Heloise sinh ra vào bảy trăm sáu mươi sáu năm trước. Nàng có lẽ cũng có cha mẹ, dẫu chẳng ai còn nhớ rõ. Nàng sống cùng người bác là Fulbert, một kinh sĩ tại nhà thờ lớn Paris. Tôi chẳng rõ chức kinh sĩ nhà thờ lớn là thế nào, nhưng ông ta đúng là giữ chức vụ ấy. Có lẽ ông chẳng khác nào một khẩu lựu pháo cỡ nhỏ trên núi, bởi thời đó nào đã có pháo tầm xa.

Thôi thì chỉ cần biết rằng Heloise sống cùng người bác - khẩu lựu pháo ấy - và rất hạnh phúc. Nàng dành phần lớn tuổi thơ tại tu viện Argenteuil — trước đó tôi chưa từng nghe đến cái tên này, nhưng chắc là có một nơi như thế thật. Sau đó, nàng trở về sống với người bác, vị pháo già hay "con nhà tông" tùy theo cách gọi, và chính ông đã dạy nàng viết lẫn nói tiếng Latin, thứ ngôn ngữ của văn chương và giới thượng lưu thời bấy giờ.
Vừa hay lúc ấy, Pierre Abelard, một người đã nổi danh khắp chốn nhờ tài hùng biện, đến Paris để mở trường dạy hùng biện. Sự độc đáo trong tư tưởng, tài ăn nói lưu loát cùng thể lực và vẻ ngoài khôi ngô của ông đã tạo nên một tiếng vang lớn. Ông trông thấy Heloise, và lập tức bị mê hoặc bởi nét xuân thì rạng rỡ, nhan sắc cùng tính cách duyên dáng của nàng. Ông viết thư cho nàng; nàng đáp lời. Ông viết tiếp; nàng lại hồi âm. Trái tim ông giờ đây đã ngập tràn tình yêu. Ông khao khát được gặp nàng — được trực tiếp trò chuyện cùng nàng.
Trường học của ông nằm gần nhà Fulbert. Ông ngỏ lời xin phép Fulbert được đến ghé thăm. Vị kinh sĩ già tốt bụng thoạt nhìn thấy đây là một cơ hội hiếm có: đứa cháu gái mà ông hết mực yêu thương sẽ được thọ giáo người đàn ông này mà ông chẳng phải tốn mảy may xu nào. Fulbert vốn là kẻ keo kiệt như thế đấy.
Tên đệm của Fulbert không được sử sách nhắc tới, thật là đáng tiếc. Dẫu vậy, cứ gọi ông ta là George W. Fulbert cũng chẳng sao, chẳng khác gì những cái tên khác. Cứ tạm dùng cái tên ấy vậy. Ông đồng ý cho Abelard dạy học cho cháu mình.
Abelard mừng rỡ khôn xiết trước cơ hội này. Ông đến rất thường xuyên và ở lại cũng thật lâu. Ngay từ câu đầu tiên trong bức thư của ông đã phơi bày bộ mặt thật: hắn bước vào mái nhà thân thiện ấy với bản chất của một kẻ tiểu nhân lạnh lùng, mang theo âm mưu có tính toán từ trước là làm nhục một thiếu nữ ngây thơ, tin người. Nguyên văn bức thư ấy như sau:
“Tôi không khỏi ngạc nhiên trước sự khờ dại của Fulbert; tôi ngỡ ngàng cứ như thể hắn thả một con cừu vào miệng sói đói vậy. Dưới cái cớ dùi mài kinh sử, Heloise và tôi đắm chìm trọn vẹn trong ái tình, và chính sự tĩnh mịch mà tình yêu kiếm tìm ấy đã tạo điều kiện cho việc học hành của chúng tôi. Sách vở mở ra trước mắt, nhưng chúng tôi nói về chuyện yêu đương nhiều hơn là triết lý, và những nụ hôn đến với môi chúng tôi dễ dàng hơn cả lời ăn tiếng nói.”
Và thế đấy, hả hê trên sự tin tưởng cao đẹp mà đối với bảnn chất đồi bại của hắn chỉ là một sự “khờ dại” lố bịch, kẻ vô lại Abelard ấy đã chuốc họa vào đời người cháu gái của vị chủ nhà đã dung chứa hắn. Paris xôn xao bàn tán. Người ta đem chuyện đó kể cho Fulbert nghe — kể rất nhiều lần — nhưng ông nhất mực không tin. Ông chẳng thể tài nào hiểu nổi làm sao lại có kẻ đồi bại đến mức lợi dụng sự bảo bọc và an toàn thiêng liêng của chốn khách sô để thực hiện một tội ác tày trời như thế. Chỉ đến khi nghe những kẻ lang thang ngoài đường phố cất cao giọng hát những khúc tình ca mà Abelard viết cho Heloise, mọi chuyện mới phơi bày rõ mồn một — suy cho cùng, tình ca nào có phải là thứ nằm trong giáo trình hùng biện hay triết học.

Ông lập tức đuổi cổ Abelard khỏi nhà. Abelard lén lút quay lại rước Heloise trốn biệt tích về Palais, xứ Brittany, quê hương của hắn. Chẳng bao lâu sau, tại đây nàng hạ sinh một bé trai, vì sở hữu nét đẹp hiếm có nên được đặt tên là Astrolabe — William G. Việc cô cháu gái bỏ trốn khiến Fulbert nổi giận lôi đình, ông khao khát trả thù nhưng lại sợ hãi chẳng dám ra tay vì sợ vạ lây đến Heloise — bởi trong lòng ông vẫn hết mực thương yêu nàng. Cuối cùng, Abelard ngỏ ý muốn cưới Heloise — nhưng kèm theo một điều kiện nhục nhã: cuộc hôn nhân này phải được giữ kín với thiên hạ, để rồi (trong khi danh tiết của nàng vẫn tan nát như trước) tiếng tăm giáo sĩ của hắn vẫn được bảo toàn nguyên vẹn. Thật đúng với bản chất của một kẻ đốn mạt. Fulbert nhìn thấu thời cơ và gật đầu đồng ý. Ông sẽ để họ thành thân, rồi sau đó chính ông sẽ phá vỡ sự tín nhiệm của kẻ đã dạy cho mình ngón đòn ấy; ông sẽ vạch trần bí mật này để gột rửa phần nào nỗi ô nhục đang đeo bám danh dự của cháu gái mình. Nhưng nàng thiếu nữ đã sớm hoài nghi mưu đồ của bác mình. Ban đầu nàng cự tuyệt cuộc hôn nhân; nàng bảo rằng Fulbert sẽ bán đứng bí mật để cứu vãn danh dự cho nàng, vả lại, nàng chẳng nỡ kéo tụt xuống bùn một người tình tài hoa nhường ấy, một kẻ đang được cả thế giới kính trọng và có cả một tương lai xán lạn ở phía trước. Đó là một tình yêu cao thượng, đầy sự hy sinh, rất xứng với tâm hồn thanh cao của Heloise, ngặt nỗi lại chẳng mấy khôn ngoan.
Thế nhưng, những lời khuyên can của nàng chẳng thành, và một đám cưới bí mật đã diễn ra. Giờ thì hãy đợi đấy, hỡi Fulbert! Trái tim rớm máu cuối cùng cũng được hàn gắn; tâm hồn kiêu hãnh từng chịu đựng đớn đau nay đã tìm lại được chốn bình yên; cái đầu từng cúi gẫm nay lại được ngẩng cao lần nữa. Ông loan báo chuyện hôn sự nơi chốn đông đúc của thành phố và hân hoan vì nỗi nhục nhã đã trôi đi khỏi mái nhà mình. Nào ngờ! Abelard chối bay chối biến chuyện kết hôn! Heloise cũng phủ nhận! Thiên hạ, dẫu biết rõ câu chuyện trước đó, có lẽ đã tin Fulbert nếu chỉ một mình Abelard chối cãi; nhưng khi chính nhân vật chính — bản thân cô gái ấy — cũng phủ nhận, họ cười hô hố, chế giễu vị Fulbert khốn khổ đến tội nghiệp.
Vị kinh sĩ nghèo của nhà thờ lớn Paris lại một lần nữa bị gạt phăng sang một bên. Niềm hy vọng cuối cùng để vãn hồi danh dự cho gia đình đã tan thành mây khói. Giờ thì sao đây? Bản năng con người mách bảo phải trả thù. Và ông đã thực hiện điều đó. Sử sách ghi lại rằng:
“Bọn côn đồ được Fulbert thuê mướn đã tập kích Abelard trong đêm, và giáng xuống người hắn một hình phạt cắt xén kinh hoàng không thể gọi tên.”
Tôi đang tìm kiếm chốn yên nghỉ cuối cùng của đám “côn đồ” ấy. Khi tìm thấy, tôi nhất định sẽ nhỏ vài giọt lệ lên nấm mồ, chất lên đó dăm bó hoa tươi cùng hoa bất tử, rồi tiện thể chở đi ít sỏi đá để ghi nhớ rằng dẫu cuộc đời bọn chúng có vấy bẩn tội lỗi đi chăng nữa, thì ít ra những kẻ côn đồ này cũng đã làm được một việc vô cùng chính nghĩa, dẫu cho điều đó chẳng được luật pháp nghiêm ngặt nào cho phép.
Heloise bước chân vào tu viện, vĩnh viễn nói lời từ biệt với trần thế cùng những ham thú tầm thường. Suốt mười hai năm ròng, nàng chưa từng nghe tin tức gì về Abelard — thậm chí chưa từng nghe ai nhắc đến tên hắn. Nàng đã trở thành bề trên tu viện Argenteuil và sống một cuộc đời hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài. Một hôm, tình cờ trông thấy bức thư do chính tay hắn viết, trong đó thuật lại cuộc đời mình, nàng đã khóc nghẹn ngào rồi viết thư hồi âm. Hắn đáp lời, mở đầu bằng cách xưng hô nàng là “người chị em trong Chúa”. Họ tiếp tục thư từ qua lại, nàng viết bằng thứ ngôn ngữ mộc mạc của một tình yêu son sắt không gì lay chuyển, còn hắn đáp lại bằng giọng văn lạnh lẽo của một nhà hùng biện trau chuốt. Nàng dốc cạn tâm can vào những câu văn đứt quãng, đẫm đầy xúc cảm; hắn hồi đáp bằng những bài luận trau chuốt, được chia tách rạch ròi thành các đề mục lớn nhỏ, tiền đề và luận chứng. Nàng trút lên hắn những lời trìu mến nhất mà tình yêu có thể nghĩ ra, còn hắn thì đối xử với nàng từ cái Bắc Cực của trái tim băng giá, gọi nàng là “Hiền thê của Chúa!” Thật là một tên khốn nạn vô ơn!
Vì sự quản lỏng tay đối với các nữ tu dưới quyền, một vài tai tiếng vô kỷ luật đã bị phát hiện trong tu viện, và Viện phụ St. Denis liền ra lệnh giải tán cơ ngơi của nàng. Lúc bấy giờ, Abelard đang giữ chức người đứng đầu tu viện St. Gildas de Ruys, và khi hay tin nàng rơi vào cảnh màn trời chiếu đất, một chút thương xót trỗi dậy trong lồng ngực hắn (thật là kỳ lạ khi thứ cảm xúc xa lạ ấy không làm nổ tung cả cái đầu hắn), hắn bèn sắp xếp cho nàng cùng đoàn tùy tùng dọn đến tu nguyện viện nhỏ bé mang tên Paraclete, một cơ sở tôn giáo do chính tay hắn thành lập. Ban đầu, nàng phải đương đầu với vô vàn thiếu thốn và cay đắng, nhưng chính phẩm hạnh cùng tính cách dịu dàng đã mang lại cho nàng những người bạn có thế lực, giúp nàng gầy dựng nên một tu viện giàu có và thịnh vượng. Nàng trở thành nhân vật rất được lòng các bậc chức sắc trong giáo hội lẫn người dân chốn thị thành, dẫu nàng hiếm khi xuất hiện trước công chúng. Danh tiếng, uy tín và sự hữu dụng của nàng ngày một thăng hoa, trong khi Abelard lại trượt dốc không phanh. Đức Giáo hoàng kính trọng nàng đến mức phong nàng làm người đứng đầu dòng tu. Còn Abelard, một con người tài hoa xuất chúng, từng được xếp vào hàng ngũ những nhà tranh luận cự phách nhất thời đại, nay bỗng trở nên rụt rè, do dự và mất lòng tin vào năng lực bản thân. Hắn chỉ còn thiếu một tai họa lớn nữa để đánh sập hoàn toàn chiếc ngai cao ngất ngưởng mà hắn đang ngự trị trên đỉnh cao trí tuệ thế giới, và rồi tai họa ấy cũng âp đến. Dưới sự thúc giục của vua chúa và các bậc vương tôn công tử, hắn bước ra để đối đầu tranh biện với bậc thầy uyên bác St. Bernard nhằm hạ bệ đối thủ, hắn đứng đó trước một rừng khán giả hoàng gia hào nhoáng, để rồi khi đối phương vừa dứt lời, hắn ngẩn người nhìn quanh rồi lắp bắp cất lời chào; thế nhưng lòng can đảm đã bay đi đâu mất, cái sự sắc sảo đầu lưỡi cũng chẳng còn: chẳng thốt nên lời, hắn run lẩy bẩy rồi sụp xuống ghế, trở thành một kẻ bại trận nhục nhã.
Hắn chết đi như một kẻ vô danh tiểu tốt và được chôn cất tại Cluny vào năm 1144 sau Công nguyên. Mãi về sau, người ta cải táng thi hài hắn về tu viện Paraclete, và khi Heloise qua đời sau đó hai mươi năm, nàng đã được an táng chung mồ chung mả với hắn theo đúng di nguyện cuối đời. Hắn trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 64 tròn trĩnh, còn nàng ra đi khi ở tuổi 63. Sau khi đôi uyên ương ấy nằm dưới nấm mồ suốt ba trăm năm, hài cốt của họ lại một lần nữa được di dời. Đến năm 1800, họ lại được cải táng một lần nữa, và rốt cuộc, mười bảy năm sau, thi hài họ lại được cất bốc và chuyển về nghĩa trang Père-Lachaise, nơi họ sẽ được yên nghỉ bình an cho đến ngày thức giấc để dời đi một lần nữa.
Sử sách chẳng mảy may đả động gì đến những chặng đường cuối đời của khẩu lựu pháo trên núi ấy. Mặc thiên hạ có phán xét ra sao về ông đi nữa, thì chí ít cá nhân tôi vẫn luôn dành sự tôn trọng cho ký ức, đồng thời xót thương cho niềm tin bị giày xéo, trái tim tan vỡ cùng tâm hồn bão tố của vị pháo nòng trơn già cỗi ấy. Chúc ông được an nghỉ ngơi!
Câu chuyện về Abelard và Heloise là thế đấy. Đó cũng là trang sử mà Lamartine từng đổ xuống biết bao dòng lệ thảm thiết. Chỉ có điều là con người ấy hễ cứ chạm đến một đề tài dẫu chỉ hơi bi lụy một chút là thế nào cũng tràn bờ đê. Đáng lẽ người ta nên xây đập chặn con người ấy lại — hay nói đúng hơn là làm kè chống lũ. Lịch sử là vậy đấy — không phải theo cách người ta hay kể, mà là khi lột bỏ lớp vỏ bọc sướt mướt đến buồn nôn, thứ vốn tôn vinh để chúng ta cúc cung phụng thờ một tên đốn mạt đồi bại chuyên dụ dỗ đàn bà như Pierre Abelard. Tôi chẳng có lời nào chê trách cô gái trung tình mà bạc phước ấy, và cũng chẳng nỡ tước đoạt khỏi nấm mồ của nàng dẫu chỉ là một nhành hoa cỏ đơn sơ mà những thiếu nam thiếu nữ lỡ dở duyên đời đem dâng lên tưởng nhớ, ngặt nỗi tôi tiếc rẻ vì chẳng có đủ thời gian lẫn cơ hội để viết bốn, năm tập sách nêu lên suy nghĩ của mình về người bạn của nàng — kẻ sáng lập ra giáo phái Nhảy Dù, hay Paraclete, hay bất cứ cái tên quái quỷ gì đi nữa.
Biết bao nhiêu cảm xúc sướt mướt tôi đã uổng phí cho cái tên bịp bợm vô đạo đức ấy vì sự dốt nát của chính mình! Từ nay về sau, tôi sẽ kìm nén cảm xúc của mình đối với những thể loại người thế này, cho đến khi tôi tìm hiểu kỹ lưỡng và biết chắc liệu chúng có xứng đáng nhận được dù chỉ một giọt nước mắt xót thương nào hay không. Ước gì giờ này tôi có thể lấy lại nhành hoa bất tử cùng mớ củ cải ấy.
Ở Paris, chúng tôi thường bắt gặp trên cửa sổ các cửa tiệm tấm biển ghi dòng chữ “English Spoken Here” (Ở đây có nói tiếng Anh), hệt như ta nhìn thấy ở quê nhà tấm biển “Ici on parle francaise” (Ở đây có nói tiếng Pháp). Chúng tôi liền xông ngay vào những nơi đó — và lần nào cũng nhận được câu trả lời bằng một thứ tiếng Pháp hoàn mỹ rằng nhân viên phụ trách mảng tiếng Anh của cửa hàng vừa đi ăn trưa và phải một tiếng nữa mới quay lại — không biết ngài có muốn mua món gì không? Chúng tôi thắc mắc vì sao những con người ấy lại chọn giờ đi ăn trưa kỳ cục và bất thường đến thế, bởi chúng tôi chưa bao giờ ghé vào lúc mà một tín đồ Thiên Chúa giáo gương mẫu lại có khả năng lảng vảng bên ngoài vì lý do đó. Sự thật phũ phàng là thế này: đó chỉ là một mánh khóe lừa đảo đê tiện — một cái bẫy giăng sẵn để tóm gọn những kẻ nhẹ dạ cả tin — thả thính để bắt chim non. Chẳng có nhân viên nào nói được dăm ba câu tiếng Anh bẻ đôi ở đây cả. Họ chỉ dùng tấm biển đó để dụ dỗ người ngoại quốc sập bẫy bước vào hang ổ, rồi dùng mồm mép dẻo quẹo của mình giữ chân họ ở lại cho đến khi chịu mua đồ mới thôi.
Chúng tôi lại vạch trần thêm một ngón lừa bịp nữa của người Pháp — tấm biển nhan nhản xuất hiện khắp nơi với nội dung thế này: “TẤT CẢ CÁC THỨC UỐNG KIỂU MỸ ĐỀU ĐƯỢC PHA CHẾ CÔNG PHU TẠI ĐÂY.” Chúng tôi bèn nhờ cậy một quý ông sành sỏi về danh pháp của các quầy bar nước Mỹ, rồi tiến đánh sào huyệt của một kẻ bịp bợm như thế.
Một gã người Pháp mặc tạp dề, khom lưng chào hỏi tấp tểnh bước ra và cất lời:
“Que voulez les messieurs?” Tôi chẳng hiểu “Que voulez les messieurs?” có nghĩa là gì, nhưng gã cứ lặp đi lặp lại câu nói ấy.
Viên tướng quân của chúng tôi dõng dạc: “Cho một ly whiskey nguyên chất không đá.”
[Gã người Pháp trố mắt nhìn.]
“Thôi được, nếu ngươi không biết món đó là gì, thì làm ơn cho một ly cocktail sâm-panh.”
[Lại trố mắt nhìn kèm theo cái nhún vai.]
“Vậy thì, cho một ly sherry cobbler đi.”

Gã người Pháp chính thức câm nín. Mấy thứ này đối với gã chẳng khác gì tiếng Phạn.
“Pha mau cho một ly brandy smash!”
Gã người Pháp bắt đầu lùi lũi bước dạt ra phía sau, cảm thấy bất an trước sự hừng hực đầy đe dọa của mệnh lệnh vừa rồi — gã vừa lùi vừa nhún vai, hai tay xòe ra vẻ xin lỗi.

Viên tướng quân bèn dấn tới ép sát và giành chiến thắng tuyệt đối. Kẻ ngoại quốc dốt nát ấy thậm chí còn chẳng tài nào pha nổi một ly Santa Cruz Punch, một ly Eye-Opener, Stone-Fence hay Earthquake. Rõ như ban ngày, gã chẳng qua chỉ là một tên lừa đảo trơ trẽn.
Hôm nọ, một người quen của tôi tuyên bố rằng anh ta chắc chắn là du khách Mỹ duy nhất tới dự Triển lãm vinh dự được đội cận vệ của Hoàng đế hộ tống. Tôi bèn thẳng thừng đáp lại với vẻ vô tư đến tội nghiệp rằng tôi vô cùng ngạc nhiên khi một cọc xương di động, mặt ngựa, trông chẳng có chút cảm tình nào như anh ta lại có thể lọt vào mắt xanh để nhận được vinh dự lớn lao nhường ấy, rồi tiện thể hỏi ngội nguồn câu chuyện ra sao. Anh ta liền kể rằng cách đó không lâu, anh có tham gia một buổi duyệt binh lớn tại quảng trường Champ de Mars, và khi đám đông vây quanh cứ dày lên từng phút, anh nhận thấy có một khoảng trống ngay bên trong hàng rào. Anh bèn bước ra khỏi cỗ xe và tiến thẳng vào trong đó. Anh là kẻ duy nhất đứng ở chỗ ấy, thế nên không gian vô cùng rộng rãi, lại tọa lạc ngay vị trí đắc địa trung tâm nên anh có thể thu trọn vào tầm mắt mọi công tác chuẩn bị diễn ra quanh sân. Chẳng mấy chốc, tiếng nhạc vang lên, rồi chẳng mấy chốc Hoàng đế Pháp và Hoàng đế Áo, được hộ tống bởi lực lượng Cận vệ Trăm người (Cent Gardes) nổi tiếng, tiến vào bên trong khu vực rào chắn. Dường như họ chẳng thèm để ý đến anh, nhưng ngay lập tức, theo ra hiệu của người chỉ huy đội cận vệ, một viên trung úy trẻ tuổi dẫn đầu một tiểu đội lính rảo bước tiến về phía anh, dừng lại, giơ tay chào kiểu nhà binh rồi cất giọng nhỏ nhẹ rằng anh ta rất tiếc vì phải làm phiền một vị khách quý, nhưng khu vực này là chốn tôn nghiêm dành riêng cho hoàng tộc. Thế là bóng ma xứ New Jersey ấy liền đứng phắt dậy, cúi đầu xin lỗi, rồi cứ thế — với viên sĩ quan đi bên cạnh, tiểu đội lính nối đuôi theo sau, cùng đủ mọi nghi thức thể hiện sự tôn trọng tối đa — anh được đội cận vệ hoàng gia Cent Gardes hộ tống thẳng ra tận cỗ xe của mình! Viên sĩ quan giơ tay chào lần nữa rồi lùi lại, bóng ma xứ New Jersey cúi đầu chào đáp lễ và vẫn còn đủ sự tỉnh táo để ra điều rằng anh ta chỉ tạt qua để giải quyết chút công chuyện riêng tư với mấy vị hoàng đế ấy thôi, thế là anh vẫy tay chào tạm biệt rồi thản phong phóng xe rời khỏi bãi duyệt binh!
Thử tưởng tượng xem nếu một gã người Pháp nghèo khổ nào đó vô tình lọt vào bục phát biểu công cộng vốn chỉ dành riêng cho một vị quan chức té riu nào đó ở nước Mỹ. Cơn lốc chửi thề lịch lãm của cảnh sát trước tiên sẽ hù dọa cho gã té đái ra quần, rồi sau đó họ sẽ xé xác gã ra khi lôi cổ gã ra khỏi đó cho bằng được. So với người Pháp, chúng ta có phần vượt trội hơn ở mặt này, nhưng ở mặt khác thì họ lại ăn đứt chúng ta hoàn toàn.
Thế là đủ cho Paris vào lúc này. Chúng ta đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình tại đây. Chúng ta đã tận mắt chiêm ngưỡng cung điện Tuileries, cột tháp Napoleon, nhà thờ Madeleine, kỳ quan chói lọi mang tên lăng mộ Napoleon, cùng tất cả những nhà thờ lớn, viện bảo tàng, thư viện, cung điện hoàng gia, phòng trưng bày tranh tượng, điện Panthéon, vườn bách thảo Jardin des Plantes, nhà hát opera, rạp xiếc, quốc hội, phòng chơi bida, các tiệm cắt tóc, và cả những cô thợ may grisette nữa—
À nhắc đến những cô grisette! Suýt chút nữa thì tôi quên béng mất. Họ lại là một trò lừa bịp mang tính lãng mạn khác. Theo lời kể của mấy cuốn sách du lịch thì họ lúc nào cũng xinh đẹp tuyệt trần — gọn gàng, thanh lịch, duyên dáng — ngây thơ và dễ tin người — dịu dàng, quyến rũ — tận tụy với công việc cửa hàng, khiến đám khách mua hàng chết mê chết mệt bởi những lời nài nỉ ríu rít — hết lòng vì đám sinh viên nghèo mạt rượi ở khu Latin Quarter — luôn vui vẻ, hồn nhiên trong những chuyến dã ngoại ngoại ô vào ngày Chủ nhật — và ôi chao, thật là quyến rụng, thật là hư hỏng một cách đáng yêu làm sao!
Toàn nhảm nhí! Suốt ba bốn ngày liền, tôi cứ liên tục hỏi:
“Này Ferguson, mau nói xem có phải cô kia là grisette không?”

Và câu trả lời nhận được lúc nào cũng là: “Không.”
Cuối cùng thì gã cũng hiểu rằng tôi đang khao khát được tận mắt nhìn thấy một cô grisette thực thụ. Thế là gã chỉ cho tôi thấy hàng loạt. Trông họ chẳng khác gì phần lớn những phụ nữ Pháp mà tôi từng gặp — thô kệch. Bàn tay to, bàn chân to, miệng rộng; đại đa số đều sở hữu chiếc mũi hếch cùng hàng ria mép mà dẫu có lịch sự đến mấy cũng chẳng tài nào ngó lơ cho đành; tóc tai thì chải ngược ra sau chẳng thèm rẽ ngôi; dáng vóc thì thô kệch, chẳng có lấy chút duyên dáng quyến rũ nào; chỉ cần nhìn qua tướng mạo là tôi đủ biết họ ăn tỏi với hành nhiều cỡ nào; và chốt hạ lại một câu, theo quan điểm của tôi thì nếu gọi họ là những kẻ lẳng lơ hư hỏng thì hóa ra lại là một sự nịnh bợ quá trớn.
Tránh xa ta ra, hỡi mụ đàn bà kia! Giờ đây, tôi lại càng thêm xót xa cho gã sinh viên lang thang ở khu Latin Quarter nhiều hơn là cảm giác ganh tị trước kia. Cứ thế, một thần tượng thuở thiếu thời của tôi lại vỡ vụn rơi xuống đất đen.
Chúng ta đã ngoạn mục thưởng ngoạn sạch sành sanh mọi thứ, và ngày mai chúng ta sẽ khởi hành đi Versailles. Ta sẽ chỉ ghé lại Paris trong chốc lát khi quay về để chuẩn bị hành quân ra tàu, thế nên tôi cứ xem như nói lời từ biệt đầy tiếc nuối với thành phố xinh đẹp này đi là vừa. Dù chúng ta sẽ còn lê chân đi qua hàng ngàn dặm đường sau khi rời khỏi nơi đây và đặt chân đến vô số thành phố lớn khác, nhưng chắc chắn sẽ chẳng tìm thấy nơi nào mê hoặc lòng người bằng chốn này.
Vài người trong nhóm đã tách đoàn sang Anh quốc, với dự tính sẽ đi một vòng đường vòng rồi quay lại hội quân cùng tàu tại Leghorn hoặc Naples sau vài tuần nữa. Ban đầu chúng ta suýt thì ghé Geneva, nhưng cuối cùng lại chốt phương án quay về Marseille rồi ngược lên miền Bắc nước Ý xuất phát từ Genoa.
Tôi xin khép lại chương này bằng một tuyên bố mà tôi cảm thấy vô cùng tự hào khi được thốt lên — và cũng thật may mắn vì các chiến hữu của tôi hoàn toàn tâm phục khẩu phục, đó là: những bóng hồng kiều diễm nhất mà chúng ta từng bắt gặp trên đất Pháp hóa ra lại sinh ra và lớn lên ở nước Mỹ.
Giờ đây, tôi cảm thấy tựa như một kẻ vừa chuộc lại được danh dự đang phôi pha và thắp lên ánh hào quang cho chiếc huy hiệu từng mờ úp, chỉ bằng một hành động chính nghĩa duy nhất được thực hiện vào phút chót.
Hãy hạ màn xuống, trong âm điệu du dương chậm rãi.