Hai mươi tư tiếng cuối cùng lưu lại Damascus, tôi ngã quỵ vì một trận tả lơ dữ dội, hay còn gọi là chứng thổ tả, thế nên tôi có sẵn cơ hội tuyệt vời cùng một cái cớ hoàn hảo để nằm dài trên chiếc ghế bành rộng rãi ấy mà nghỉ ngơi cho lại sức. Chẳng có việc gì làm ngoài việc lắng nghe tiếng đài phun nước róc rách, uống thuốc rồi lại nôn ra. Đó là một kiểu tiêu khiển nguy hiểm, nhưng dẫu sao vẫn dễ chịu hơn là đi du lịch ở Syria. Tôi có rất nhiều tuyết mang từ núi Hermon xuống, và vì nó chẳng chịu nằm yên trong dạ dày tôi, nên chẳng có gì cản trở tôi ăn nó cả—lúc nào cũng vẫn còn chỗ chứa. Tôi thấy vô cùng thoải mái. Du lịch xứ Syria cũng có những nét thú vị riêng, giống như ở bất cứ xó xỉnh nào trên thế giới này, nhưng quả thật, việc gãy chân hay mắc bệnh tả sẽ mang lại một chút đổi gió đáng mừng cho hành trình.
Chúng tôi rời Damascus vào buổi trưa, cưỡi ngựa băng qua vùng đồng bằng chừng hai tiếng đồng hồ, rồi cả đoàn dừng chân một lát dưới bóng mát của mấy gốc vả để cho tôi có cơ hội nghỉ ngơi. Đó là ngày nóng nhất mà chúng tôi từng trải qua—những luồng nắng chói chang phóng xuống hệt như những tia lửa phun ra từ ngọn mỏ hàn—từng tia nắng dường như trút xuống đầu chúng tôi như một trận hồng thủy và dội xối xả từ đỉnh đầu xuống tựa nước mưa dột qua mái nhà. Tôi tưởng tượng mình có thể phân biệt được từng đợt tia nắng ấy—tôi ngỡ mình nhận ra lúc nào từng đợt sóng nhiệt nện lên đầu, lúc nào chúng trượt xuống vai, và lúc nào đợt tiếp theo kéo tới. Thật là khủng khiếp. Cả sa mạc chói lòa đến mức mắt tôi ngấn lệ suốt dọc đường. Mấy cậu thanh niên mang theo những chiếc ô trắng có lớp lót dày màu xanh đậm vô cùng kín đáo. Chúng thực sự là một món quà vô giá. Tôi thầm cảm ơn may mắn vì bản thân cũng có một cái, dẫu cho nó đã được nhét gọn vào đống hành lý và hiện đang ở cách đây tận mười dặm. Thật là điên rồ nếu đi du lịch Syria mà không có ô che nắng. Hồi ở Beirut, người ta (những kẻ luôn nhồi nhét vào đầu bạn đủ thứ lời khuyên) đã bảo tôi rằng xách thân đến Syria mà không mang theo ô thì đúng là phát cuồng. Cũng chính vì thế nên tôi mới tậu một cây.

Nhưng thú thật, tôi nghĩ cái ô là một thứ vướng víu ở bất cứ đâu khi nhiệm vụ của nó là che nắng. Chẳng có gã Ả Rập nào đội mũ Tarboosh có vành, chẳng ai dùng ô hay bất cứ thứ gì để che mắt hoặc che mặt, thế nhưng họ lúc nào trông cũng có vẻ dễ chịu và thoải mái dưới ánh mặt trời. Thế nhưng, trong số những cảnh tượng nực cười nhất mà tôi từng chứng kiến, thì phám vi tám người bọn tôi mới là đỉnh cao của sự kệch cỡm—trông họ mới thảm hại và lố bịch làm sao. Họ nối đuôi nhau đi thành một hàng dọc; ai nấy quấn quanh mũ mình thứ vải trắng dài vô tận của thủ đô Constantinople, cứ quấn hết vòng này đến vòng khác rồi thả thòng lồng sau lưng; tất cả đều đeo kính râm màu xanh dày cộm có cả mảnh che hai bên; ai nấy giương cao những chiếc ô trắng lót xanh trên đầu; và không ngoại trừ một ai, bàn đạp của họ đều quá ngắn—họ đích thực là băng nhóm kị mã tồi tệ nhất trên cõi đời này, lũ ngựa của họ con nào con nấy phi vừa xóc vừa ác liệt—và khi chúng tản ra nối tiếp nhau, mắt trừng trừng nhìn thẳng phía trước trong trạng thái hụt hơi; nảy người lên cao lạc nhịp dọc suốt cả hàng; đầu gối dang cao và cứng đờ, khuỷu tay đập phành phạch hệt như cánh của một con gà trống sắp gáy, cùng với hàng ô dài cứ bật lên hạ xuống một cách co giật—khi người ta chứng kiến bức tranh lố bịch đến cùng cực này phơi bày dưới ánh ban mai, hẳn sẽ phải ngạc nhiên tự hỏi sao các vị thần lại không lôi sấm sét ra mà quét sạch bọn chúng khỏi mặt đất! Riêng tôi thì có—tôi vô cùng thắc mắc về điều đó. Chẳng đời nào tôi cho phép một đoàn lữ hành kiểu ấy đi qua vùng đất của mình.
Và khi mặt trời khuất dạng sau đường chân trời, đám thanh niên khép ô lại rồi kẹp vào nách, thì đó chỉ là một sự biến tấu của bức tranh chứ chẳng hề làm giảm bớt sự lố bịch của nó.
Nhưng có lẽ bạn không thể thấy hết vẻ hoang đường đến tột độ trong bức tranh toàn cảnh của tôi. Bạn sẽ thấy nếu bạn có mặt ở đây. Ở chốn này, lúc nào bạn cũng có cảm giác như thể mình đang sống vào khoảng năm 1200 trước Công nguyên—hoặc quay ngược về thời các tộc trưởng—hoặc tiến thẳng đến Kỷ nguyên Mới. Phong cảnh trong Kinh Thánh bao trùm lấy bạn—những phong tục của các bậc tổ phụ vây quanh bạn—cũng chính những con người ấy, trong những chiếc áo choàng thướt tha và đi dép xăng-đan, đang bước qua lối đi của bạn; những đoàn lạc đà oai vệ cứ đi rồi lại đến; cái vẻ tôn nghiêm và sự tĩnh mịch đầy thành kính của tôn giáo vẫn ngự trị trên sa mạc cùng núi non hệt như thuở hồng hoang cổ kính xa xôi ấy, và kìa, chen chân vào một khung cảnh như thế, lại là cái đám đông kỳ quái gồm toàn những gã Yank đeo kính xanh, với những khuỷu tay vỗ phành phạch và những cây ô nhấp nhô! Hệt như cảnh Đan-i-ên trong hang sư tử mà kẹp một cây ô bông màu xanh dưới nách vậy.
Chiếc ô của tôi nằm chung với đống hành lý, cặp kính râm cũng vậy—và cứ để chúng ở yên đấy. Tôi sẽ chẳng dùng đến đâu. Tôi phải bày tỏ chút tôn trọng đối với sự phù hợp vĩnh hằng của vạn vật chứ. Bị say nắng đã đủ tồi tệ lắm rồi, lại còn phải gánh thêm vẻ bề ngoài lố bịch nữa thì quá tội. Nếu có ngã gục, thì hãy để tôi ngã xuống trong hình hài của một Cơ Đốc nhân, ít ra là thế.
Cách Damascus chừng ba bốn tiếng đi đường, chúng tôi ngang qua nơi Phao-lô chịu phép cải đạo một cách đột ngột, và từ đây chúng tôi nhìn lại vùng sa mạc nóng như thiêu như đốt, thoáng thấy lần cuối cùng thành Damascus xinh đẹp khoác lên mình tấm áo choàng xanh ngắt rực rỡ. Khi màn đêm buông xuống, chúng tôi tới được lều của mình, nằm ngay bên ngoài cái làng Ả Rập tồi tàn Jonesborough. Dĩ nhiên tên thật của nơi đó là El gì gì đó, nhưng đám thanh niên vẫn nhất quyết từ chối thừa nhận hoặc tìm cách phát âm những cái tên Ả Rập ấy. Khi tôi nói rằng ngôi làng đó mang phong cách thông thường, ý tôi muốn ám chỉ rằng tất cả các làng mạc ở Syria trong bán kính năm mươi dặm quanh Damascus đều giống hệt nhau—giống đến mức phải có trí thông minh siêu phàm mới phân biệt nổi ngôi làng này khác ngôi làng kia ở điểm nào. Một ngôi làng Syria chẳng khác nào một tổ kén gồm những căn lều một tầng (cao ngang tầm một người), vuông vức hệt như một chiếc thùng các-tông đựng hàng; toàn bộ được trát bùn từ mái phẳng cho đến chân tường, và thường được quét vôi trắng theo một kiểu cách xộc xệch nào đó. Mái nhà thường trải dài che phủ một nửa thị trấn, trùm lên cả những con đường nhỏ vốn chỉ rộng chừng một thước. Khi bạn cưỡi ngựa đi qua một trong những ngôi làng này vào giữa trưa, đầu tiên bạn sẽ gặp một con chó thảm hại, nó ngước nhìn bạn và thầm cầu xin bạn đừng chà đạp lên nó, nhưng cũng chẳng thèm nhích người ra để nhường đường; tiếp đó bạn bắt gặp một đứa bé trai trần truồng không mảnh vải che thân, nó chìa tay ra và nói “Bucksheesh!”—nó chẳng thực sự mong đợi một xu nào đâu, nhưng khổ nỗi nó học được từ ấy trước cả khi biết gọi tiếng mẹ, và giờ thì chẳng tài nào bỏ thói quen ấy được; kế đến là một người phụ nữ với tấm khăn voan đen che kín mít khuôn mặt, nhưng phần ngực lại để lộ ra ngoài; cuối cùng, bạn chạm trán với vài đứa trẻ bị đau mắt hô-lê cùng lũ trẻ ở đủ mọi tình trạng thương tật và thối rữa; và ngồi khiêm nhường trong lớp bụi đất, quấn quanh mình đầy những mảnh vải rách rưới bẩn thỉu, là một gã khốn khổ có tay chân quắp lại và xoắn xít như dây nho. Đó là tất cả những con người mà bạn có thể trông thấy. Số dân cư còn lại đều đang ngủ vùi trong nhà, hoặc đi vắng để chăn dê ngoài đồng bằng và trên sườn đồi. Ngôi làng được xây dựng bên cạnh một con lạch nhỏ còi cọc ốm yếu, và xung quanh nó có một ít thảm thực vật trông còn tươi tắn. Vượt qua cái vòng tròn ma thuật ấy, trải dài ra nhiều dặm ở mọi hướng, là một vùng sa mạc cát sỏi mệt mỏi, nơi chỉ mọc lên những bụi cây xám xịt lùm xùm trông như ngải đắng. Làng mạc Syria chính là cảnh tượng thảm hại nhất trên đời, và khung cảnh xung quanh nó cũng hoàn toàn xứng tầm với cái sự thảm hại ấy.
Tôi sẽ chẳng buồn sa đà vào bài tiểu luận về các ngôi làng Syria này đâu nếu không vì sự thật là Nimrod, Thợ săn Vĩ đại nổi tiếng trong Kinh Thánh, được chôn cất ngay tại Jonesborough, và tôi muốn công chúng được biết rõ ông ta yên nghỉ ở chốn nào. Giống như Homer, người ta đồn ông được chôn cất ở nhiều nơi khác nhau, nhưng đây mới chính là nơi duy nhất đích thực chứa đựng tro cốt của ông.
Khi các bộ tộc nguyên thủy tan rã từ hơn bốn ngàn năm trước, Nimrod cùng một đoàn người đông đảo đã đi ba bốn trăm dặm và định cư tại nơi sau này trở thành thành phố vĩ đại Babylon. Nimrod chính là người xây dựng thành phố đó. Ông cũng bắt tay vào việc xây dựng Tháp Babel nổi tiếng, nhưng những hoàn cảnh nằm ngoài tầm kiểm soát đã tước đi quyền hoàn thành nó của ông. Dẫu vậy, ông cũng đã dựng nó cao tới tám tầng, và ngày nay vẫn còn lại hai tầng—một khối gạch khổng lồ bị động đất xé toạc ở chính giữa, bị thiêu đốt và hóa thủy bởi những tia chớp từ cơn thịnh nộ của Thượng Đế. Thế nhưng tàn tích vĩ đại ấy vẫn sẽ sừng sững qua nhiều thời đại, để làm hổ thẹn những nỗ lực còi cọc của các thế hệ loài người hiện đại. Những khoang khổng lồ của nó là nơi trú ngụ của loài cú và sư tử, còn lão Nimrod thì nằm lại trong ngôi làng khốn khổ này một cách vô chủ, cách xa hoàn toàn chốn vĩ nghiệp của cuộc đời ông.
Chúng tôi rời Jonesborough từ rất sớm vào buổi sáng, và cưỡi ngựa đi mãi, đi mãi, đi mãi—tôi có cảm giác là như vậy—qua những vùng sa mạc khô cằn và những ngọn đồi đá gồ ghề, bụng đói meo và chẳng có lấy một giọt nước để uống. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã nốc cạn sạch nước trong những chiếc bầu da dê. Đến trưa, chúng tôi dừng chân trước thị trấn Ả Rập khốn khổ El Yuba Dam, vắt vẻo trên sườn núi, nhưng tay thông dịch viên bảo rằng nếu chúng tôi đến đó xin nước thì sẽ bị cả bộ tộc tấn công, bởi vì họ không ưa người Cơ Đốc giáo. Chúng tôi đành phải tiếp tục lên đường. Hai tiếng sau, chúng tôi tới chân một ngọn núi đơn độc cao vút, trên đỉnh ngự trị tòa lâu đài đổ nát Banias, không còn nghi ngờ gì nữa, đây chính là tàn tích oai nghiêm nhất loại này trên thế giới. Nó dài tới một nghìn bộ và rộng hai trăm bộ, toàn bộ được xây bằng những khối đá cân đối hoàn hảo nhưng cũng vô cùng nặng nề. Những tháp canh và pháo đài kiên cố cao hơn ba mươi bộ, và xưa kia từng cao tới sáu mươi bộ. Từ đỉnh núi, những tháp pháo đổ nát vươn lên trên những lùm cây sồi và ô-liu cổ thụ, trông vô cùng nên thơ và đẹp như tranh vẽ. Nó có tuổi đời cổ xưa đến mức chẳng ai biết ai là người xây dựng hoặc được xây vào lúc nào. Nơi đây hoàn toàn không thể tiếp cận được, ngoại trừ một lối đi duy nhất uốn lượn ngược lên giữa những khối đá tảng rắn chắc dẫn tới cánh cửa tò vò cũ kỹ. Móng ngựa đã đục thủng những tảng đá này sâu tới sáu inch qua hàng trăm hàng trăm năm pháo đài này được dùng làm nơi đồn trú. Chúng tôi lang thang suốt ba tiếng đồng hồ giữa các căn phòng, hầm mộ và ngục tối của pháo đài, đặt chân lên những nơi mà gót giày bọc sắt của biết bao hiệp sĩ Thập tự quân từng vang rền, và nơi các anh hùng người Phên-i-ki từng đi qua từ nhiều thế hệ trước họ.
Chúng tôi tự hỏi làm thế nào mà một khối gạch đá vững chãi nhường ấy lại có thể bị tàn phá ngay cả bởi động đất, và không thể hiểu nổi thế lực nào đã biến Banias thành một chốn đổ nát; nhưng rồi một lát sau chúng tôi đã tìm ra thủ phạm, và lúc đó sự kinh ngạc của chúng tôi lại tăng lên gấp mười lần. Những hạt giống đã rơi vào các kẽ hở trên những bức tường thành khổng lồ; hạt giống nảy mầm; những mầm cây non nớt, nhỏ bé ấy cứng cáp dần; chúng lớn lên từng ngày, và bằng một sức ép đều đặn, vô hình đã tách những tảng đá lớn rời ra, để rồi giờ đây đang mang lại sự hủy diệt chắc chắn cho một công trình vĩ đại từng thách thức cả những trận động đất với thái độ khinh miệt! Những thân cây xù xì, xoắn xít mọc lên từ khắp mọi ngóc ngách của những bức tường cũ, làm tăng thêm vẻ đẹp và che bóng mát cho những chiến lũy xám xịt bằng một thảm lá tươi tốt, hoang dã.
Từ những ngọn tháp cổ kính đó, chúng tôi phóng tầm mắt nhìn xuống một vùng đồng bằng xanh tươi rộng lớn, trải dài xa tắp, lấp lánh những vũng nước và dòng suối nhỏ vốn là nguồn cội của dòng sông thánh Jordan. Đó là một cảnh tượng vô cùng dễ chịu sau chặng đường dài vượt sa mạc.
Và khi chiều tà buông xuống, chúng tôi trèo xuống sườn núi, băng qua những lùm cây sồi Kinh Thánh của xứ Bashan (vì chúng tôi đang chuẩn bị bước qua biên giới để tiến vào Đất Thánh hằng mong ước), và ngay sát chân núi, hướng về phía thung lũng rộng lớn, chúng tôi đặt chân vào ngôi làng Banias tồi tệ này, dựng lều trong một lùm cây ô-liu lớn gần một dòng suối nước trong vắt lấp lánh mà hai bên bờ phủ đầy cây vả, lựu và trúc đào đang độ xanh tươi rợp lá. Trừ việc nằm sát vách ngôi làng, nơi đây tựa hồ như một chốn thiên đường.
Điều đầu tiên mà người ta muốn làm khi đặt chân đến trại, trong trạng thái nóng bừng và đầy bụi bặm, chính là đi tìm một bồn tắm. Chúng tôi đi dọc theo dòng suối ngược lên tận nơi nó tuôn trào từ sườn núi, cách lều chừng ba trăm thước, và tắm một cú lạnh buốt đến mức nếu tôi không biết đây là nguồn chính của dòng sông thánh, thì tôi đã sợ là mình sẽ ngã bệnh rồi. Tắm vào giữa trưa trong nguồn nước buốt giá của con sông Abana, tức “Sông Damascus,” chính là thứ đã mang lại cho tôi chứng tả lơ, bác sĩ B. bảo vậy. Tuy nhiên, hễ cứ hít hà đi tắm là thể nào tôi cũng mắc bệnh tả.
Đám hành hương cứng đầu lại kéo về với những chiếc túi căng phồng những mảnh mẫu vật đập ra từ các di tích. Tôi ước gì thói phá hoại này có thể chấm dứt. Chúng đập vỡ những mảnh vụn từ lăng mộ của No-ê; từ những tác phẩm điêu khắc tuyệt mỹ ở các đền thờ Baalbec; từ ngôi nhà của Giu-đa và A-na-ni-a ở Damascus; từ lăng mộ của thợ săn vĩ đại Nimrod ở Jonesborough; từ những dòng chữ khắc tiếng Hy Lạp và La Mã đã mòn vẹt được gắn trên những bức tường rêu phong của Lâu đài Banias; và giờ thì chúng lại đục đẽo những vòm cổng cổ kính ở chốn này, nơi Chúa Giê-su từng ngự qua bằng xương bằng thịt. Xin Trời cao phù hộ cho Ngôi Mộ Thánh khi cái bộ tộc này kéo đến xâm chiếm Jerusalem!
Những tàn tích ở đây không có gì quá thú vị. Nơi đây có những bức tường kiên cố của một tòa nhà lớn hình vuông từng là pháo đài; có vô số vòm cổng cổ kính nặng nề bị vùi lấp dưới đống đổ nát đến mức chúng chỉ vừa nhô lên khỏi mặt đất; có những cống ngầm kiên cố mà qua đó dòng suối trong như pha lê sinh ra sông Jordan vẫn đang chảy xiết; trên sườn đồi là phần móng của một ngôi đền cẩm thạch đắt tiền mà Hê-rô-đê Đại đế từng cho xây cất ở đây—những mảng sàn khảm mosaic đẹp mắt của nó vẫn còn sót lại; có một cây cầu đá cổ kính kỳ lạ có từ trước cả thời Hê-rô-đê; nằm rải rác khắp nơi, trên lối đi và trong rừng, là những đầu cột kiểu Corinth, những cột đá por-phi-ry bị gãy, và những mảnh điêu khắc nhỏ; và tận phía trên kia trên vách đá nơi con suối phun trào, là những dòng chữ Hy Lạp đã mòn nhẵn nằm trên những hốc đá nơi thời cổ đại người Hy Lạp, rồi sau đó là người La Mã, từng thờ cúng vị thần rừng Pan. Thế nhưng cây cối và bụi rậm giờ đây đã mọcùm lên trên rất nhiều di tích ấy; những căn lều tồi tàn của một nhúm người Ả Rập dơ bẩn bám víu trên đống gạch đá đổ nát của thời cổ đại, toàn bộ khung cảnh mang một vẻ uể oải, đờ đẫn, đậm chất đồng quê khiến người ta khó lòng tin nổi rằng một thành phố sầm uất, được xây dựng kiên cố từng tồn tại ở nơi này, dẫu chỉ là cách đây hai nghìn năm đi nữa. Mặc dù vậy, chốn này vẫn từng là sân khấu cho một sự kiện mà dư âm của nó đã bồi đắp thêm từng trang rồi từng tập sách vào lịch sử nhân loại. Bởi vì chính tại nơi này, Chúa đã đứng khi Ngôi phán với Phi-e-rơ rằng:
“Ngươi là Phi-e-rơ, ta sẽ lập Hội Thánh ta trên đá này, các cửa âm phủ chẳng thắng được đâu. Ta sẽ giao chìa khóa nước thiên đàng cho ngươi, điều gì ngươi buộc dưới đất thì sẽ buộc ở trên trời, và điều gì ngươi mở dưới đất thì sẽ được mở ở trên trời.”
Dựa trên những câu chữ ngắn ngủi ấy, người ta đã dựng lên tòa lâu đài hùng vĩ của Giáo hội La Mã; ẩn chứa trong đó là quyền uy tối thượng của các Giáo hoàng đối với các vấn đề trần thế, cùng quyền năng tựa thần thánh của họ trong việc nguyền rủa một linh hồn hoặc tẩy rửa nó trắng sạch khỏi tội lỗi. Để duy trì vị thế “Hội Thánh chân thật duy nhất” mà Rome tuyên bố đã được ban phó như vậy, họ đã chiến đấu, lao động và tranh đấu suốt bao thế kỷ, và sẽ tiếp tục bận rộn với công việc ấy cho đến tận tận thế. Những lời, văn ghi nhớ mà tôi vừa trích dẫn đã trao cho thành phố đổ nát này gần như toàn bộ sự hấp dẫn mà nó vốn có đối với con người thời hiện đại.
Thật là một cảm giác kỳ lạ khi được đứng trên mảnh đất từng thực sự in dấu chân của Đấng Cứu Thế. Hoàn cảnh ấy gợi lên một cảm giác chân thực và hữu hình dường như trái ngược với sự mơ hồ, huyền bí và mang hơi hướng bóng ma mà người ta thường gán cho bản sắc của một vị thần. Cho đến giờ tôi vẫn chưa thể hiểu nổi rằng mình đang ngồi ở nơi một vị thần từng đứng, ngắm nhìn dòng suối và những ngọn núi mà vị thần ấy từng ngắm nhìn, và được bao quanh bởi những con người da ngăm đen mà tổ tiên từng diện kiến Ngôu, thậm chí còn trò chuyện trực tiếp với Ngôu một cách tự nhiên, hệt như họ vẫn làm với bất kỳ người lữ khách nào khác. Tôi không thể lĩnh hội nổi điều đó; những vị thần trong nhận thức của tôi từ trước đến nay vẫn luôn ẩn mình trong mây mù và ở một nơi rất xa xôi.
Sáng nay, trong bữa điểm tâm, đám đông những con người nghèo khổ đói khát quen thuộc vẫn kiên nhẫn ngồi bên ngoài vòng tròn ma thuật của khu trại, chờ đợi những mẩu vụn mà lòng trắc ẩn có thể rủ bố thí cho sự khốn cùng của họ. Có cả người già lẫn trẻ nhỏ, người da nâu lẫn da vàng. Một số đàn ông có vóc dáng cao lớn, vạm vỡ (bởi hiếm khi người ta thấy ở đâu những người đàn ông có vẻ ngoài lẫm liệt như ở phương Đông này), nhưng tất cả phụ nữ và trẻ em đều trông phờ phạc, buồn bã và mang vẻ khốn khổ vì đói khát. Những con người này gợi cho tôi nhớ rất nhiều đến người da đỏ. Họ mặc rất ít quần áo, nhưng những gì họ khoác trên mình lại mang nét kỳ lạ và cách phối hợp thì vô cùng quái dị. Bất kỳ món đồ trang sức vô nghĩa hay món đồ chơi rẻ tiền nào kiếm được, họ cũng trưng diện sao cho thu hút sự chú ý một cách nhanh nhất. Họ ngồi im lặng, với sự kiên nhẫn bền bỉ dõi theo từng chuyển động của chúng tôi bằng thứ thái độ bất lịch sự đầy ghê tởm và nhẫn nhịn hệt như người da đỏ thực thụ, thứ thái độ khiến một người da trắng cảm thấy vô cùng bất an, khó chịu và hung hăng đến mức muốn tiêu diệt sạch cả cái bộ tộc ấy.
Những con người xung quanh chúng tôi còn có những đặc điểm khác mà tôi cũng từng nhận thấy ở những thổ dân da đỏ cao quý: họ đầy rẫy chấy rận, và bụi bẩn đóng cặn trên người họ dày đến mức hóa thành một lớp vỏ cây.
Những đứa trẻ trông thật thảm hại—đứa nào cũng bị đau mắt, và mang trên mình đủ thứ tật bệnh khác nhau. Người ta bảo rằng hầu như chẳng có đứa trẻ bản xứ nào ở phương Đông này mà không bị đau mắt, và hàng ngàn đứa trong số chúng bị mù một hoặc cả hai mắt mỗi năm. Tôi nghĩ điều này chắc chắn là sự thật, bởi ngày nào tôi cũng thấy rất nhiều người mù, và tôi chẳng nhớ nổi mình từng gặp đứa trẻ nào không bị đau mắt. Và, bạn có tin được không khi một người mẹ Mỹ có thể ngồi suốt một tiếng đồng hồ, ôm con trong tay, mặc cho cả trăm con ruồi đậu trên mắt đứa bé suốt khoảng thời gian ấy mà không hề xua đuổi? Ngày nào tôi cũng chứng kiến cảnh đó. Nó khiến da gà da non trên người tôi nổi cả lên. Hôm qua chúng tôi gặp một người phụ nữ cưỡi con lừa nhỏ, ôm một đứa con trong tay—thú thực, lúc mới đến gần, tôi cứ tưởng đứa bé đang đeo kính bảo hộ, và tôi tự hỏi làm sao người mẹ của nó lại có thể chơi trội đến thế. Nhưng khi đến sát gần, chúng tôi mới nhận ra chiếc kính bảo hộ ấy chẳng qua chỉ là một buổi tụ họp cắm trại của ruồi nhặng tụ tập quanh mỗi con mắt của đứa bé, đồng thời có cả một tiểu đội đang dò dẫm trên chiếc mũi của nó. Ruồi thì hạnh phúc, đứa trẻ thì mãn nguyện, thế nên người mẹ chẳng thèm can thiệp.
Ngay khi bộ tộc phát hiện ra đoàn chúng tôi có một vị bác sĩ, họ bắt đầu kéo ùn ùn tới từ bốn phương tám hướng. Bác sĩ B., với bản tính thương người, đã bế một đứa bé từ người phụ nữ ngồi gần đó và bôi một loại thuốc rửa nào đó lên đôi mắt đang bệnh tật của nó. Người phụ nữ ấy bỏ đi và loan tin cho cả bộ tộc, và việc chứng kiến họ lũ lượt kéo đến quả là một cảnh tượng ngoạn mục! Kẻ què, kẻ cụt, người mù, người mắc bệnh phong—tất cả những thứ bệnh tật sinh ra từ sự lười biếng, nhơ nhuốc và tội lỗi—đều có mặt đầy đủ trong cái đại hội ấy chỉ trong vòng mười phút, thế mà họ vẫn tiếp tục kéo đến! Người phụ nữ nào có con ốm thì ẵm theo con, còn ai không có thì mượn tạm con của người khác. Trông họ thật sùng kính và tôn sùng biết bao khi hướng ánh mắt về vị cứu tinh đầy quyền năng và huyền bí ấy—Đức Ông Bác Sĩ! Họ chăm chú nhìn ông lấy lọ thuốc ra; họ quan sát ông đong đếm từng hạt bột trắng; họ nhìn ông nhỏ từng giọt dung dịch quý giá này rồi giọt khác; họ không bỏ lỡ dù chỉ là một cử động nhỏ nhất; ánh mắt họ dán chặt vào ông với một thứ sức hút mãnh liệt đến mức không gì có thể làm phân tâm. Tôi tin là họ nghĩ ông được ban cho năng lực hệt như một vị thần. Khi mỗi cá nhân nhận được phần thuốc của mình, đôi mắt họ lại bừng sáng niềm vui—mặc dù về bản chất họ là một chủng tộc vô ơn và vô cảm—và trên khuôn mặt họ hiện lên một niềm tin tuyệt đối rằng không gì trên đời này có thể ngăn cản bệnh nhân khỏi bệnh được nữa.
Chúa Giê-su biết cách rao giảng cho những sinh linh đơn sơ, mê tín và bị bệnh tật hành hạ này: Ngôu chữa lành cho những người bệnh. Sáng nay họ đã đổ xô đến chỗ vị bác sĩ phàm trần tội nghiệp của chúng tôi khi tiếng tăm về những việc ông đã làm cho đứa trẻ bệnh tật lan truyền khắp vùng đất, và họ tôn sùng ông bằng ánh mắt dẫu cho lúc bấy giờ họ còn chưa biết liệu những loại thuốc thảo dược mộc mạc của ông có linh nghiệm hay không. Tổ tiên của những con người này—những kẻ hoàn toàn giống họ từ màu da, trang phục, tác phong, phong tục cho đến sự chất phác—từng lũ lượt đi theo Chúa Giê-su, và khi họ chứng kiến Ngôu chữa lành cho những người đau khổ chỉ bằng một lời nói, thì chẳng có gì lạ khi họ tôn sùng Ngôu. Chẳng có gì lạ khi những việc làm của Ngôu trở thành chủ đề bàn tán của cả dân tộc. Chẳng có gì lạ khi đám đông đi theo Ngôu lại đông đảo đến mức có lần—cách đây ba mươi dặm—họ phải hạ một người bệnh qua mái nhà vì không thể chen chân đến cửa; chẳng có gì lạ khi thính chúng của Ngôu ở xứ Galilee đông đến mức Ngôu phải giảng đạo từ một chiếc thuyền cách xa bờ một chút; chẳng có gì lạ khi ngay cả ở những chốn hoang vu quanh Bethsaida, năm ngàn người đã tràn vào không gian tĩnh lặng của Ngôu, và Ngôu buộc phải làm phép lạ để nuôi sống họ nếu không muốn họ phải chịu đựng vì lòng tin cậy và sự tận tụy của mình; chẳng có gì lạ khi có một cuộc náo động lớn trong một thành phố vào những ngày đó, người hàng xóm này lại giải thích cho người hàng xóm kia bằng những lời đại loại như thế này: “Người ta bảo rằng Chúa Giê-su ở Nazareth đã đến!”

À, như tôi vừa nói đấy, vị bác sĩ đã phân phát thuốc cho đến khi cạn sạch thì thôi, và danh tiếng của ông hiện giờ đang lừng lẫy khắp vùng Galilee. Trong số các bệnh nhân của ông có cả đứa con của con gái vị tù trưởng—bởi vì ngay cả cái nhúm người nghèo hèn, rách rưới đầy thương tích và tội lỗi này cũng có tù trưởng hoàng gia của riêng họ—một lão xác ướp nghèo khổ trông có vẻ hợp với nhà tế thế hơn là vị trí Thưn lĩnh Tối cao của cái bộ tộc vô vọng, cởi trần mặc rách này. Nàng công chúa—ý tôi là con gái vị tù trưởng—mới chỉ mười ba hoặc mười bốn tuổi, sở hữu một khuôn mặt vô cùng ngọt ngào và xinh xắn. Nàng là người phụ nữ Syria duy nhất mà chúng tôi từng thấy cho đến nay không đến mức xấu ma chê quỷ hờn đến độ không dám cười sau mười giờ tối thứ Bảy vì sợ phạm vào ngày Sabat. Tuy nhiên, đứa con của nàng lại là một ca khó nhằn—đứa bé gầy còm đến mức chẳng đủ thịt để làm một cái bánh nướng, và sinh linh bé bỏng tội nghiệp ấy cứ ngước nhìn đầy van nài tất cả những ai đến gần (như thể nó linh cảm rằng đây là cơ hội duy nhất hoặc không bao giờ có lại nữa), khiến chúng tôi tràn ngập một niềm trắc ẩn chân thành chứ không hề giả tạo.
Nhưng con ngựa mới này của tôi lại đang cố tự sát bằng cách vướng vào dây lều rồi, tôi phải ra ngoài và neo nó lại đây. Tôi và con Jericho đã đường ai nấy đi. Con ngựa mới này cũng chẳng có gì đáng tự hào cho lắm. Một chân sau của nó quặp sai hướng, còn chân kia thì thẳng và cứng đờ như cái cột lều. Hầu hết răng của nó đã rụng hết, và nó thì mù tịt như dơi. Sống mũi của nó từng bị gãy vào lúc nào đó, và giờ cong vút lên như một chiếc cống vòm. Môi dưới của nó trũi xuống hệt như môi lạc đà, còn đôi tai thì bị cắt trụi sát tận đầu. Lúc đầu tôi gặp chút rắc rối trong việc tìm tên cho nó, nhưng cuối cùng tôi quyết định gọi nó là Baalbec, bởi vì trông nó giống một tàn tích nguy nga tráng lệ quá. Tôi không thể ngừng nói về những con ngựa của mình, bởi vì trước mặt tôi là một hành trình dài dằng dặc và vô cùng mệt mỏi, và chúng dĩ nhiên chiếm trọn tâm trí tôi chẳng kém gì những vấn đề có vẻ quan trọng hơn nhiều.

Chúng tôi đã làm hài lòng đám hành hương bằng những chuyến cưỡi ngựa vất vả từ Baalbec đến Damascus, nhưng con ngựa của Dan và của Jack đã tơi tả đến mức chúng tôi đành phải bỏ lại chúng phía sau và kiếm những con vật mới cho họ. Tay thông dịch viên bảo rằng con ngựa của Jack đã chết. Tôi đã đổi ngựa với Mohammed, gã người Ai Cập trông oai vệ như vua chúa, cấp dưới của tay Ferguson nhà chúng tôi. Dĩ nhiên khi nhắc đến Ferguson, ý tôi là tay thông dịch viên Abraham của chúng tôi. Tôi không nhận con ngựa này vì vẻ bề ngoài của nó, mà vì tôi chưa từng nhìn thấy tấm lưng của nó. Và tôi cũng chẳng muốn nhìn thấy nó làm gì. Tôi đã ngắm tấm lưng của tất cả những con ngựa khác và nhận ra hầu hết chúng đều bị phủ kín bởi những khối u ghê rợn do yên ngựa cọ xát mà tôi thừa biết là chưa từng được rửa sạch hay chữa trị trong nhiều năm trời. Ý nghĩ phải cưỡi ngựa suốt cả ngày dài trên những tòa án tra tấn kinh hoàng ấy thật là phát ớn. Con ngựa của tôi chắc cũng chẳng khá khẩm hơn những con khác, nhưng ít nhất tôi còn có sự an ủi là không phải tận mắt chứng kiến điều đó.
Tôi hy vọng rằng trong tương lai tôi sẽ được miễn phải nghe thêm bất kỳ lời ca ngợi đậm chất văn thơ tình cảm nào về tình yêu cuồng nhiệt của người Ả Rập dành cho con ngựa của họ. Thời niên thiếu, tôi từng ao ước được làm một gã du mục Ả Rập trên sa mạc, sở hữu một nàng chiến mã xinh đẹp, đặt tên cho nó là Selim hay Benjamin hay Mohammed, tự tay cho nó ăn, để nó bước vào trong lều, dạy nó biết âu yếm tôi và trìu mến nhìn tôi bằng đôi mắt to tròn dịu dàng; và tôi từng ước sẽ có một vị lữ khách xuất hiện vào thời điểm đó và chìa ra một trăm ngàn đô-la để đổi lấy nó, để tôi có thể hành xử giống như những gã Ả Rập khác—chần chừ, thèm thuồng số tiền đó, nhưng bị tình yêu dành cho nàng chiến mã đánh gục, cuối cùng thốt lên rằng: “Chia tay ngươi sao, người đẹp của ta! Chẳng đời nào khi ta còn sống! Cút đi, tên cám dỗ, ta khinh bỉ số vàng của ngươi!” rồi tung người lên yên phóng như bay trên sa mạc!
Nhưng tôi xin rút lại những khát vọng ấy. Nếu đám người Ả Rập này cũng giống như những người Ả Rập khác, thì tình yêu của họ dành cho những nàng chiến mã xinh đẹp chỉ là một trò lừa bịp. Những kẻ mà tôi quen biết chẳng hề có chút tình yêu thương nào với ngựa, chẳng có lấy một chút trắc ẩn dành cho chúng, và hoàn toàn mù tịt về cách đối xử cũng như chăm sóc chúng. Tấm lót yên ngựa của người Syria là một chiếc đệm bông dày hai hoặc ba inch. Nó chẳng bao giờ được tháo ra khỏi lưng ngựa, dù là ngày hay đêm. Nó bám đầy bụi bẩn cùng lông rụng, và sũng nước mồ hôi. Chắc chắn nó sẽ sinh ra lở loét. Những tên cướp biển này chẳng bao giờ nghĩ đến việc rửa lưng cho ngựa. Chúng cũng chẳng thèm che chắn cho ngựa trong lều—lũ ngựa cứ phải đứng ngoài chịu đựng mọi kiểu thời tiết khắc nghiệt. Hãy nhìn con “Baalbec” tội nghiệp bị cắt cụt tai và tơi tả rách rưới kìa, để rồi mà khóc thương cho cái sự lãng mạn hão huyền từng bị lãng phí vào những con Selim trong tiểu thuyết!