Tôi sẽ còn nhớ mãi chuyến đi đến Vesuvius trong nhiều ngày trời—một phần vì những trải nghiệm ngoạn mục nơi đó, nhưng chủ yếu là vì sự mệt mỏi rã rời của cuộc hành trình. Hai hoặc ba người chúng tôi đã thả lỏng mình giữa chốn phong cảnh thanh bình và xinh đẹp của hòn đảo Ischia, nằm cách đó mười tám dặm ngoài vũng biển, trong suốt hai ngày; chúng tôi gọi đó là “nghỉ ngơi,” nhưng giờ đây tôi chẳng thể nhớ nổi việc nghỉ ngơi ấy gồm những gì, bởi khi quay lại Naples thì chúng tôi đã thức trắng suốt bốn mươi tám giờ liền. Chúng tôi vừa định đi ngủ sớm vào đầu buổi tối để bù lại giấc ngủ đã mất, thì lại nghe về cuộc thám hiểm Vesuvius này. Đoàn chúng tôi có tất cả tám người, và sẽ khởi hành từ Naples vào lúc nửa đêm. Chúng tôi chuẩn bị sẵn một ít lương thực cho chuyến đi, thuê xe ngựa đưa đến Annunciation, rồi lang thang quanh thành phố để giữ cho tỉnh táo cho đến mười hai giờ. Chúng tôi xuất phát đúng giờ, và chừng một tiếng rưỡi sau thì đến thị trấn Annunciation.
Annunciation quả là nơi cùng đinh góc biển tồi tệ nhất trên đời này. Ở những thị trấn khác của Ý, người ta cứ lững thững ngồi la cà và đợi bạn ngỏ lời hỏi han hay làm một hành động sơ hở nào đó có thể tính tiền—nhưng ở Annunciation, họ thậm chí đã đánh mất cả cái chút liêm sỉ mỏng manh ấy; họ giật phắt chiếc khăn choàng trên ghế của một quý bà rồi đưa cho bà ta và đòi một xu; họ mở cửa xe ngựa và tính tiền—đóng lại khi bạn bước xuống và cũng tính tiền; họ giúp bạn cởi tấm áo chống bụi—hai xu; phủi quần áo cho bạn rồi làm cho chúng bẩn thỉu hơn trước—hai xu; mỉm cười với bạn—hai xu; cúi chào với cái điệu bộ nịnh hót bợ đỡ, tay cầm mũ—hai xu; họ nhiệt tình cung cấp mọi thông tin, chẳng hạn như mấy con la sẽ đến ngay thôi—hai xu—ngày hôm nay trời ấm đấy, thưa ngài—hai xu—mất bốn tiếng để leo lên đến đỉnh—hai xu. Cứ thế, họ bám theo bạn. Họ bu quanh bạn—đeo bám bạn—vây lấy bạn, mồ hôi nhễ nhại hôi hám, mang vẻ mặt lén lút, đểu cá và khép nép. Chẳng có việc gì là quá nhục nhã mà họ không chịu làm vì tiền. Tôi chưa có cơ hội tìm hiểu về tầng lớp thượng lưu qua quan sát của chính mình, nhưng dựa vào những gì nghe bàn tán về họ, tôi đoán rằng những thói hư tật xấu nào mà bọn hạ lưu không có, thì họ lại bù đắp đủ bằng những thói khác còn tồi tệ hơn nhiều. Người ta ăn xin khéo làm sao!—mà nhiều kẻ trông còn rất diện mạo, lịch sự nữa chứ.
Tôi vừa nói rằng mình chẳng biết gì về tầng lớp thượng lưu qua quan sát cá nhân. Tôi phải rút lại lời đó! Tôi đã quên mất. Những gì tôi chứng kiến cảnh những kẻ dũng cảm nhất và cao quý nhất của họ làm vào tối qua, thì thiết nghĩ đám đông bần cùng nhất vớt vớt từ xó xỉnh nào của thế giới Thiên Chúa giáo cũng phải đỏ mặt khi làm. Họ tụ tập hàng trăm, thậm chí hàng nghìn người tại Nhà hát lớn San Carlo, để làm gì? Chà, đơn giản là để nhạo báng một phụ nữ lớn tuổi—để chế giễu, huýt sáo, la ó một nữ diễn viên mà họ từng tôn sô, nhưng nay nhan sắc đã phai tàn và giọng hát thì không còn được sự phong phú như xưa nữa. Ai nấy đều bàn tán về một trò tiêu khiển hiếm có sắp diễn ra. Họ nói nhà hát sẽ chật ních người, bởi vì Frezzolini sắp biểu diễn. Người ta bảo bây giờ bà ấy hát không còn hay nữa, nhưng dẫu sao thì công thế vẫn thích ngắm nhìn bà ấy. Thế là chúng tôi cũng đi. Và mỗi lần người phụ nữ ấy cất giọng là họ lại huýt sáo và cười cợt—cả cái nhà hát nguy nga đó—và ngay khi bà vừa rời khỏi sân khấu, họ lại vỗ tay gọi bà quay ra. Có một hay hai lần bà được gọi tái diễn năm sáu lần liên tiếp, rồi lại bị đón chào bằng những tiếng huýt sáo khi xuất hiện, và bị tống cổ bằng tiếng huýt sáo cùng những tiếng cười khi hát xong—để rồi ngay lập tức lại được gọi tái diễn và lăng mạ thêm lần nữa! Và đám quý tộc đồi bại kia mới thích thú làm sao! Những quý ông quý bà đeo găng tay trắng cười đến chảy cả nước mắt, vỗ tay phấn khích tột độ khi người phụ nữ lớn tuổi bất hạnh ấy hiền lành bước ra lần thứ sáu, với sự kiên nhẫn không một lời oán trách, để đối mặt với một cơn mưa tiếng huýt sáo la ó! Đó là một màn trình diễn tàn nhẫn nhất—đáng khinh nhất, vô cảm nhất. Nữ ca sĩ ấy lẽ ra đã chinh phục được cả một khán giả toàn những kẻ du côn Mỹ bằng sự bình thản kiên cường, không chút nao núng của bà (bởi bà cứ đáp lại từng lời yêu cầu hát thêm, mỉm cười cúi chào niềm nở, hát hay nhất có thể, rồi vừa cúi chào vừa lùi vào sau cánh gà giữa muôn vàn lời chế giễu và huýt sáo mà không hề đánh mất vẻ điềm tĩnh hay tức giận:) và chắc chắn ở bất kỳ vùng đất nào khác ngoài nước Ý, giới tính và sự cô thế của bà đã là một lớp bảo vệ vững chắc cho bà—bà chẳng cần đến sự bảo vệ nào khác. Thử nghĩ xem biết bao tâm hồn nhỏ mọi chật ních trong nhà hát tối qua. Giá như người quản lý có thể lấp đầy nhà hát của mình chỉ bằng những tâm hồn người Naples mà không cần thể xác, thì ông ta chắc chắn kiếm được không dưới chín mươi triệu đô la. Một kẻ phải sở hữu những phẩm chất tính cách nào mới có thể giúp ba nghìn tên vô loại huýt sáo, chế giễu, cười cợt một người phụ nữ lớn tuổi không nơi nương tựa, rồi hạ nhục bà một cách đáng hổ thẹn như vậy? Hắn ta chắc chắn phải mang trong mình tất cả những tính cách đê tiện và bỉ ổi nhất trên đời. Qua quan sát của mình, tôi cho rằng (tôi không thích vượt quá những gì bản thân tận mắt chứng kiến) tầng lớp thượng lưu Naples đích thực sở hữu những nét tính cách ấy. Còn ngoài ra, có thể họ vẫn là những con người rất tốt; điều đó thì tôi không dám chắc.