Những Kẻ Ngây Thơ Du Ngoại

Lượt đọc: 249 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 25

❊ ❊ ❊

Có rất nhiều điều ở đất nước Ý này mà tôi không thể hiểu nổi — và đặc biệt nhất là tôi không tài nào hiểu được tại sao một Chính phủ khánh tận lại có thể xây dựng những nhà ga xe lửa nguy nga như cung điện và những con đường cái quan tuyệt mỹ đến thế. Chà, những con đường này cứng như kim cương, thẳng tắp như kẻ chỉ, nhẵn thín như mặt sàn, và trắng tinh như tuyết. Khi trời tối mịt không thể nhìn thấy bất cứ vật gì khác, người ta vẫn có thể nhận ra những con đường cái quan trắng phau của nước Pháp và nước Ý; và chúng sạch sẽ đến mức có thể bày đồ ăn trực tiếp lên mặt đường mà chẳng cần khăn trải bàn. Thế mà chẳng hề thu một cẳng phí nào.

Còn về hệ thống đường sắt — chúng ta chẳng có lấy một tuyến đường nào sánh được. Các toa tàu lướt đi êm ru như thể đang chạy trên giày trượt. Các nhà ga là những cung điện rộng lớn bằng cẩm thạch đẽo gọt, với những hàng cột uy nghi bằng chính thứ đá vương giả ấy kéo dài từ đầu này đến đầu kia, cùng những bức tường và trần nhà rộng thênh thang được trang trí lộng lẫy bằng bích họa. Những ô cửa vòm cao ngất được tô điểm bằng các bức tượng, và những sàn nhà rộng rãi đều được lát bằng những phiến cẩm thạch đánh bóng.

Những điều này khiến tôi say đắm hơn cả trăm phòng trưng bày với vô vàn báu vật nghệ thuật vô giá của nước Ý, bởi vì tôi có thể hiểu được cái trước trong khi lại chẳng có đủ khả năng để thưởng thức cái sau. Ở những con đường cái quan, những tuyến đường sắt, các nhà ga, cùng những đại lộ mới với những dãy nhà đồng kiểu ở Florence và các thành phố khác ở đây, tôi nhìn thấy thiên tài của Louis Napoleon, hay nói đúng hơn, tôi nhìn thấy những công trình của vị chính khách ấy đang được mô phỏng. Nhưng Louis đã lo liệu chu đáo để ở Pháp phải có một nền tảng vững chắc cho những cải tiến này — đó là tiền bạc. Ông luôn có sẵn nguồn lực tài chính để hậu thuẫn cho các dự án của mình; chúng làm cho nước Pháp mạnh mẽ hơn chứ chưa bao giờ làm suy yếu đất nước. Sự thịnh vượng vật chất của nước Pháp là có thật. Nhưng ở đây thì hoàn toàn ngược lại. Đất nước này đang phá sản. Chẳng có nền tảng thực sự nào cho những công trình vĩ đại ấy cả. Sự thịnh vượng mà chúng dường như biểu thị chỉ là một lớp vỏ bọc giả tạo. Ngân khố trống rỗng, và vì thế chúng chỉ làm nước Ý kiệt quệ thêm chứ không hề làm cho đất nước mạnh mẽ lên. Nước Ý đã đạt được tâm nguyện thiết tha nhất của mình là trở thành một Quốc gia độc lập — và qua đó, cô đã vớ phải một con voi trong canh bạc chính trị. Cô chẳng có gì để nuôi nó cả. Vì thiếu kinh nghiệm trong việc quản lý đất nước, cô đã lao vào đủ thứ chi tiêu vô bổ và làm khánh kiệt ngân khố gần như chỉ trong chớp mắt. Cô ném qua cửa sổ hàng triệu franc vào một hạm đội hải quân chẳng hề cần đến, và ngay lần đầu tiên đem món đồ chơi mới ấy ra trận, cô đã khiến nó tan thành mây khói — nói theo ngôn ngữ của những người hành hương.

Nhưng chẳng cái rủi nào lại không mang lại điều may cho ai đó. Một năm trước, khi nước Ý thấy trước cảnh sụp đổ hoàn toàn đang lù lù trước mặt và những tờ tiền giấy của cô hầu như chẳng đáng giá bằng thứ giấy dùng để in chúng, Nghị viện nước này đã đánh liều thực hiện một cú đánh táo bạo mà có lẽ sẽ khiến những chính khách gan dạ nhất phải khiếp vía trong những hoàn cảnh ít tuyệt vọng hơn. Họ đã, coi như là, tịch thu các điền trang của Giáo hội! Chịu chơi thay cho một nước Ý bị giới tu sĩ thao túng! Thật bất ngờ trong một vùng đất đã mò mẫm trong đêm đen của sự mê tín dị đoan dưới ách tu sĩ suốt một nghìn sáu trăm năm! Đó là một may mắn kỳ diệu cho nước Ý, khi sức ép của thời cuộc đã buộc cô phải phá xiềng thoát khỏi nhà tù ấy.

Họ không gọi đó là tịch thu tài sản của giáo hội. Nghe như vậy thì có vẻ vẫn quá gay gắt. Nhưng thực chất thì đúng là như vậy. Có hàng ngàn nhà thờ ở Ý, mỗi nhà thờ cất giấu trong các căn phòng kín vô số của cải không tài nào đếm xuể, và mỗi nơi đều nuôi dưỡng cả một tiểu đoàn tu sĩ. Rồi còn những điền trang của Giáo hội — hết cánh đồng này đến cánh đồng khác với những vùng đất màu mỡ nhất và những khu rừng tráng lệ nhất trên khắp đất nước Ý — tất cả đều mang lại nguồn thu nhập khổng lồ cho Giáo hội, nhưng chẳng có một xu nào đóng thuế cho Nhà nước. Ở một số vùng rộng lớn, Giáo hội sở hữu toàn bộ tài sản — đất đai, sông ngòi, rừng cây, nhà máy xay và các xí nghiệp. Họ mua, họ bán, họ sản xuất, và vì chẳng phải đóng thuế một cẳng nào, thì ai có thể hy vọng cạnh tranh nổi với họ?

Chà, Chính phủ trên thực tế đã tước đoạt tất cả những thứ này, và chắc chắn chẳng mấy chốc sẽ tước đoạt nó theo một cách thức phũ phàng và thực tế trần trụi. Phải làm một điều gì đó để cứu vãn một ngân khố đang cạn kiệt, và toàn cõi nước Ý chẳng còn nguồn lực nào khác — chẳng có gì ngoài sự giàu có của Giáo hội. Vì vậy, Chính phủ dự định sẽ chiếm lấy phần lớn doanh thu phát sinh từ các trang trại, nhà máy,... của giới tu sĩ, đồng thời cũng dự định tiếp quản các nhà thờ để tự mình điều hành theo cách riêng và tự chịu trách nhiệm. Trong một vài trường hợp, họ sẽ để yên cho các cơ ngơi của những nhà thờ lớn được sủng ái, nhưng ở tất cả những nơi khác, chỉ một nhúm tu sĩ được giữ lại để giảng đạo và cầu kinh, một số ít sẽ được hưởng trợ cấp, và phần còn lại bị đẩy ra đường.

Xin hãy ngó qua một vài nhà thờ này cùng những vật phẩm trang hoàng của chúng, để xem Chính phủ đang làm một việc đúng đắn hay không. Tại Venice ngày nay, một thành phố với một trăm nghìn dân, có tới mười hai trăm tu sĩ. Trời mới biết trước khi Nghị viện cắt giảm biên chế thì ở đây có bao nhiêu người. Kìa là nhà thờ Dòng Tên vĩ đại. Dưới chế độ cũ, phải cần đến sáu mươi tu sĩ mới vận hành nổi nó — giờ đây Chính phủ chỉ cần năm người, và số còn lại đã bị sa thải. Xung quanh nhà thờ ấy, sự khốn cùng và nghèo đói hiện diện khắp nơi. Ngay trước cửa, cả chục chiếc mũ và khăn trùm đầu được ngả ra trước mặt chúng tôi, từng cái đầu cúi thấp cung kính, và chìa ra biết bao bàn tay khẩn khoản xin dán mấy đồng xu — van xin bằng những từ ngữ ngoại quốc mà chúng tôi chẳng thể hiểu nổi, nhưng van xin bằng cả sự im lặng, với đôi mắt buồn bã, đôi má hóp sâu, và những bộ xiêm y rách rưới chẳng cần đến lời nào để phiên dịch. Rồi chúng tôi bước qua cánh cửa lớn, và tưởng chừng như bao nhiêu trân bảo trên đời đang bày ra trước mắt! Những cột trụ khổng lồ đẽo từ những khối cẩm thạch nguyên khối, được khảm từ trên xuống dưới bằng hàng trăm hoa văn tinh xảo làm bằng đá cẩm thạch xanh cổ quý giá; những chiếc bục giảng cũng bằng những nguyên liệu xa hoa ấy, với những lớp màn rủ xuống thành biết bao nếp gấp như tranh vẽ, cấu trúc bằng đá khéo léo mô phỏng những thớ vải dệt tinh vi; đại thánh đường rực rỡ với những mặt ốp được đánh bóng cùng những hàng lan can bằng mã não phương Đông, ngọc thạch jasper, cẩm thạch xanh cổ, và nhiều loại đá quý khác mà ngay cả tên gọi chúng ta cũng hiếm khi được nghe — và những phiến ngọc lưu ly vô giá được bày biện khắp nơi một cách bạt mạng như thể nhà thờ có cả một mỏ đá quý vậy. Giữa chốn nguy nga lộng lẫy nhường ấy, những vật dụng bằng vàng bạc ròng trên bệ thờ bỗng trở nên rẻ tiền và tầm thường làm sao. Ngay cả sàn nhà và trần nhà cũng tiêu tốn một gia tài bậc đế vương.

Giờ thì, ích lợi gì khi để mặc tất cả những thứ cải ủi ấy nằm ngủ quên, trong khi một nửa cộng đồng ngoài kia chật vật từng ngày không biết làm sao để đắp đổi qua ngày? Và khôn ngoan ở chỗ nào khi cho phép hàng trăm hàng triệu franc bị giam hãm trong thứ đồ trang hoàng vô tích sự của các nhà thờ trên khắp nước Ý, trong khi người dân bị áp bức đến tột cùng bởi thuế khóa để duy trì một Chính phủ đang hấp hối?

Theo những gì tôi thấy, trong suốt một nghìn rưỡi năm qua, nước Ý đã dốc toàn bộ sinh lực, tài chính và sức lao động của mình để dựng lên một quần thể kiến trúc nhà thờ kỳ vĩ, và để làm được điều đó, cô đã để một nửa công dân của mình chết đói. Ngày nay, đất nước này là một viện bảo tàng khổng lồ trưng bày sự tráng lệ sánh đôi cùng khốn khổ. Tất cả các nhà thờ trong một thành phố bình thường ở Mỹ gộp lại có lẽ cũng chẳng đủ tiền mua nổi mớ phụ tùng đính ngọc bích trong một trong hàng trăm nhà thờ lớn của nước này. Và cứ ứng với mỗi kẻ ăn mày ở Mỹ, nước Ý lại có thể trưng ra một trăm kẻ — đi kèm với những bộ rách rưới và chí rận tương xứng. Đây là mảnh đất khốn cùng nhất và vương giả nhất trên trái đất.

Hãy nhìn vào Đại thánh đường Duomo ở Florence — một công trình đồ sộ đã rút ruột ví tiền của người dân suốt năm thế kỷ nay, và đến nay vẫn chưa hoàn thành. Giống như bao người khác, tôi đã sụp xuống và chiêm ngưỡng nó, nhưng khi đám ăn mày rách rưới bu quanh tôi, sự tương phản ấy quá đỗi nổi bật, quá đỗi gợi mở, và tôi thốt lên rằng: “Ôi, những người con của nước Ý cổ điển, có phải tinh thần dấn thân, tự lực cánh sinh và nỗ lực cao cả đã chết hẳn trong các ngươi rồi hay không? Nguyền rủa sự lười nhác vô tích sự của các ngươi, sao các ngươi không đi cướp nhà thờ của mình đi?”

Ba trăm vị tu sĩ hạnh phúc, sung túc đang được thuê làm việc trong Đại thánh đường đó.

Và giờ thì cơn thịnh nộ của tôi đã bốc lên, tôi cứ việc tiếp tục lăng mạ bất cứ kẻ nào tôi nghĩ tới. Họ có một lăng mộ nguy nga ở Florence, được xây dựng để chôn cất Chúa Cứu thế và dòng họ Medici. Nghe có vẻ phạm thượng, nhưng đó là sự thật, và ở đây họ đang hành xử sự phạm thượng đó. Những kẻ Medici đã chết và chịu đày xuống địa đạo, những kẻ từng bạo ngược tàn ác với Florence và là tai họa của thành phố này trong hơn hai trăm năm, lại được ướp muối cất giữ trong một vòng vây các hầm mộ đắt giá, và ngay ở chính giữa, Mộ Thánh đáng lẽ đã được dựng lên ở đó. Phái đoàn được cử đến Jerusalem để chiếm lấy nó đã gặp rắc rối và không thể thực hiện được vụ trộm ấy, thế nên khu vực trung tâm của lăng mộ nay vẫn bỏ trống. Người ta bảo rằng toàn bộ lăng mộ vốn dĩ dành cho Mộ Thánh, và chỉ bị biến thành nơi chôn cất của gia đình sau khi chiến dịch Jerusalem thất bại — nhưng xin quý vị lượng thứ. Chắc chắn một số kẻ nhà Medici đó sẽ tự tìm cách chui vào được thôi. — Những gì chúng không dám mặt dày làm thì cũng chẳng đáng để làm. Chà, chúng còn cho vẽ lại những chiến công cỏn con, đã bị lãng quên của mình trên cạn lẫn ngoài khơi thành những bức bích họa hoành tráng (giống như các vị Doge cổ đại của Venice) với Chúa Cứu thế và Đức Mẹ đang ném hoa hồng xuống cho chúng từ những tầng mây, và chính Đấng Tối Cao đang vỗ tay tán thưởng từ ngai vàng trên Thiên đàng! Và ai đã vẽ những thứ này? Chà, Titian, Tintoretto, Paul Veronese, Raphael — chẳng phải ai khác ngoài những thần tượng của thế giới, những “bậc thầy cổ đại”.

Andrea del Sarto đã ca tụng các vương công của mình trong những bức tranh chắc chắn sẽ cứu vớt họ khỏi sự lãng quên mà họ đáng phải chịu, thế mà họ lại để ông phải chết đói. Đáng đời ông ta. Raphael đã vẽ những kẻ ác nhân địa hạ như Catherine và Marie de Medici ngồi trên thiên đàng và trò chuyện thân mật với Đức Mẹ Maria và các thiên thần (chưa kể đến những nhân vật cao quý hơn thế), vậy mà những người bạn của tôi lại mắng mỏi tôi chỉ vì tôi có chút thành kiến với các bậc thầy cổ đại — vì đôi khi tôi không thể nhận ra vẻ đẹp ẩn chứa trong các tác phẩm của họ. Tôi không thể không nhìn thấy nó, thỉnh thoảng là vậy, nhưng tôi vẫn cứ lên án cái tinh thần đê hèn đã có thể thuyết phục những bậc thầy ấy bán rẻ tài năng cao quý của mình để nịnh hót những quái vật như các vương công Pháp, Venice và Florence từ hai, ba trăm năm trước.

Người ta bảo với tôi rằng các bậc thầy cổ đại buộc phải làm những điều đáng hổ thẹn này vì miếng cơm manh áo, khi mà các vương công và thế lực cầm quyền là những ân nhân duy nhất của nghệ thuật. Nếu một người được ban tặng tài năng lớn lao có thể kéo niềm kiêu hãnh và nhân phẩm của mình xuống bùn nhơ để kiếm miếng cơm thay vì chết đói với phẩm giá nguyên vẹn trong người, thì lời biện hộ ấy là hợp lệ. Nó cũng sẽ biện minh cho hành vi trộm cắp của các ngài Washington và Wellington, cũng như thói lăng loàn ở phụ nữ mà thôi.

Nhưng chẳng hiểu sao, tôi không tài nào gạt cái lăng mộ nhà Medici ra khỏi trí nhớ của mình. Nó rộng lớn như một nhà thờ; nền nhà của nó đủ lộng lẫy để lát sàn cung điện của một vị Vua; mái vòm lớn của nó rực rỡ bích họa; tường của nó được làm bằng — cái gì nhỉ? Cẩm thạch? — thạch cao? — gỗ? — giấy? Không. Đá porfia đỏ — cẩm thạch xanh cổ — ngọc jasper — mã não phương Đông — ngọc thạch anh trắng — xà cừ — đá mã não sẫm — san hô đỏ — ngọc lưu ly! Toàn bộ những bức tường rộng lớn đều hoàn toàn làm bằng những loại đá quý này, được cẩn khắc đan cài vào nhau vô cùng tỉ mỉ thành các hoa văn và hình khối phức tạp, rồi được đánh bóng đến mức rực sáng như những chiếc gương lớn phản chiếu ánh hào quang lộng lẫy từ mái vòm phía trên. Và trước bức tượng của một trong những kẻ Medici đã khuất ấy là một chiếc vương miện lấp lánh kim cương và ngọc lục bảo đủ sức mua gần cả một chiến hạm. Đây chính là những thứ mà Chính phủ đang dòm ngó bằng con mắt tà ác, và sẽ là một điều may mắn cho nước Ý khi chúng tan chảy vào ngân khố quốc gia.

Và giờ thì.... Dù sao đi nữa, lại có một kẻ ăn mày đến gần. Tôi sẽ ra ngoài và tiêu diệt hắn, rồi quay lại viết tiếp một chương đầy những lời chì chiết.

Sau khi đã “ăn tươi nuốt sống” đứa trẻ mồ côi bất hạnh — sau khi đã xua đuổi những đồng bọn của hắn — sau khi đã bình tĩnh và trở nên trầm ngâm suy tư — giờ đây tôi cảm thấy dịu dàng hơn. Tôi cảm thấy rằng sau khi đã nói quá thoải mái về các tu sĩ và nhà thờ, công lý đòi hỏi nếu tôi biết bất cứ điều gì tốt đẹp về một trong hai bên, tôi nên nói ra điều đó. Tôi đã nghe về rất nhiều việc làm rạng danh giới tu sĩ, nhưng điều nổi bật nhất đọng lại trong tâm trí tôi lúc này là lòng tận tụy mà một trong các tu hội khất thực đã thể hiện trong đợt dịch tả hoành hành năm ngoái. Tôi đang nói đến các tu sĩ dòng Đa Minh — những người mặc bộ áo trùm đầu và áo choàng nâu thô, dày trong cái khí hậu nóng bức này, và đi chân trần. Tôi tin rằng họ hoàn toàn sống nhờ vào của bố thí. Họ chắc chắn phải rất yêu đạo giáo của mình, mới chịu đựng nhiều gian khổ đến thế vì nó. Khi dịch tả bùng phát ở Naples; khi người ta chết từng trăm người mỗi ngày; khi mọi mối quan tâm đến phúc lợi chung bị nuốt chửng bởi lợi ích cá nhân ích kỷ, và mọi công dân đều biến việc lo cho bản thân thành mục đích duy nhất, thì những con người này đã tập hợp lại với nhau và đi khắp nơi chăm sóc người bệnh cùng chôn cất người chết. Những nỗ lực cao cả của họ đã đánh đổi bằng sinh mạng của nhiều người trong số họ. Họ đã hy sinh một cách hoan hỉ, và điều đó thật đáng đời họ. Những tín điều chính xác đến từng con số, và những chi tiết giáo lý nhỏ nhặt đến mức rạch rồi rạ là hoàn toàn cần thiết cho sự cứu rỗi của một số loại linh hồn, nhưng chắc chắn lòng bác ái, sự thuần khiết, tính vị tha ngự trị trong trái tim của những con người như thế này sẽ cứu rỗi linh hồn họ dẫu cho họ có khánh kiệt trong tôn đức chân chính — thứ tôn giáo mà chúng ta đang có.

Một trong những gã tu sĩ béo ú đi chân trần ấy đã theo chúng tôi đến Civita Vecchia trên chiếc tàu hơi nước nhỏ của Pháp. Chỉ có nửa tá chúng tôi trong khoang hành khách. Gã thuộc về khoang hạng ba. Gã chính là linh hồn của con tàu, tên khát máu của Tòa án Dị giáo! Gã và người trưởng ban nhạc của một chiến hạm Pháp đã luân phiên chơi piano và hát nhạc opera; họ cùng nhau hát song ca; họ tự chế trang phục sân khấu ngẫu hứng và diễn cho chúng tôi xem những vở kịch phàm tục và kịch câm đầy phóng đại. Chúng tôi hòa hợp cực kỳ tốt đẹp với vị tu sĩ, và cực kỳ năng nổ trò chuyện, dẫu cho gã chẳng thể hiểu chúng tôi nói gì và chắc chắn gã chưa từng thốt ra một từ nào mà chúng tôi có thể đoán được nghĩa.

Cái xứ Civita Vecchia này là cái ổ rác rưởi, chí rận và dốt nát tuyệt vời nhất mà chúng tôi từng tìm thấy cho đến nay, ngoại trừ cái chốn đọa đày châu Phi mà họ gọi là Tangier, vốn y hệt như vậy. Người dân ở đây sống trong những con hẻm rộng hai thước, tỏa ra một thứ mùi đặc trưng nhưng không lấy gì làm thú vị cho lắm. Thật may là các con hẻm không rộng hơn, bởi vì hiện tại chúng đã chứa đủ một lượng mùi mà con người có thể chịu đựng được, và tất nhiên, nếu chúng rộng hơn thì sẽ chứa nhiều mùi hơn, và khi đó người dân sẽ lăn ra chết. Những con hẻm này được lát đá, và được thảm bằng những con mèo đã qua đời, những miếng giẻ rách mục nát, những ngọn rau phân hủy, và những mảnh bốt cũ, tất cả đều ngập ngụa trong nước rửa bát, thế mà người dân vẫn ngồi quanh trên những chiếc ghế đẩu và tận hưởng nó. Nhìn chung họ rất lười nhác, thế nhưng lại có rất ít trò tiêu khiển. Họ làm việc hai hoặc ba tiếng mỗi lần, nhưng không hề vất vả, rồi họ nghỉ tay và bắt ruồi. Việc này chẳng đòi hỏi tài năng gì sất, bởi vì họ chỉ cần chộp lấy — nếu không bắt được con họ đang nhắm tới, họ sẽ túm lấy con khác. Đối với họ thế nào cũng xong. Họ chẳng có sự thiên vị nào cả. Tóm được con nào thì đó chính là con họ muốn.

Họ có những loại côn trùng khác nữa, nhưng điều đó không làm họ trở nên hống hách. Họ là những con người rất điềm tĩnh và khiêm nhường. Họ sở hữu những loại sinh vật này nhiều hơn các cộng đồng khác, nhưng họ chẳng hề khoe khoang.

Những con người này rất ở bẩn — từ khuôn mặt, thân thể cho đến y phục. Khi thấy bất kỳ ai mặc chiếc áo sơ mi sạch sẽ, điều đó liền khơi dậy sự khinh miệt của họ. Phụ nữ giặt quần áo suốt nửa ngày tại các bể nước công cộng trên phố, nhưng có lẽ đó là quần áo của người khác. Hoặc có lẽ họ giữ một bộ để mặc và một bộ để giặt; bởi vì họ chẳng bao giờ mặc những thứ đã từng được giặt giũ. Khi giặt xong, họ ngồi trong các con hẻm và âu yếm bầy con cái của mình. Họ ôm ấp từng đứa nhóc lọ lem một, trong khi những đứa khác thì cọ lưng vào cột cửa và cảm thấy hạnh phúc.

Toàn bộ đất nước này thuộc về Lãnh địa Giáo hoàng. Họ dường như chẳng có trường học nào ở đây, và chỉ có duy nhất một chiếc bàn bi-a. Trình độ học vấn của họ đang ở mức vô cùng thấp kém. Một bộ phận nam giới đi gia nhập quân đội, một bộ phận vào tu viện, và phần còn lại làm nghề đóng giày.

Họ vẫn duy trì hệ thống hộ chiếu ở đây, nhưng Thổ Nhĩ Kỳ cũng vậy. Điều này cho thấy Lãnh địa Giáo hoàng cũng tiến bộ chẳng kém gì Thổ Nhĩ Kỳ. Chỉ riêng thực tế này cũng đủ để làm câm lặng cái lưỡi của những kẻ vu khống độc ác. Tôi đã phải xin thị thực hộ chiếu để đến Rome ở Florence, và rồi họ không chịu để tôi lên bờ ở đây cho đến khi một cảnh sát kiểm tra nó trên cầu tàu và gửi cho tôi một giấy phép. Họ thậm chí không dám để tôi cầm hộ chiếu trên tay trong mười hai tiếng đồng hồ, vì trông tôi quá ư là đáng gờm. Họ cho rằng tốt hơn là nên để tôi hạ hỏa. Chắc họ tưởng tôi muốn chiếm lấy thị trấn này không chừng. Họ làm sao mà hiểu nổi tôi. Tôi thèm vào. Họ kiểm tra hành lý của tôi tại nhà ga. Họ cầm một trong những câu nói đùa hiểm hóc nhất của tôi, đọc đi đọc lại cẩn thận hai lần rồi đọc ngược từ dưới lên trên. Nhưng nó quá thâm thúy đối với họ. Họ chuyền tay nhau đọc, và ai nấy đều ngẫm nghĩ về nó một lúc, nhưng nó đã đánh gục tất cả.

Đó không phải là một trò đùa tầm thường. Cuối cùng, một sĩ quan kỳ cựu đã đánh vần nó một cách chậm rãi, lắc đầu ba bốn lần và tuyên bố rằng theo quan điểm của ông ta, đó là một tài liệu nổi loạn. Đó là lần đầu tiên tôi cảm thấy hoảng hốt. Tôi lập tức tuyên bố rằng mình sẽ giải thích tài liệu đó, và họ xúm lại xung quanh. Thế là tôi giải thích, giải thích và lại giải thích, họ ghi chép lại tất cả những gì tôi nói, nhưng tôi càng giải thích thì họ lại càng không tài nào hiểu nổi, và khi cuối cùng họ chịu dừng lại, thì chính bản thân tôi cũng chẳng thể hiểu nổi nó nữa.

Họ bảo rằng họ tin đó là một tài liệu kích động, nhắm vào chính phủ. Tôi long trọng tuyên bố rằng không phải thế, nhưng họ chỉ lắc đầu và không chịu thỏa mãn. Sau đó họ hội ý một hồi lâu; và cuối cùng họ tịch thu nó. Tôi rất tiếc vì điều này, bởi vì tôi đã tốn rất nhiều thời gian cho câu đùa đó, và dành cho nó khá nhiều niềm tự hào, và giờ thì tôi đoán mình sẽ chẳng bao giờ gặp lại nó nữa. Tôi đoán nó sẽ được gửi lên và cất giữ giữa những kho lưu trữ tội phạm của Rome, và sẽ luôn bị coi là một cỗ máy địa ngục bí ẩn suýt chút nữa đã phát nổ như một quả mìn và thổi tung vị Giáo hoàng kính yêu lên muôn nơi, nếu không có sự can thiệp màu nhiệm của bề trên. Và tôi đoán rằng trong suốt thời gian tôi ở Rome, cảnh sát sẽ bám riết lấy tôi từ nơi này sang nơi khác bởi vì họ nghĩ tôi là một nhân vật nguy hiểm.

Trời nóng khủng khiếp ở Civita Vecchia. Các con đường được làm rất hẹp và những ngôi nhà được xây rất kiên cố, nặng nề và cao tầng, như một biện pháp bảo vệ chống lại cái nóng. Đây là thị trấn Ý đầu tiên tôi thấy không có vẻ gì là có một vị thánh bổn mạng. Tôi đoán chẳng có vị thánh nào ngoài vị đã bay đi trên cỗ xe lửa có thể chịu nổi khí hậu này.

Chẳng có gì để xem ở đây cả. Họ thậm chí không có một nhà thờ lớn nào, với mười một tấn tổng lãnh thiên thần bằng bạc ròng ở căn phòng phía sau; và họ không cho bạn xem bất kỳ tòa nhà mốc meo nào có niên đại bảy nghìn năm; cũng chẳng có bức bình phong hun khói nào là kiệt tác của Rubens hay Simpson, hay Titian hoặc Ferguson, hay bất kỳ nhân vật nào trong số đó; và họ chẳng có mảnh xương thánh nào được đóng chai, thậm chí cả một chiếc đinh từ cây thánh giá đích thực cũng không có nốt. Chúng ta sắp đi Rome rồi. Ở đây chẳng có gì để xem cả.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.