Những Kẻ Ngây Thơ Du Ngoại

Lượt đọc: 284 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 52

❊ ❊ ❊

Thung lũng hẹp nơi tọa lạc thành Nablous, hay Shechem, được canh tác rất kỹ lưỡng, đất đai đen bóng và cực kỳ màu mỡ. Nơi đây dồi dào nước tưới, và thảm thực vật phong phú càng trở nên nổi bật hơn nhờ tương phản với những ngọn đồi cằn cỗi sừng sững ở hai bên. Một trong những ngọn đồi này chính là Núi Chúc Phức cổ xưa, còn ngọn kia là Núi Nguyền Rủa. Những nhà bác học tìm kiếm sự ứng nghiệm của lời tiên tri cho rằng họ đã tìm thấy ở đây một điều kỳ diệu như vậy — đó là Núi Chúc Phức thì lạ lùng thay lại màu mỡ, trong khi ngọn đồi sánh đôi với nó lại lạ lùng thay vô cùng cằn cỗi. Tuy nhiên, chúng tôi không thấy có sự khác biệt lớn nào giữa chúng về mặt này.

Shechem nổi tiếng là một trong những nơi sinh sống của tổ phụ Giacốp, và là sào huyệt của những chi tộc đã tự tách rời khỏi các anh em Israel của mình để truyền bá những giáo lý không phù hợp với tín điều gốc của người Do Thái. Trong hàng ngàn năm, thị tộc này vẫn sinh sống tại Shechem dưới những luật lệ khắt khe, hầu như không có sự giao thương hay gắn bó nào với đồng loại thuộc bất kỳ tôn giáo hay quốc tịch nào. Suốt nhiều thế hệ, số lượng của họ chưa bao giờ vượt quá một hoặc hai trăm người, nhưng họ vẫn kiên định với đức tin cổ xưa và duy trì các nghi lễ truyền thống của tổ tiên. Lại còn bàn chuyện dòng dõi với gia thế lâu đời! Các vương hầu và quý tộc thường tự hào về những dòng họ mà họ có thể truy nguyên ngược về quá khứ vài trăm năm. Nhưng điều đó có đáng gì với nhúm gia tộc kỳ cựu ở Shechem này — những người có thể kể tên rành mạch các bậc cha ông ngược về tận ngàn năm trước mà không một chút đứt đoạn — ngược về một thời điểm xa xôi đến mức những con người lớn lên ở một vùng đất mà quá khứ cách đây hai trăm năm đã được gọi là thời “cổ đại” phải cảm thấy hoang mang, bối rối khi cố gắng lĩnh hội nó! Thế mới gọi là sự đáng kính — thế mới gọi là “dòng dõi” — thế mới là gia thế huy hoàng đáng để bàn đến. Tàn dư buồn bã và kiêu hãnh của một cộng đồng từng một thời hùng mạnh ấy vẫn khép mình cách ly với toàn thế giới; họ vẫn sống như cha ông họ đã sống, lao động như cha ông họ đã lao động, suy nghĩ và cảm nhận như những bậc tiền nhân, thờ phụng tại cùng một chốn, trước tầm mắt của cùng những cột mốc quen thuộc, theo cái cách kỳ lạ mang đậm dấu ấn gia trưởng mà tổ tiên họ từng làm hơn ba mươi thế kỷ trước. Tôi thấy mình cứ ngẩn ngơ ngắm nhìn bất kỳ hậu duệ tản mác nào của chủng tộc kỳ lạ này với một nỗi mê mẩn bị thôi miên, hệt như người ta trân trân nhìn một con voi ma mút bằng xương bằng thịt, hay một loài thú ăn cỏ khổng lồ từng chuyển động trong buổi bình minh mờ sương của buổi đầu tạo thế và từng chứng kiến những kỳ quan của thế giới huyền bí tồn tại trước trận đại hồng thủy.

Được gìn giữ vô cùng cẩn trọng giữa các tài liệu lưu trữ thiêng liêng của cộng đồng kỳ lạ này là một bản chép tay luật pháp cổ của người Do Thái, được cho là tài liệu cổ xưa nhất trên trái đất. Nó được viết trên da thuộc và có tuổi thọ khoảng bốn, năm ngàn năm. Không có gì ngoài tiền hối lộ mới có thể mua được một cái nhìn. Danh tiếng của nó có phần phai mờ trong những ngày gần đây, bởi vì có quá nhiều tác giả viết về các chuyến du hành tới Palestine đã tự cho phép mình ném vào đó những hoài nghi. Nhắc đến bản thảo này lại khiến tôi nhớ rằng mình đã mua được từ vị tư tế thượng phẩm của cộng đồng người Samaritanô cổ đại này, với một cái giá đắt đỏ, một tài liệu mật còn có tuổi đời cổ xưa hơn nữa và mức độ hấp dẫn kỳ thú hơn nhiều, mà tôi dự định sẽ cho xuất bản ngay khi hoàn thành việc dịch thuật.

Giô-suê đã đưa ra những lời trăn trối cuối cùng với con cháu Israel tại Shechem, và chôn giấu một kho báu quý giá một cách bí mật dưới một gốc cây sồi ở đó vào khoảng thời gian tương tự. Những người Samaritanô mê tín từ xưa đến nay vẫn luôn sợ hãi không dám đi tìm nó. Họ tin rằng nó được canh giữ bởi những linh hồn hung ác vô hình đối với con người.

Cách Shechem khoảng một dặm rưỡi, chúng tôi dừng chân ở chân núi Ê-ban trước một khu đất vuông nhỏ, được bao bọc bởi bức tường đá cao, quét vôi trắng tinh tươm. Chạy dọc theo một đầu của khu đất này là một ngôi mộ được xây theo kiểu của người Hồi giáo. Đó là lăng mộ của Giô-sép. Không có sự thật nào được xác thực tốt hơn điều này.

Khi Giô-sép sắp lâm, ông đã tiên tri về cuộc xuất hành của người Israel khỏi Ai Cập diễn ra bốn trăm năm sau đó. Cùng lúc đó, ông bắt dân chúng phải tuyên thệ rằng khi họ hành trình về vùng đất Ca-na-an, họ sẽ mang theo hài cốt của ông và chôn cất ông trong phần đất gia nghiệp cổ xưa của tổ phụ ông. Lời thề ấy đã được tuân thủ.

"Và hài cốt của Giô-sép, mà con cái Israel đem lên từ Ai Cập, thì họ chôn tại Shechem, trong một mảnh đất mà Giacốp đã mua của các con trai của Hamor, cha của Shechem, bằng một trăm miếng bạc."

Rất ít lăng mộ trên trái đất này giành được sự tôn kính của chừng ấy các dân tộc và những con người thuộc nhiều tôn giáo khác nhau như lăng mộ của Giô-sép. “Người Samaritanô và người Do Thái, người Hồi giáo và Cơ Đốc nhân đều đồng lòng tôn kính và bày tỏ sự kính trọng bằng những chuyến viếng thăm. Lăng mộ của Giô-sép, người con trai hiếu thảo, người anh em đầy lòng trắc ẩn và biết dung thứ, người con người đức hạnh, vị vương tử và nhà cai trị khôn ngoan. Ai Cập đã cảm nhận được tầm ảnh hưởng của ông — thế giới đều biết rõ lịch sử của ông.”

Cũng trong “mảnh đất” mà Giacốp đã mua của các con trai Hamor với giá một trăm miếng bạc ấy, chính là giếng nổi tiếng của Giacốp. Nó được đục khoét vào tảng đá nguyên khối, có diện tích chín foot vuông và sâu chín mươi foot. Tên của cái lỗ khiêm tốn trên mặt đất này, thứ mà người ta có thể đi ngang qua mà chẳng thèm liếc nhìn, lại quen thuộc như những từ ngữ cửa miệng của cả trẻ em lẫn nông dân ở tận nhiều vùng đất xa xôi. Nó nổi tiếng hơn cả đền Parthenon; nó cổ xưa hơn cả các Kim Tự Tháp.

Chính tại bên giếng này, Chúa Giê-xu đã ngồi và trò chuyện với người phụ nữ thuộc cộng đồng Samaritanô kỳ lạ, cổ kính mà tôi vừa nhắc đến, đồng thời kể cho bà nghe về nguồn nước hằng sống huyền bí. Giống như hậu duệ của các nhà quý tộc Anh cổ đại vẫn trân trọng lưu giữ trong truyền gia phả của gia tộc mình câu chuyện vị vua này hay vị vua nọ từng dừng chân lưu lại một ngày với một vị tổ tiên được sủng ái nào đó từ ba trăm năm trước, chắc chắn rằng hậu duệ của người phụ nữ Samari, hiện đang sinh sống tại Shechem đó, vẫn nhắc lại với niềm kiêu hãnh có thể thông cảm được về cuộc trò chuyện của tổ tiên họ diễn ra cách đây một thời gian ngắn với Đấng Mê-si của người Cơ Đốc. Không đời nào họ lại đánh giá thấp một sự vinh dự như thế này. Bản chất người Samaritanô cũng là bản chất con người, và bản chất con người thì luôn ghi nhớ những lần tiếp xúc với các bậc vĩ nhân.

Vì một tội ác xúc phạm đến danh dự gia đình, các con trai của Giacốp đã từng tiêu diệt toàn bộ Shechem một lần.

Chúng tôi rời Giếng Giacốp và tiếp tục hành trình cho đến tận tám giờ tối, nhưng đi khá chậm, bởi vì chúng tôi đã ở trên yên ngựa suốt mười chín giờ đồng hồ, và lũ ngựa đã kiệt sức một cách đáng thương. Chúng tôi đi vượt lên trước đoàn lều xa đến mức buộc phải cắm trại ngay trong một ngôi làng Ả Rập và ngủ trên mặt đất. Chúng tôi hoàn toàn có thể ngủ trong ngôi nhà lớn nhất ở đó; nhưng lại vướng phải một vài điểm bất lợi nhỏ: nó đầy rẫy côn trùng và sâu bọ, nền nhà bằng đất, chẳng có điểm nào là sạch sẽ cả, hơn nữa lại có một gia đình dê ở ngay phòng ngủ duy nhất và hai con lừa ở phòng khách. Bên ngoài thì chẳng có sự bất tiện nào ngoại trừ việc những dân làng da ngăm đen, rách rưới, có đôi mắt tinh anh đủ mọi giới tính và mọi lứa tuổi túm tụm ngồi xổm xung quanh chúng tôi, bàn tán và bình phẩm bằng những giọng điệu ồn ào cho đến tận nửa đêm. Chúng tôi chẳng màng đến tiếng ồn vì quá mệt mỏi, nhưng chắc hẳn bạn đọc thừa biết rằng thật là một điều gần như bất khả thi để chợp mắt khi biết rằng có người đang nhìn chằm chằm vào mình. Chúng tôi lên giường đi ngủ lúc mười giờ, rồi lại thức dậy lúc hai giờ để lên đường khởi hành một lần nữa. Con người cứ thế bị hành hạ bởi đám người dẫn đường dragoman, những kẻ có hoài vọng duy nhất trong đời là vượt qua mặt nhau.

Vào khoảng rạng đông, chúng tôi đi ngang qua Si-lô, nơi Hòm Bia Giao Ước từng ngự trị trong ba trăm năm, và ngay tại cổng thành đó, vị tư tế già tốt bụng Hê-li đã ngã nhào ra đất và “gãy cổ” khi sứ giả, phi ngựa thục mạng từ chiến trường về, báo cho ông tin thất trận của dân tộc, cái chết của các con trai ông, và hơn hết thảy, là việc Hòm Bia — niềm tự hào, niềm hy vọng, nơi nương náu của Israel, chiếc Hòm cổ xưa mà tổ phụ họ từng mang theo khi rời khỏi Ai Cập — đã bị địch bắt mất. Chẳng có gì lấy làm lạ khi trong những hoàn cảnh như thế, ông đã ngã quỵ và gãy cổ. Nhưng Si-lô chẳng có chút sức hút nào đối với chúng tôi. Trời lạnh buốt đến mức chẳng có sự thoải mái nào khác ngoài việc chuyển động, và cơn buồn ngủ bủa vây khiến chúng tôi suýt không thể ngồi vững trên lưng ngựa.

Một lúc sau, chúng tôi đến một đống đổ nát không còn hình thù rõ rệt, nơi vẫn mang cái tên Bê-tên. Chính tại nơi đây, Giacốp đã ngả lưng và có được khải tượng tuyệt diệu về các thiên sứ bay lên bay xuống trên chiếc thang vươn từ mây trời chạm đến mặt đất, đồng thời thoáng thấy chốn quê hương phước hạnh của họ qua những cánh cổng thiên đàng rộng mở.

Những người hành hương nhặt nhạnh những gì còn sót lại của đống đổ nát linh thiêng ấy, rồi chúng tôi tiếp tục hối hả tiến về mục tiêu của cuộc thánh chiến của mình, thành Giê-ru-sa-lem lừng danh.

Càng đi về phía trước, mặt trời càng gay gắt, và phong cảnh lại càng trở nên nhiều đá đới, cằn cỗi, trơ trọi, đầy chán chường và ảm đạm. Không thể có nhiều mảnh đá vụn được tung vãi khắp nơi trên phần này của thế giới đến thế, trừ phi cứ mỗi mười foot vuông đất lại từng bị chiếm dụng bởi một cơ sở đẽo đá riêng biệt nào đó trong suốt cả một thời đại. Hầu như chẳng có lấy một cái bóng cây hay bụi rễ nào trên suốt dọc đường. Thậm chí cả cây ô-liu và cây xương rồng, những người bạn thân thiết của thứ đất đai bạc màu ấy, cũng hầu như đã rời bỏ vùng đất này. Không có cảnh quan nào gây mỏi mắt hơn cái phong cảnh bao bọc lấy những con đường tiếp cận Giê-ru-sa-lem. Có lẽ điểm khác biệt duy nhất giữa những con đường và vùng đất xung quanh chỉ là trên đường có nhiều đá hơn một chút so với đất đai quanh đó.

Chúng tôi đi qua Ra-ma, Bê-rốt, và ở phía bên tay phải trông thấy lăng mộ của vị tiên tri Sa-mu-ên, nằm chơ vơ trên đỉnh một vùng đất cao có tầm nhìn bao quát. Thế nhưng vẫn chẳng thấy bóng dáng Giê-ru-sa-lem đâu. Chúng tôi nôn nóng rảo bước nhanh hơn. Chúng tôi dừng lại một thoáng tại Suối Beira cổ xưa, nhưng những hòn đá nơi đó, bị mài mòn sâu hoắm bởi cằm của những con vật khát nước đã chết đi từ nhiều thế kỷ trước, chẳng mảy may hấp dẫn được chúng tôi — chúng tôi chỉ khao khát được nhìn thấy Giê-ru-sa-lem. Chúng tôi thúc ngựa vượt qua hết ngọn đồi này đến ngọn đồi khác, và thường thì cứ chồm cổ ngóng trông từ vài phút trước khi lên đến đỉnh — nhưng sự thất vọng luôn nối tiếp phía sau: — lại thêm những ngọn đồi đần độn phía trước — lại thêm phong cảnh chướng mắt — chẳng có Thành Thánh nào cả.

Cuối cùng, vào giữa trưa, những đoạn tường cổ kính và các vòm cổng đổ nát bắt đầu xuất hiện dọc theo lối đi — chúng tôi lê bước vượt qua thêm một ngọn đồi nữa, và mọi người hành hương cùng mọi kẻ tội lỗi đều tung cao chiếc mũ của mình lên! Giê-ru-sa-lem!

Nằm chênh vênh trên những ngọn đồi vĩnh cửu, trắng xóa, rợp mái vòm và nguy nga vững chãi, quây quần lại với nhau và được thắt chặt bằng những bức tường xám cao ngút, thành phố cổ kính hiện lên rực rỡ dưới ánh mặt trời. Nhỏ bé làm sao! Chà, nó chẳng lớn hơn một ngôi làng bốn ngàn dân của Mỹ là bao, và cũng chỉ tương đương một thành phố bình thường ở Xy-ri có ba mươi ngàn dân. Giê-ru-sa-lem chỉ có vỏn vẹn mười bốn ngàn nhân khẩu.

Chúng tôi xuống ngựa và đứng ngắm nhìn, lặng thinh không nói quá chục câu, qua khoảng thung lũng rộng lớn nằm chắn giữa trong suốt hơn một giờ đồng hồ; và ghi nhận những đặc điểm nổi bật của thành phố mà qua các bức tranh, ai nấy đều đã quen thuộc từ thời cõi trường cho đến cuối đời. Chúng tôi có thể nhận ra Tháp Hippicus, Đền thờ Hồi giáo Omar, Cổng Damascus, Núi Ô-liu, Thung lũng Giê-hô-sát-phát, Tháp Đa-vít, và Vườn Ghết-sê-mê — và dựa vào các mốc định vị đó, có thể đoán gần như chính xác vị trí của rất nhiều chốn khác mà chúng tôi không tài nào phân biệt nổi.

Tôi ghi lại ở đây như một sự thật đáng chú ý nhưng chẳng có gì đáng khiển trách rằng ngay cả những người hành hương của chúng tôi cũng không hề rơi lệ. Tôi nghĩ trong đoàn chẳng có một cá nhân nào mà tâm trí lại không ngập tràn những suy nghĩ, hình ảnh và ký ức được khơi gợi bởi bề dày lịch sử vĩ đại của thành phố cổ kính đang trải trước mắt chúng tôi, thế mà giữa tất cả bọn họ vẫn không hề có “tiếng khóc than nào”.

Chẳng có lý do gì để phải khóc. Nước mắt sẽ trở nên lạc lõng. Những suy nghĩ mà Giê-ru-sa-lem gợi lên đều đượm tính thơ ca, sự hùng vĩ, và hơn hết thảy là phẩm giá. Những tư tưởng cao cả ấy không tìm thấy sự diễn đạt thích hợp trong những cảm xúc sướt mướt của trẻ thơ.

Ngay sau giờ ngọ, chúng tôi bước vào những con phố hẹp và quanh co ấy qua Cổng Damascus cổ kính và nổi tiếng, và giờ đây, suốt mấy tiếng đồng hồ qua, tôi vẫn đang cố gắng để lĩnh hội được rằng mình thực sự đang có mặt ở thành phố cổ lừng lẫy nơi vua Sa-lô-môn từng ngự trị, nơi Áp-ra-ham từng trò chuyện cùng Đấng Tối Cao, và nơi những bức tường thành vẫn sừng sững đứng đó từng chứng kiến cảnh tượng Đóng Đinh câu rút.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.