để mà ngả bóng. Lời nguyền giáng xuống việc tái thiết nó chưa từng được gỡ bỏ. Có vị vua nọ xem thường lời nguyền, đã liều lĩnh thử sức, nhưng rồi phải chịu những đòn trừng phạt khốc liệt vì sự xấc láo của mình. Vị trí của nó sẽ mãi mãi hoang phế; thế mà đây lại là một trong những địa điểm tuyệt vời nhất để lập thị trấn mà chúng tôi từng thấy trên khắp đất Palestine.

Đến hai giờ sáng, họ lôi chúng tôi ra khỏi giường — lại thêm một hành động tàn nhẫn vô cớ — lại thêm một nỗ lực ngu ngốc của gã hướng dẫn viên nhằm vượt mặt đối thủ. Chỉ chưa đầy hai tiếng nữa là tới sông Jordan. Dù vậy, chúng tôi vẫn kịp sửa soạn quần áo và lên đường trước khi có ai đó thèm nhìn xem bây giờ là mấy giờ, thế nên chúng tôi cứ thế gà gật trôi qua bầu không khí đêm lạnh giá và mơ về những ngọn lửa trại, những chiếc giường ấm áp cùng những thứ thoải mái khác.

Chẳng có cuộc trò chuyện nào diễn ra. Con người ta không mở miệng nổi khi đang lạnh cóng, khốn khổ và ngái ngủ. Thỉnh thoảng chúng tôi lại gục đầu trên yên ngựa, rồi giật mình tỉnh giấc khi nhận ra đoàn diễu hành đã biến mất trong bóng đêm. Thế là mọi người lại hừng hực tinh thần và tập trung làm việc cho đến khi những bóng đen mờ ảo của đoàn hiện ra trước mắt. Thỉnh thoảng lại có khẩu lệnh được truyền nhỏ dọc theo hàng ngũ: “Dồn lại gần nhau — dồn lại đi! Lũ Bedouin đang rình rập khắp nơi đấy!” Ôi, một cảm giác rợn ngợp đến tê tái làm sao chạy dọc sống lưng!

Chúng tôi đến dòng sông nổi tiếng trước bốn giờ, và đêm tối mịt mùng đến nỗi chúng tôi suýt phi thẳng xuống nước mà chẳng hề hay biết. Vài người trong chúng tôi mang tâm trạng vô cùng bức bối. Chúng tôi cứ mỏi mòn chờ đợi ánh bình minh nhưng nó chẳng chịu ló dạng. Cuối cùng, chúng tôi đành rời đi trong bóng tối và nằm ngủ thiếp đi suốt một tiếng đồng hồ trên mặt đất, giữa những lùm cây, để rồi bị cảm lạnh. Đó là một giấc ngủ trả giá đắt vì lý do ấy, nhưng xét mặt khác thì nó lại là một sự đầu tư có lời bởi nó giúp chúng tôi quên đi những phút giây ảm đạm và đưa tâm trạng vào trạng thái sẵn sàng hơn một chút để đón nhận cái nhìn đầu tiên về dòng sông linh thiêng.

Ngay khi ánh bình minh vừa hé lộ, mọi người hành hương đều cởi bỏ y phục và lội ùm xuống dòng nước xoáy tối sầm, miệng hát vang:

“Trên bờ sông Jordan đầy giông tố,

Tôi đứng hướng cái nhìn tha thiết

Về vùng đất Canaan tươi đẹp và hạnh phúc,

Nơi sản nghiệp của tôi đang nằm đó.”

Nhưng họ chẳng hát được lâu. Nước lạnh buốt thấu xương khiến họ buộc phải ngừng hát và cuống cuồng lội ngược lên bờ. Sau đó, họ đứng run lẩy bẩy trên bờ, mang theo nỗi bẽ bàng và cay đắng đến mức đáng được dành cho niềm trắc ẩn thiêng liêng nhất. Bởi vì một giấc mơ nữa, một niềm hy vọng ấp ủ bấy lâu lại tan thành mây khói. Họ từng tự hứa suốt dọc đường rằng sẽ vượt sông Jordan ngay tại nơi mà người Israel đã băng qua khi họ tiến vào Canaan sau cuộc hành hương dài đằng đẵng qua sa mạc. Họ sẽ vượt qua đúng nơi mười hai hòn đá từng được đặt để ghi nhớ sự kiện vĩ đại đó. Khi làm điều ấy, họ sẽ mường tượng trong đầu đoàn quân lữ hành đông đảo đang tiến bước qua dòng nước rẽ đôi, mang theo hòm giao ước thiêng liêng, hô vang những lời ho-san-na và cất cao khúc ca tạ ơn cùng ngợi ca. Ai nấy đều tự hứa rằng mình sẽ là người đầu tiên đặt chân sang bờ bên kia. Cuối cùng thì họ cũng đã đến được cái đích của những khát vọng, ngặt nỗi dòng nước thì quá xiết mà nước thì quá lạnh!

Chính vào lúc đó, Jack đã cứu rỗi họ. Với sự liều lĩnh đáng yêu trước mọi hậu quả vốn là bản chất của tuổi trẻ, đồng thời cũng thật tự nhiên và đúng mực biết bao, cậu đã tiến lên dẫn đường băng qua sông Jordan, và niềm vui sướng lại trọn vẹn trở lại. Thế là từng người một lội qua và đứng vững trên bờ bên kia. Nước ở bất cứ đâu cũng không quá ngực. Nếu sâu hơn chút nữa, có lẽ chúng tôi khó lòng hoàn thành được kỳ tích đó, bởi dòng chảy mạnh sẽ cuốn phăng chúng tôi xuống hạ nguồn, và chúng tôi sẽ kiệt sức rồi chết đuối trước khi kịp tìm thấy một chỗ để lên bờ. Khi mục tiêu chính đã đạt được, nhóm người ủ rũ, khốn khổ liền ngồi xuống chờ mặt trời mọc trở lại, bởi ai cũng muốn được tận mắt nhìn ngắm dòng nước chứ không chỉ cảm nhận nó bằng da bằng thịt. Nhưng đó lại là một trò tiêu khiển quá đỗi buốt giá. Một vài chiếc bình được múc đầy nước từ dòng sông thánh, dăm ba cây gậy được chặt dọc bờ, rồi chúng tôi trèo lên yên ngựa, miễn cưỡng phi đi để tránh bị chết cóng. Cứ thế, chúng tôi chỉ nhìn thấy sông Jordan một cách vô cùng mờ ảo. Những bụi cây rậm rạp viền quanh bờ sông hắt cái bóng của chúng lên làn nước nông, cuồn cuộn (“giông tố”, như cách bài thánh ca gọi nó, quả là một sự phóng đại đầy tính thi vị), khiến chúng tôi chẳng thể ước lượng được độ rộng của dòng sông bằng mắt thường. Tuy nhiên, qua kinh nghiệm lội qua sông, chúng tôi thừa biết rằng nhiều con phố ở Mỹ còn rộng gấp đôi sông Jordan.

Ánh ban mai ló dạng ngay sau khi chúng tôi lên đường, và chỉ trong vòng một hai tiếng, chúng tôi đã đến Biển Chết. Chẳng có gì mọc nổi trên vùng sa mạc phẳng lì, nóng như lửa đốt xung quanh nó ngoại trừ cỏ dại và loài quả Biển Chết mà các nhà thơ ca tụng là đẹp đẽ ở vẻ bề ngoài nhưng sẽ vỡ vụn thành tro bụi ngay khi bạn bẻ đôi. Những quả chúng tôi tìm thấy trông chẳng đẹp đẽ gì, nhưng vị của chúng thì đắng ngắt. Chúng chẳng hề tiết ra chút tro bụi nào. Có lẽ là vì chúng chưa chín.

Vùng sa mạc và những ngọn đồi cằn cỗi ánh lên dưới cái nắng gay gắt đến nhức nhối bao quanh Biển Chết, chẳng có lấy một cảnh trí dễ chịu hay một sinh vật sống nào trên mặt nước hay ven bờ để làm vui mắt người nhìn. Đó là một chốn hoang vu héo hắt, khô cằn và đầy ghê rợn. Một sự tĩnh lặng bao trùm không gian mang lại cảm giác nặng nề cho tâm trí. Nó khiến người ta liên tưởng đến tang tóc và sự chết chóc.

Biển Chết có diện tích nhỏ. Nước ở đây rất trong, đáy trải đầy sỏi và có độ nông khá xa tính từ bờ. Nó sản sinh ra một lượng lớn nhựa đường; từng mảnh nhựa đường vương vãi khắp các bờ biển; thứ chất này khiến nơi đây thoang thoảng một mùi hương khó chịu.

Mọi sách vở chúng tôi từng đọc đều khiến chúng tôi đinh ninh rằng cú lao mình đầu tiên xuống Biển Chết sẽ đi kèm với những hậu quả đau đớn tột cùng — cơ thể chúng tôi sẽ có cảm giác như bị hàng triệu cây kim nung đỏ đâm vào; cơn đau buốt khủng khiếp sẽ kéo dài hàng giờ liền; chúng tôi thậm chí có thể bị phồng rộp từ đầu đến chân và chịu đựng sự hành hạ khốn khổ trong nhiều ngày trời. Rất tiếc, chúng tôi đã phải thất vọng. Tám người chúng tôi nhảy ùm xuống cùng lúc với một đoàn lữ khách khác, và chẳng có lấy một tiếng thét vang lên. Chẳng ai trong số họ phàn nàn điều gì hơn là một cảm giác châm chích nhẹ ở những vùng da bị trầy xước, và cảm giác ấy cũng chỉ kéo dài trong chốc lát. Mặt tôi bị rát suốt mấy tiếng đồng hồ, nhưng một phần là do tôi bị cháy nắng nặng trong lúc tắm và ngâm mình dưới nước lâu đến mức da đóng lại một lớp muối trắng phau.

Không, làn nước không hề làm chúng tôi phồng rộp; nó không phủ lên người chúng tôi một lớp nhầy nhụa hay ban phát cho chúng tôi một thứ hương thơm ngào ngạt kinh hoàng; nước cũng chẳng mấy nhờ nhờ; và tôi chẳng thể nhận thấy chúng tôi có mùi nào tệ hơn cái mùi mà chúng tôi vẫn mang trên người kể từ khi đặt chân đến Palestine cả. Đó chỉ là một loại mùi khác biệt, nhưng không vì thế mà quá nổi bật, bởi chúng tôi vốn đã có đủ loại mùi đa dạng ở cái xứ này. Mùi của chúng tôi ở sông Jordan không giống với mùi ở Jerusalem; và mùi của chúng tôi ở Jerusalem cũng chẳng y hệt như lúc ở Nazareth, Tiberias, Cesarea Philippi, hay bất kỳ thị trấn cổ kính hoang tàn nào khác ở Galilee. Không, chúng tôi thay đổi liên tục, và nhìn chung là theo chiều hướng tệ đi. Chúng tôi tự giặt giũ quần áo lấy mà.

Đó là một màn tắm thật buồn cười. Chúng tôi không thể chìm. Người ta có thể nằm ngửa duỗi thẳng cẳng, hai tay đặt trên ngực, và toàn bộ phần cơ thể từ đường kẻ kéo từ khóe hàm qua giữa mạn sườn, giữa cẳng chân rồi xuyên qua mắt cá chân trở lên sẽ hoàn toàn nổi trên mặt nước. Thậm chí người ta có thể nhấc bổng đầu hẳn lên nếu muốn. Chẳng có tư thế nào giữ được lâu; bạn sẽ mất thăng bằng và lật nhào, thoạt đầu ngửa ra sau rồi úp mặt xuống, cứ thế liên tục. Bạn có thể nằm thoải mái ngửa lưng, với phần đầu ngoi lên và cẳng chân nổi từ đầu gối trở xuống, miễn là dùng hai tay để giữ thăng bằng. Bạn có thể ngồi bó gối với hai tay ôm chặt lấy chân, nhưng chẳng mấy chốc bạn sẽ bị lật úp, bởi ở tư thế đó phần thân trên của bạn quá nặng. Bạn có thể đứng thẳng trong làn nước ngập qua đầu, và từ ngực trở lên sẽ không bị ướt chút nào. Nhưng bạn không thể duy trì tư thế đó lâu. Nước sẽ nhanh chóng đẩy đôi chân bạn nổi lên mặt nước. Bạn không thể bơi ngửa mà đạt được bất kỳ tốc độ đáng kể nào, bởi đôi chân cứnhô hẳn lên không trung và chẳng có gì để bơi ngoài gót chân cả. Nếu bơi sấp, bạn sẽ khỏa nước tung tóe chẳng khác gì một chiếc tàu thủy bánh guồng ở đuôi tàu. Bạn chẳng thể tiến lên nổi. Một con ngựa thì quá nặng phần thân trên nên nó không thể bơi hay đứng vững nổi ở Biển Chết. Nó sẽ lăn kềnh ra một bên ngay lập tức. Vài người trong chúng tôi đã ngâm mình hơn một tiếng đồng hồ, rồi bước lên bờ với lớp muối đóng cặn trên người sáng lấp lánh như những cây cột băng. Chúng tôi cọ sạch nó bằng một chiếc khăn thô ráp và phóng ngựa đi với một thứ mùi hoàn toàn mới mẻ tuyệt trần, dẫu rằng nó cũng chẳng khó chịu hơn những thứ mùi mà chúng tôi đã quen ngửi trong suốt mấy tuần qua. Chính cái sự quái đản đa sắc thái và mới lạ ấy đã khiến chúng tôi mê mẩn. Những tinh thể muối lấp lánh dưới ánh mặt trời dọc theo các bờ hồ. Ở một số nơi, chúng phủ kín mặt đất như một lớp vỏ băng rực rỡ.

Hồi còn là một đứa trẻ, chẳng hiểu sao tôi lại mang ấn tượng rằng sông Jordan dài tới bốn ngàn dặm và rộng ba mươi lăm dặm. Thực chất nó chỉ dài chín mươi dặm, và ngoar ngoèo đến mức nửa thời gian người ta chẳng biết mình đang đứng ở bờ nào. Trên hành trình chín mươi dặm ấy, nó chỉ vượt qua khoảng năm mươi dặm đường chim bay. Nó chẳng rộng hơn con phố Broadway ở New York là mấy.

Có Biển Galilee và cái Biển Chết này — cả hai đều chưa dài tới hai mươi dặm hay rộng mười ba dặm. Thế mà hồi học Trường Chúa Nhật, tôi cứ đinh ninh đường kính của chúng lên tới sáu mươi ngàn dặm.

Du lịch và trải nghiệm làm lu mờ những bức tranh hoành tráng nhất và cướp đi của chúng ta những truyền thống trân quý nhất thời thơ ấu. Thôi đành để chúng trôi qua vậy. Tôi đã chứng kiến Đế chế của Vua Solomon thu nhỏ lại bằng kích thước của tiểu bang Pennsylvania rồi; chắc tôi cũng có thể chịu đựng được việc các vùng biển và con sông bị thu hẹp lại.

Chúng tôi rảo mắt tìm kiếm khắp nơi trên đường đi, nhưng chẳng hề thấy bóng dáng hạt bụi hay hạt tinh thể nào của vợ Lot. Thật là một sự thất vọng lớn lao. Suốt bao nhiêu năm trời, chúng tôi đã quen thuộc với câu chuyện buồn về bà, và dành cho bà sự quan tâm mà bất hạnh luôn khơi gợi. Nhưng bà đã đi mất. Dáng hình đầy vẻ nên thơ của bà giờ đây không còn hiện lên trên vùng sa mạc Biển Chết để nhắc nhở du khách về hình phạt từng giáng xuống những thành phố lụi tàn.

Tôi không thể tả nổi cái buổi chiều tồi tệ khi cưỡi ngựa từ Biển Chết đến Mars Saba. Nghĩ lại thôi mà tôi vẫn còn thấy ngột ngạt. Ánh mặt trời nện xuống đầu chúng tôi khiến nước mắt trào ra khóe mi đôi ba lần. Những hẻm núi ma quái, không một bóng cây, không một thảm cỏ, không một ngọn gió đã bóp nghẹt chúng tôi như thể đang ở trong một cái lò nướng. Tôi nghĩ ánh mặt trời lúc ấy thực sự có trọng lượng. Chẳng một ai có thể ngồi thẳng lưng nổi dưới cái nắng đó. Tất cả đều rũ rượi trên yên ngựa. Gioan từng ra giảng đạo ở cái “vùng hoang dã” này ư! Chắc hẳn đó phải là một công việc vắt kiệt sức lực. Những ngọn tháp và thành lũy lộn xộn của tu viện Mars Saba rộng lớn trông mới thiên đường làm sao khi chúng tôi thoáng thấy chúng từ đằng xa!

Chúng tôi đã ở lại tu viện vĩ đại này suốt đêm, là khách của những vị linh mục hiếu khách. Mars Saba, chênh vênh trên một mỏm đá, một chiếc tổ loài người bám chặt vào vách núi thẳng đứng cao ngút ngàn, là một thế giới kiến trúc kỳ vĩ với những tầng tiếp nối tầng vươn cao tít tắp trên đầu bạn, giống như những dãy cột giật cấp và lùi sâu thường thấy trong các bức tranh tưởng tượng về Tiệc Vua Belshazzar và cung điện của các Pharaoh cổ đại. Xung quanh đó chẳng có khu dân cư nào khác. Nó được thành lập từ rất lâu đời bởi một vị ẩn sĩ thánh thiện, người ban đầu sống trong một hang động trên vách đá — một hang động nay đã nằm gọn trong tường tu viện, và được các linh mục thành kính dẫn chúng tôi đi xem. Vị ẩn sĩ ấy, bằng việc tra tấn thể xác ngặt nghèo, chế độ ăn chỉ gồm bánh mì và nước lọc, việc hoàn toàn tách biệt khỏi mọi mối quan hệ xã hội và những Phù phiếm trần gian, cùng sự cầu nguyện không ngừng và việc thánh thiện chiêm ngắm một chiếc đầu lâu, đã khơi dậy sự ngưỡng mộ và quy tụ quanh ông rất nhiều môn đồ. Vách đá ở bờ bên kia hẻm núi chi chít những cái lỗ nhỏ mà họ đã tự đục vào đá để ở. Những cư dân hiện tại của Mars Saba, số lượng khoảng bảy mươi người, đều là những tu sĩ ẩn tu. Họ mặc một chiếc áo choàng thô ráp, đội một chiếc mũ hình ống khói xấu xí không vành, và đi chân trần. Họ không ăn bất cứ thứ gì ngoài bánh mì và muối; họ không uống gì ngoài nước lọc. Chừng nào còn sống, họ tuyệt đối không được bước chân ra khỏi tường tu viện, hay nhìn thấy một người phụ nữ — bởi không một người phụ nữ nào được phép bước vào Mars Saba, dù với bất kỳ lý do gì đi nữa.

Một số người trong số họ đã bị giam hãm ở đó suốt ba mươi năm trời. Suốt khoảng thời gian ảm đạm ấy, họ chưa từng nghe thấy tiếng cười của một đứa trẻ hay giọng nói phước lành của một người phụ nữ; họ không thấy giọt nước mắt hay nụ cười nào của con người; họ chẳng biết đến niềm vui hay nỗi buồn lành mạnh nào của nhân thế. Trong trái tim họ không hề có ký ức về quá khứ, trong tâm trí không có những giấc mơ về tương lai. Tất cả những gì đáng yêu, tốt đẹp, xứng đáng, họ đã đẩy lùi về phía sau; chống lại mọi thứ dễ chịu khi ngắm nhìn, và mọi âm thanh du dương bên tai, họ đã đóng sập những cánh cửa đá khổng lồ và dựng lên những bức tường đá vô tình vĩnh viễn mãi mãi. Họ đã trục xuất vẻ duyên dáng dịu dàng của cuộc sống và chỉ chừa lại cái vỏ bọc khô khốc, trơ xương. Đôi môi họ là đôi môi chưa từng hôn và chưa từng cất tiếng hát; trái tim họ là trái tim chưa từng căm hận và chưa từng yêu thương; lồng ngực họ là lồng ngực chưa từng phồng lên với cảm xúc “Tôi có một tổ quốc và một lá quốc kỳ.” Họ là những thây ma biết đi.

Tôi ghi lại những suy nghĩ ban đầu này bởi vì chúng rất tự nhiên — chứ không phải vì chúng công tâm hay vì việc ghi lại chúng là đúng đắn. Các nhà văn rất dễ nói rằng “Tôi đã nghĩ thế này thế nọ khi ngắm nhìn khung cảnh nọ kia” — trong khi sự thật là họ đã nghĩ ra tất cả những điều hay ho đó sau khi sự việc đã qua đi. Suy nghĩ đầu tiên của một người thường không hoàn toàn chính xác, dẫu vậy chẳng có tội lỗi gì khi nghĩ thế và cũng chẳng có gì sai khi viết nó ra, dẫu nó sẽ chịu sự điều chỉnh của những trải nghiệm sau này. Những vị ẩn sĩ này đúng là những thây ma ở một vài khía cạnh, nhưng không phải ở tất cả; và thật không phải phép nếu cứ ôm ấp suy nghĩ tồi tệ về họ từ cái nhìn đầu tiên, hay cứ mãi nói xấu họ bằng những lời lặp đi lặp lại rồi bám lấy nó. Không, họ đối xử với chúng tôi quá đỗi tử tế để mà cư xử như thế. Đâu đó trong họ vẫn có sự ấm áp của con người. Họ thừa biết chúng tôi là người ngoại quốc và theo Kháng Cách, và chẳng có lý do gì để cảm thấy ngưỡng mộ hay thân thiện nhiều với họ. Nhưng lòng bác ái bao dung của họ vượt lên trên việc màng tới những điều đó. Họ chỉ nhìn thấy ở chúng tôi những con người đang đói khát và mệt mỏi, và thế là đủ. Họ mở rộng cửa đón chào chúng tôi. Họ không gặng hỏi câu nào, và cũng chẳng hề phô trương lòng hiếu khách của mình một cách tự mãn. Họ không câu nệ những lời tán dương. Họ lặng lẽ đi lại, dọn bàn ăn cho chúng tôi, trải giường và mang nước rửa mặt, chẳng hề phỏng vấn hay bận tâm khi chúng tôi bảo rằng thật sai trái khi để họ làm những việc đó trong khi chúng tôi có hẳn người phục vụ riêng để làm các công việc này. Chúng tôi đã có một kỳ nghỉ vô cùng thoải mái và ngồi bên bàn ăn tối muộn màng. Sau đó, chúng tôi đi dạo khắp tòa nhà cùng các tu sĩ, rồi ngồi trên những chiến lũy cao ngút hút thuốc trong lúc tận hưởng bầu không khí mát mẻ, phong cảnh hoang sơ và hoàng hôn buông xuống. Một vài người chọn những căn phòng ấm cúng để ngủ, nhưng bản năng du mục đã thúc giục phần còn lại ngủ trên chiếc đi-văng rộng chạy dọc theo sảnh lớn, bởi nó mang lại cảm giác giống như đang ngủ ngoài trời, vừa vui vẻ lại vừa hấp dẫn. Đó là một giấc ngủ vương giả mà chúng tôi có được.

Khi thức dậy để điểm tâm vào buổi sáng, chúng tôi đã trở thành những con người hoàn toàn mới mẻ. Chẳng có mức phí nghiêm ngặt nào được đặt ra cho lòng hiếu khách ấy. Chúng tôi có thể biếu chút ít nếu muốn; hoặc chẳng cho gì nếu nghèo khó hay keo kiệt. Kẻ bần cùng hay kẻ bủn xỉn đều được đối xử tự do như nhau trong các Tu viện Công giáo ở Palestine. Tôi vốn được giáo dục để mang mối thù địch với mọi thứ thuộc về Công giáo, và đôi khi, chính vì thế mà tôi thấy việc vạch ra lỗi lầm của người Công giáo dễ dàng hơn nhiều so với việc nhận ra công trạng của họ. Nhưng có một điều tôi không hề cảm thấy muốn phớt lờ hay lãng quên: đó chính là lòng biết ơn chân thành mà tôi và tất cả những người hành hương nợ các Cha sở trong các tu viện ở Palestine. Cửa của họ luôn rộng mở, và luôn có sự chào đón dành cho bất kỳ người xứng đáng nào ghé đến, dù kẻ đó mặc rách rưới hay khoác áo nhung tím. Các Tu viện Công giáo là một phúc lành vô giá cho người nghèo. Một người hành hương không tấc sắt dính túi, dù là theo phô-tít-tăng hay Công giáo, đều có thể đi dọc ngang khắp Palestine, và giữa những chốn hoang mạc cằn cỗi ấy, vẫn tìm thấy những bữa ăn lành mạnh cùng một chiếc giường sạch sẽ mỗi đêm tại những tòa nhà này. Những người hành hương có điều kiện hơn thường quỵ ngã vì nắng gắt và những cơn sốt của vùng đất này, và khi ấy chốn nương thân cứu mạng của họ chính là tu viện. Nếu không có những chốn dừng chân hiếu khách này, việc du lịch ở Palestine sẽ là một niềm vui mà chẳng mấy ai dám gan lỳ đảm đương nổi. Đoàn của chúng tôi, từ khách hành hương cho đến tất cả mọi người, sẽ luôn sẵn sàng và vui lòng nâng ly chúc sức khỏe, sự thịnh vượng và trường thọ cho các Cha sở tại các tu viện Palestine.

Thế là, sau khi đã nghỉ ngơi và lấy lại sức, chúng tôi lại xếp hàng lên đường, nối đuôi nhau vượt qua những ngọn núi cằn cỗi của xứ Judea, dọc theo những sườn đồi đá và băng qua những hẻm núi hoang vu, nơi sự tĩnh lặng và cô tịch ngự trị vĩnh hằng. Ngay cả những nhóm mục đồng có vũ trang rải rác mà chúng tôi gặp vào chiều hôm trước, đang chăn dắt những bầy dê lông dài, cũng chẳng còn xuất hiện ở đây nữa. Chúng tôi chỉ thấy hai sinh vật sống. Đó là loài linh dương nổi tiếng với “đôi mắt dịu dàng”. Trông chúng chẳng khác gì những chú dê con mới đẻ, nhưng chúng vượt qua khoảng cách nhanh như một chuyến tàu tốc hành. Tôi chưa từng thấy loài động vật nào di chuyển nhanh hơn thế, ngoại trừ có lẽ là loài linh dương sừng tấm ở những đồng cỏ bạt ngàn của quê hương chúng tôi.

Vào khoảng chín hay mười giờ sáng, chúng tôi đến Đồng bằng của các Mục đồng, và đứng trong một khu vườn ô-liu có tường bao quanh, nơi các mục đồng từng thức canh bầy gia súc của họ vào ban đêm, mười tám thế kỷ trước, khi muôn vàn thiên sứ mang đến cho họ tin mừng về sự ra đời của Đấng Cứu Thế. Cách đó một phần tư dặm là thành Bethlehem thuộc xứ Judea, và những người hành hương liền bẻ một ít viên đá từ bức tường rồi vội vã lên đường.

Đồng bằng của các Mục đồng là một vùng sa mạc, được lát bằng những viên đá dăm, không một bóng cây cỏ, chói lọi dưới ánh mặt trời gay gắt. Chỉ có khúc ca của các thiên sứ thuở nào mới có thể đánh thức những thảm bụi hoa cỏ nơi đây sống lại và khôi phục vẻ đẹp đã phai tàn của nó. Không một thứ phép thuật nào kém phần uy lực hơn có thể tạo nên phép màu này.

Trong Ngôi đền Giáng sinh khổng lồ ở Bethlehem, do vị hoàng thái hậu St. Helena kiên trì xây dựng từ mười lăm thế kỷ trước, họ đưa chúng tôi xuống tầng hầm, vào một hang động được đục sâu vào vách đá nguyên sinh. Đây chính là “máng cỏ” nơi Chúa Jesus chào đời. Một ngôi sao bằng bạc gắn trên sàn mang dòng chữ Latinh ghi nhận điều đó. Nó được mài nhẵn bởi những nụ hôn của nhiều thế hệ người hành hương sùng kính. Hang động được trang hoàng theo cái phong cách thiếu thẩm mỹ quen thuộc thường thấy ở tất cả các thánh tích của Palestine. Giống như trong Ngôi đền Mộ Thánh, sự đố kỵ và lòng ích kỷ cũng hiển hiện rõ nơi này. Các linh mục cùng các tín đồ của giáo hội Hy Lạp và Latinh không thể cùng đi qua một hànhロнг để quỳ gối nơi chốn đản sinh thiêng liêng của Đấng Cứu Thế, mà buộc phải tiếp cận và lui ra bằng những lối đi riêng, kẻo họ sẽ cãi lộn và đánh nhau ngay trên mảnh đất chí thánh này trên trái đất.

Tôi chẳng có chút “suy ngẫm” nào được gợi lên từ chốn này, nơi câu chúc “Giáng sinh vui vẻ!” đầu tiên trên toàn thế giới cất lên, và cũng là nơi người bạn thời thơ ấu của tôi, ông già Noel, bắt đầu chuyến hành trình đầu tiên của mình để mang lại niềm vui và tiếp tục sưởi ấm những lò sưởi bập bùng vào những buổi sáng mùa đông ở bao vùng đất xa xôi mãi mãi về sau. Tôi chạm bằng ngón tay đầy thành kính vào đúng nơi Chúa Jesus thủa nhỏ từng nằm, nhưng trong đầu tôi — chẳng suy nghĩ gì cả.

Bạn không thể suy nghĩ ở nơi này cũng giống như ở bất kỳ chốn nào khác tại Palestine có khả năng truyền cảm hứng suy tư. Những kẻ ăn xin, người tàn tật và tu sĩ vây quanh bạn, khiến bạn chỉ nghĩ đến tiền xin bố thí trong khi điều bạn thực sự muốn là suy ngẫm về thứ gì đó phù hợp hơn với bầu không khí của chốn này.

Tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi rời đi, và vui mừng biết bao khi chúng tôi đã đi qua những hang động nơi Eusebius từng viết sách, Jerome từng ăn chay, Joseph từng chuẩn bị cho chuyến trốn chạy sang Ai Cập, cùng hàng tá hang động nổi tiếng khác, để biết rằng chúng tôi đã hoàn thành xong xuôi. Ngôi đền Giáng sinh gần như nhét chật ních những thánh tích siêu linh thiêng chẳng kém gì Ngôi đền Mộ Thánh. Thậm chí trong đó còn có cả một hang động nơi hai mươi ngàn đứa trẻ từng bị Herod tàn sát trong lúc hắn truy lùng tính mạng của Đấng Cứu Thế khi còn là trẻ sơ Thơ.

Tất nhiên chúng tôi cũng ghé thăm Hang động Sữa — một hang động nơi Đức Mẹ Maria từng ẩn náu một thời gian trước cuộc trốn chạy sang Ai Cập. Vách hang vốn đen kmịt trước khi bà bước vào, nhưng trong lúc cho Con trẻ bú, một giọt sữa của bà rơi xuống sàn và lập tức biến bóng tối trên vách đá thành một màu trắng như tuyết. Chúng tôi đã nhặt rất nhiều mẩu đá nhỏ ở đây, bởi ai cũng rõ ở khắp phương Đông rằng một người phụ nữ hiếm muộn chỉ cần chạm đôi môi mình vào một trong những hòn đá này là căn bệnh khó sinh nở sẽ biến mất. Chúng tôi lấy rất nhiều mẫu vật, với mục đích mang lại hạnh phúc cho một số gia đình quen biết.

Chúng tôi rời khỏi Bethlehem với đám đông ăn xin và kẻ bán đồ cổ đeo bám vào buổi chiều, và sau khi dành chút ít thời gian tại lăng mộ của Rachel, liền vội vã trở về Jerusalem nhanh nhất có thể. Chưa bao giờ tôi cảm thấy mừng rỡ vì được trở về nhà đến thế. Chưa bao giờ tôi tận hưởng sự nghỉ ngơi trọn vẹn như trong vài giờ qua. Hành trình đến Biển Chết, sông Jordan và Bethlehem tuy ngắn ngủi nhưng lại vô cùng kiệt sức. Cái nóng như thiêu đốt, sự cô lập ngột ngạt và cảnh tượng hoang tàn thê lương ấy chắc chắn chẳng thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác trên trái đất. Và sự mệt mỏi mới khủng khiếp làm sao!

Sự khôn ngoan thông thường cảnh báo tôi rằng mình nên thốt ra lời nói dối dễ chịu quen thuộc, rằng tôi đã miễn cưỡng rời bỏ từng địa danh nổi tiếng ở Palestine. Ai cũng nói thế cả, nhưng với chút ít sự phô trương nhất có thể, tôi dám hoài nghi lời của bất kỳ gã đàn ông nào thốt ra câu đó. Tôi có thể tuyên thệ một cách đáng sợ rằng mình chưa từng nghe bất kỳ ai trong số bốn mươi người hành hương của chúng tôi nói câu đại loại thế, dẫu họ là những người đáng kính và sùng đạo chân thành nhất trong số những kẻ đến đây. Họ sẽ nói thế khi về đến nhà thôi, nhanh chóng ấy mà, nhưng sao lại không chứ? Họ chẳng dại gì đứng về phía đối lập với tất cả những Lamartine và Grimes trên thế giới này. Thật vô lý khi cho rằng người ta lại cảm thấy lưu luyến khi rời khỏi những nơi mà sự sống suýt chút nữa bị bóp nghẹt bởi những bầy ăn xin và kẻ bán hàng rong bám dai như đỉa vào tay áo và vạt áo, miệng gào thét bên tai và làm bợn tầm mắt người ta bằng những vết thương ghê rợn cùng dị tật được trưng bày ra. Người ta chỉ thấy mừng khi được đi khỏi. Tôi từng nghe những kẻ trơ trẽn nói rằng họ rất tiếc nuối khi phải rời khỏi các lễ hội của phụ nữ, nơi họ bị chèo kéo mua hàng bởi những bầy thiếu nữ xinh đẹp. Hãy biến những nàng tiên ấy thành những mụ già da ngăm đen và những kẻ hoang dã rách rưới, thay thế thân hình đẫy đà bằng những hình thù teo tóp, gồ ghề, đôi tay mềm mại bằng những vết sẹo gớm ghiếc, và âm nhạc du dương từ giọng nói của họ bằng thứ âm thanh chói tai của một ngôn ngữ đáng ghét, rồi xem thử khi ấy bạn còn có thể giữ lại được chút luyến tiếc nào không. Không, nói rằng mình luyến tiếc rồi đính kèm theo những suy nghĩ uyên bác “vùng vẫy chực trào” trong bộ não mới là kiểu cách bảnh tỏn; nhưng nói ra sự thật rằng mình chẳng hề luyến tiếc chút nào và thấy việc suy nghĩ là bất khả thi mới là điều đúng đắn — dẫu cho quả thực nói ra điều đó thì chẳng mấy lịch sự, cũng chẳng hề thi vị chút nào.

Chúng ta chẳng thể suy nghĩ nổi khi ở các thánh tích; chúng ta suy nghĩ khi nằm trên giường, lúc sau đó, khi thứ ánh sáng chói chang, tiếng ồn ào và sự hỗn loạn đã tan biến, và trong tưởng tượng, chúng ta đơn độc quay lại thăm những di tích trang nghiêm của quá khứ, gọi dậy những bóng ma của một thời đại đã trôi qua.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.