Gondola Venice lướt đi nhẹ nhàng và uyển chuyển chẳng khác nào một con rắn. Thuyền dài chừng hai mươi đến ba mươi thước, vừa sâu vừa hẹp tựa như xuồng độc mộc; phần mũi và đuôi nhọn vút lên khỏi mặt nước giống như sừng của một vầng trăng lưỡi liềm, chỉ hơi uốn cong mềm mại hơn một chút.
Mũi thuyền được trang trí bằng một chiếc lược thép tích hợp rìu chiến, thỉnh thoảng trông như trực chẻ đôi những chiếc thuyền qua lại, nhưng chưa bao giờ làm thế thật. Thuyền gondola được sơn màu đen bởi vì vào thời kỳ hoàng kim rực rỡ nhất của Venice, những chiếc thuyền này bỗng trở nên quá đỗi lộng lẫy, khiến Viện Nguyên lão phải ban sắc lệnh chấm dứt mọi sự phô trương ấy và bắt buộc thay bằng một sắc đen trang nghiêm, giản dị. Nếu sự thật được phơi bày, chắc hẳn nguyên do là vì những kẻ bình dân giàu có đã tỏ ra quá trịch thượng khi bắt chước lối sống xa hoa quý tộc trên Đại Kênh, và cần phải được giáng cho một đòn chí mạng để hạ bớt cái tôi. Sự sùng kính đối với Quá khứ thiêng liêng cùng các truyền thống của nó đã duy trì thứ mốt ảm đạm này cho đến tận bây giờ, dẫu lệnh ép buộc thuở trước không còn nữa. Thôi cứ để nó thế đi. Đó là màu của tang tóc. Venice đang để tang. Phần đuôi thuyền có sàn che và người chèo thuyền đứng ở đó. Anh ta chỉ dùng một mái chèo duy nhất — tất nhiên là một bản chèo dài, bởi anh ta đứng gần như thẳng người. Một chốt gỗ cao tầm một thước rưỡi, khoét hai đường cong nhỏ ở một bên và một đường ở bên kia, nhô lên phía trên mạn phải.

Dựa vào chiếc chốt ấy, người chèo thuyền tỳ mái chèo để lấy lực, thỉnh thoảng lại đổi sang phía bên kia của chốt hoặc thả vào một khe khác tùy theo yêu cầu điều khiển thuyền — và làm thế quái nào mà anh ta có thể lùi rồi tiến, vọt thẳng phía trước, hay đột ngột lượn ngoặt qua góc phố mà vẫn giữ được mái chèo nằm yên trong những khe cắm nhỏ bé ấy, đối với tôi thực sự là một bài toán hóc búa và là mối quan tâm chưa bao giờ nguội lạnh. Tôi e rằng mình mải mê nghiên cứu kỹ năng tuyệt diệu của người chèo thuyền còn nhiều hơn là ngắm nhìn những cung điện chạm trổ mà chúng tôi đang lướt qua. Thỉnh thoảng anh ta lượn sát góc cua đến mức thót tim, hoặc vượt qua một chiếc thuyền gondola khác với khoảng cách mong manh không tài nào nhận thấy, khiến tôi phải “rụt cổ lại” theo cách nói của lũ trẻ, y như cảm giác khi bánh xe ngựa sượt qua khuỷu tay vậy. Thế nhưng anh ta tính toán mọi đường đi nước bước một cách chuẩn xác đến từng ly, cứ thế lách ra lách vào giữa dòng phương tiện tấp nập hỗn độn như trên đại lộ Broadway với vẻ tự nhiên và điềm tĩnh của một người đánh xe ngựa kỳ cựu. Anh ta chẳng bao giờ sai sót.
Có lúc chúng tôi lao vút dọc các con kênh lớn với tốc độ nhanh đến mức chỉ kịp thu vào tầm mắt thoáng qua vài khung cửa ra vào; nhưng rồi, ở những con hẻm khuất nẻo vùng ngoại ô, chúng tôi lại mang một vẻ uy nghiêm tương xứng với sự tĩnh lặng, rêu phong, làn nước tù đọng, đám cỏ dại bám víu, những ngôi nhà hoang phế và bầu không khí vô hồn nói chung nơi đây, để rồi thả hồn vào những suy tư trầm mặc.
Người chèo thuyền là một tên du côn trông rất đỗi nghệ thuật dẫu chẳng khoác bộ áo nhung lụa, chẳng đội mũ cắm lông chim, cũng chẳng mặc quần bó bằng tơ. Dáng đứng của anh ta vô cùng đường bệ; người dẻo dai, uyển chuyển; mọi cử động đều toát lên vẻ duyên dáng. Khi thân thuyền thon dài cùng dáng người thanh tú vươn cao từ vị trí trên đuôi thuyền hiện lên sắc nét trước bầu trời chập choạng tối, chúng tạo thành một khung cảnh vô cùng mới mẻ và ấn tượng trong mắt người ngoại quốc.
Chúng tôi ngồi trong khoang thuyền có đệm lót êm ái, khép hờ rèm cửa, vừa hút thuốc, đọc sách, vừa ngắm nhìn những chiếc thuyền qua lại, nhà cửa, cầu cống, người qua kẻ lại, và tận hưởng niềm vui trọn vẹn hơn nhiều so với việc ngồi trên chiếc xe ngựa xóc nảy trên những con đường lát đá cuội ở quê nhà. Đây là phương thức di chuyển nhẹ nhàng và dễ chịu nhất mà chúng tôi từng biết đến.
Nhưng thật kỳ lạ — kỳ lạ làm sao — khi thấy một chiếc thuyền lại được dùng làm phương tiện đi lại cá nhân thay cho xe ngựa. Chúng tôi chứng kiến những thương gia bước ra cửa trước, trèo lên gondola thay vì xe điện, rồi xuôi dòng về trung tâm đến các phòng giao dịch.

Chúng tôi nhìn thấy mấy tiểu thư đến thăm nhà nhau đứng trên bậc thềm, cười nói, hôn tạm biệt, vẫy quạt và thốt lên: “Mau sang chơi nhé — nhớ đấy — cậu tệ hại hết chỗ nói rồi đấy — mẹ tớ mong gặp cậu lắm đấy — và nhà tớ vừa chuyển đến chỗ ở mới, ôi yêu lắm cơ! — lại gần bưu điện, nhà thờ với Hội Nam Thanh niên Cơ Đốc nữa chứ; ở sân sau nhà tớ tha hồ câu cá, tha hồ nô đùa, tha hồ bơi lội — ôi, cậu nhất định phải đến đấy — gần xịt hà, nếu cậu đi ngang qua quảng trường St. Mark và Cầu Than Thở, rồi rẽ tắt qua con hẻm lên nhà thờ Santa Maria dei Frari, ra đến Đại Kênh thì chẳng có tí dòng chảy nào đâu — nhớ sang đấy nhé, Sally Maria — chào nha!” rồi cô nàng tiểu xảo ấy líu lo bước xuống bậc thềm, nhảy lên thuyền gondola, lẩm bẩm trong miệng: “Đồ ôn dịch khó chịu, mong là nó đừng có sang!”, rồi vút đi mất hút sau góc phố; trong khi cô gái kia đập sầm cửa chính lại và lẩm bẩm: “Ừ thì cũng trút xong cái cục nợ này — nhưng chắc thế nào mình cũng phải sang thăm nó — cái con dở hơi kiêu kỳ chảnh chọe!” Bản chất con người ở đâu trên thế giới này xem ra cũng y hệt như nhau. Chúng tôi thấy một chàng trai rụt rè, ria mép lơ thơ, tóc tai rậm rạp, trí tuệ trống rỗng, ăn mặc bảnh bao, đánh xe đến trước dinh thự của cha người đẹp, dặn người đánh xe trút nước rồi đợi đó, run rẩy bước lên bậc thềm để rồi chạm trán ngay “ông cụ thân sinh” ngay trước ngưỡng cửa! — nghe anh ta hỏi thăm xem ngân hàng Anh quốc mới mở nằm ở con phố nào — cứ làm như đó là mục đích anh ta đến đây vậy — rồi cuống cuồng tót lên thuyền, chuồn thẳng với trái tim nhát gan rơi tuốt xuống tận gót chân! — để rồi chỉ lát sau lại thấy hắn lảng vảng quay lại sau góc rèm hé mở hướng về phía chiếc thuyền gondola của ông già đang khuất dần, và thế là nàng Susan nhà ta tung tăng chạy ra với vô vàn những lời trìu mến kiểu Ý vương vấn trên môi, cùng hắn dạo chơi trên những đại lộ ngập nước hướng về phía cầu Rialto.
Chúng tôi thấy các quý bà đi mua sắm một cách rất đỗi tự nhiên, lang thang từ phố này sang phố khác, từ cửa hàng này sang cửa hàng nọ đúng theo cái mốt xưa nay, chỉ khác là họ để chiếc gondola thay vì xe ngựa riêng đợi sẵn ở lề đường suốt mấy tiếng đồng hồ — đợi trong lúc họ bắt những cậu nhân viên trẻ tuổi dễ thương lôi xuống hết lớp lụa này đến đống nhung nọ, vải moire cổ cùng đủ thứ trên đời; để rồi cuối cùng chỉ mua có mỗi gói kim băng rồi lại chèo thuyền đi ban phát phần lòng hảo tâm thảm hại còn lại cho một hãng khác. Và họ luôn cho người mang chiến lợi phẩm về nhà đúng theo cung cách muôn thuở ấy. Bản chất con người ở đâu cũng vậy thôi; và việc thấy một phu nhân Venice bước vào cửa hàng mua dăm xu ruy băng xanh rồi thuê cả một chiếc ghe chở về nhà quả là giống hệt như chốn quê hương thân thương của tôi. À chính những nét chấm phá rất đỗi con người ấy mới là thứ khiến người ta rơi lệ ở những vùng đất khách quê người xa xôi này.
Chúng tôi thấy những đứa trẻ trai gái theo người nhũ mẫu đi thuyền gondola hóng mát. Chúng tôi thấy những gia đình nền nã, tay cầm sách cầu nguyện và tràng hạt, diện những bộ quần áo đẹp nhất ngày Chủ nhật bước lên thuyền rồi thong thả trôi đi nhà thờ. Và vào lúc nửa đêm, chúng tôi thấy rạp hát tan hàng, tuôn ra từng đàn trai thanh gái lịch đang huyên náo cười đùa; chúng tôi nghe tiếng gọi giục của những phu thuyền gondola, chứng kiến đám đông chen chúc nhảy lên thuyền, và cả một biển thuyền đen kịt lao đi vun vút dọc những đại lộ ngập ánh trăng; chúng tôi nhìn thấy chúng tản ra tứ phía rồi khuất dạng vào các ngả đường rẽ nhánh; chúng tôi nghe văng vẳng những tiếng cười đua cùng lời chào tạm biệt vọng lại từ nơi xa xa; và rồi, khi khung cảnh kỳ lạ ấy đã qua đi, trước mắt chúng tôi chỉ còn lại những dải nước lấp lánh cô tịch — những tòa nhà đường bệ — những bóng đen nhòe nhoạt — những khuôn mặt bằng đá kỳ dị nhô lên dưới ánh trăng — những cây cầu hoang phế — cùng những chiếc thuyền neo đậu bất động. Và trùm lên tất cả là thứ tĩnh lặng huyền bí, thứ yên bình lén lút ấy, vô cùng hòa hợp với thành phố Venice mộng mơ cổ kính này.
Chúng tôi đã đi hầu như khắp mọi nơi bằng chiếc gondola của mình. Chúng tôi đã mua hạt cườm và ảnh chụp ở các cửa hàng, cùng diêm sáp tại Quảng trường lớn St. Mark. Nhận xét cuối cùng này gợi ra một chuyện ngoài lề. Mọi người đều đổ về quảng trường rộng lớn này vào buổi tối. Các ban nhạc quân đội biểu diễn ở chính giữa, vô số cặp đôi quý ông quý bà dạo bước qua lại ở hai bên, từng nhóm người liên tục tản về hướng Nhà thờ lớn cổ kính, đi ngang qua cây trụ uy nghi mang biểu tượng Sư tử có cánh của St. Mark trên đỉnh, rồi ra tận nơi neo đậu tàu thuyền; trong khi những nhóm khác cũng liên tục từ thuyền gondola bước lên để hòa vào đám đông tấp nập ấy. Giữa những người đi dạo và vỉa hè là hàng trăm con người đang ngồi quanh những chiếc bàn nhỏ, vừa hút thuốc vừa thưởng thức món granita (họ hàng gần của kem); trên vỉa hè cũng có thêm nhiều người khác đang tận hưởng theo cách tương tự. Các cửa hàng ở tầng trệt của những dãy nhà cao tầng bao bọc ba mặt quảng trường được thắp sáng rực rỡ, bầu không khí tràn ngập âm thanh ca nhạc cùng những giọng cười vui vẻ, và nhìn chung khung cảnh rực rỡ, sôi nổi, tràn đầy sức sống chẳng kém gì bất kỳ nơi nào mà một người có thể ao ước. Chúng tôi tận hưởng nó một cách trọn vẹn. Rất nhiều thiếu nữ ở đây vô cùng xinh đẹp và có gu ăn mặc tinh tế hiếm có. Chúng tôi đang dần dần và chật vật học lấy cái thói bất lịch sự là trừng trừng nhìn thẳng vào mặt họ — không phải vì kiểu hành xử đó khiến chúng tôi thấy thoải mái, mà bởi vì đó là phong tục ở đây và người ta bảo các cô gái thích thế. Chúng tôi muốn học hỏi mọi thói quen kỳ lạ, quái dị của tất cả các quốc gia khác nhau để có thể “lòe thiên hạ” và khiến mọi người kinh ngạc khi trở về nhà. Chúng tôi muốn khơi gợi sự ghen tị của những người bạn chưa từng đi đây đi đó bằng những phong cách ngoại quốc kỳ quái mà chúng tôi chẳng tài nào rũ bỏ được. Tất cả các hành khách của chúng tôi đều đang chăm chú theo dõi điều này, với mục đích cuối cùng mà tôi vừa đề cập. Bạn đọc hiền trí sẽ không bao giờ, không bao giờ biết được mình có thể trở thành một tên ngốc tuyệt đỉnh đến nhường nào cho đến khi đặt chân ra nước ngoài. Tất nhiên, tôi đang nói đến giả định rằng bạn đọc hiền trí chưa từng ra nước ngoài, và do đó chưa phải là một tên ngốc tuyệt đỉnh từ trước. Nếu sự tình không phải vậy, tôi xin lỗi và xin dang rộng đôi tay hữu nghị gọi người ấy là bằng hữu. Tôi sẽ luôn vô cùng vui mừng khi gặp được một kẻ ngốc tâm đầu ý hợp như thế sau khi cuộc hành trình của tôi kết thúc.
Về chủ đề này, tôi xin lưu ý thêm rằng có những người Mỹ ở Ý thực sự đã quên béng tiếng mẹ đẻ của mình chỉ sau ba tháng — quên ngay tại Pháp. Họ thậm chí không thể viết nổi địa chỉ của mình bằng tiếng Anh trong sổ đăng ký khách sạn. Tôi xin đính kèm những bằng chứng này, được tôi sao chép nguyên văn từ sổ đăng ký của một khách sạn tại một thành phố Ý nào đó:
“John P. Whitcomb, Etats Unis.
“Wm. L. Ainsworth, travailleur (tôi đoán hắn định viết là traveler), Etats Unis.
“George P. Morton et fils, d’Amerique.
“Lloyd B. Williams, et trois amis, ville de Boston, Amerique.
“J. Ellsworth Baker, tout de suite de France, place de naissance Amerique, destination la Grand Bretagne.”
Tôi rất thích kiểu người này. Một nữ hành khách đi cùng tàu với chúng tôi kể về một người đồng hương nọ đã dành trám tám tuần ở Paris để rồi khi trở về nước liền gọi người bạn tri kỷ thân thiết nhất của mình là Herbert bằng cái tên “Mr. Er-bare!”. Tuy nhiên, hắn cũng cất lời xin lỗi và giãi bày: “Thề có Chúa, chuyện này bực mình thật đấy, nhưng tôi chịu — quen miệng chỉ nói toàn tiếng Pháp rồi, Erbare thân mến của tôi — quỷ tha ma bắt, lại thốt ra thế rồi! — quen đến mức nhiễm cái giọng phát âm tiếng Pháp mất rồi, không tài nào sửa được — quả thực rất phiền phức, tôi đảm bảo với anh đấy.” Tên ngốc thú vị này, tên là Gordon, đã để người ta gọi với theo tới ba lần trên đường phố mà chẳng thèm đếm xỉa gì đến, để rồi sau đó mới rối rít xin lỗi ngàn lần và phân bua rằng mình đã quá quen với việc được gọi là “M’sieu Gor-r-dong”, với cái giọng uốn lưỡi chữ r, đến mức quên bén mất âm điệu chính thống của tên mình rồi! Hắn cài một bông hồng trên khuyết áo; hắn chào theo kiểu Pháp — khua tay hai cái trước mặt; hắn gọi Paris là Pairree trong những cuộc trò chuyện bằng tiếng Anh thông thường; hắn mang theo những phong bì có dấu bưu điện nước ngoài nhô ra khỏi túi ngực; hắn nuôi ria mép và chòm râu dưới cằm, đồng thời làm mọi cách khác để gợi cho người ngắm liên tưởng đến sở thích quái đản của hắn là trông giống như Louis Napoleon — và với một tâm trạng biết ơn hoàn toàn khó hiểu, xét đến cái nền tảng cỏn con mà hắn có, hắn cảm tạ Đấng Tối Cao vì bản thân được sinh ra như thế, rồi cứ thế tiếp tục tận hưởng cuộc đời nhỏ bé của mình y như thể hắn thực sự được chính Kiến trúc sư vĩ đại của Vũ trụ tỉ mỉ thiết kế và tạo dựng nên vậy.

Hãy thử nghĩ mà xem, những con người như Whitcomb, Ainsworth và Williams của chúng ta lại tự điền tên mình bằng thứ tiếng Pháp ngọng nghịu vào sổ đăng ký của các khách sạn nước ngoài! Chúng ta thường cười chê người Anh khi ở quê nhà vì họ cứ khăng khăng giữ gìn những lề thói và phong tục quốc gia của mình, nhưng khi nhìn lại từ xứ người, chúng ta lại cảm thấy vô cùng khoan dung. Nhìn thấy một người Mỹ cứ cố tình trơ trẽn phô bày bản sắc quốc gia của mình trên đất khách quả thực chẳng dễ chịu gì, nhưng ôi chao, thật đáng thương hại biết bao khi thấy anh ta tự biến mình thành một sinh vật chẳng ra nam chẳng ra nữ, chẳng phải cá, chẳng phải thịt, cũng chẳng phải gia cầm — một kẻ lai căng Pháp vừa nghèo hèn vừa thảm hại!
Trong danh sách dài dằng dặc những nhà thờ, phòng tranh và đủ thứ tương tự mà chúng tôi đã ghé thăm ở Venice, tôi sẽ chỉ nhắc đến một nơi duy nhất — nhà thờ Santa Maria dei Frari. Nó có tuổi đời khoảng năm trăm năm, tôi tin là vậy, và được dựng trên một triệu hai trăm nghìn chiếc cọc. Nơi đây lưu giữ thi hài của Canova và trái tim của Titian bên dưới những lăng mộ vô cùng lộng lẫy. Titian qua đời khi đã gần một trăm tuổi. Một trận dịch hạch cướp đi sinh mạng của năm mươi nghìn người đang hoành hành vào thời điểm đó, và có một minh chứng rõ ràng cho lòng tôn kính dành cho vị danh họa vĩ đại, đó là chỉ duy nhất mình ông được nhà nước cho phép tổ chức quốc tang trong suốt quãng thời gian đầy kinh hoàng và chết chóc ấy.
Trong nhà thờ này cũng có lăng mộ của tổng trấn Foscari, người mà tên tuổi từng được một cựu cư dân Venice, Lord Byron, làm cho nổi tiếng mãi mãi.
Lăng mộ của tổng trấn Giovanni Pesaro trong nhà thờ này là một kỳ quan xét về mặt trang trí tang lễ. Nó cao tới tám mươi thước và có mặt tiền trông giống như một ngôi đền ngoại giáo kỳ quái nào đó. Tựa vào đó là bốn bức tượng người Nubia khổng lồ, đen như mực, nhưng lại được khoác lên mình những bộ xiêm y bằng cẩm thạch trắng. Đôi chân đen sì để trần, và qua những vết rách trên tay áo cùng quần, lớp da bằng cẩm thạch đen bóng lộ ra ngoài. Người nghệ sĩ khéo léo bao nhiêu thì các thiết kế tang lễ của ông ta lại quái đản bấy nhiêu. Có hai bộ xương bằng đồng đang cầm cuộn da thảo, và hai con rồng lớn đỡ lấy chiếc quan tài. Tôn nghiêm trên cao, giữa muôn vàn nét kỳ quái ấy, là vị tổng trấn đã khuất.

Nằm trong các dãy nhà tu viện gắn liền với nhà thờ này là kho lưu trữ nhà nước của Venice. Chúng tôi đã không ghé xem, nhưng người ta bảo rằng chúng gồm tới hàng triệu tài liệu. “Đó là hồ sơ của nhiều thế kỷ dưới một chính quyền cảnh giác, quan sát và đa nghi nhất từng tồn tại — nơi mọi thứ đều được viết ra giấy chứ chẳng nói thành lời.” Chúng chiếm tới gần ba trăm căn phòng. Trong số đó có các bản thảo từ kho lưu trữ của gần hai nghìn gia đình, tu viện và nhà dòng. Lịch sử bí mật của Venice suốt một ngàn năm đều nằm ở đây — những âm mưu, những phiên tòa khuất tất, những vụ ám sát, những sắc lệnh thuê mướn gián điệp và sát thủ đeo mặt nạ — những tư liệu sẵn có cho một thế giới tiểu thuyết đen tối và huyền bí.
Vâng, tôi nghĩ chúng tôi đã tham quan hết Venice rồi. Chúng tôi đã được chiêm ngưỡng trong những ngôi nhà thờ cổ kính này một sự phong phú đến ngộp thở của các kiểu trang trí lăng mộ tinh vi, tốn kém mà trước đây chúng tôi chưa từng dám mơ tới. Chúng tôi đã đứng trong thứ ánh sáng mờ ảo mang màu sắc tôn giáo của những chốn thánh địa thâm nghiêm này, giữa những hàng dài các đền đài bụi bặm và tượng đài của những bậc vĩ nhân đã khuất ở Venice, cho đến khi chìm đắm trong cảm giác trôi dạt lùi mãi, lùi mãi, lùi mãi vào quá khứ trang nghiêm, để rồi ngắm nhìn khung cảnh và hòa mình vào con người của một thời đại xa xôi nào đó. Suốt thời gian qua, chúng tôi cứ như đang chìm trong một giấc mơ mơ màng màng. Tôi chẳng biết phải diễn tả cảm giác ấy thế nào cho đúng nữa. Một phần trong con người chúng tôi vẫn ở lại thế kỷ XIX, trong khi một phần khác lại có vẻ như đang vô tình bước đi giữa những bóng ma của thế kỷ thứ X.
Chúng tôi đã ngắm nhìn biết bao bức tranh nổi tiếng đến mức đôi mắt mỏi nhừ và từ chối tìm kiếm thêm bất kỳ sự hứng thú nào nữa. Và có gì lạ đâu, khi ở Venice có tới mười hai trăm bức tranh của Palma the Younger và mười lăm trăm bức của Tintoretto? Chưa kể các tác phẩm của Titian và các nghệ sĩ khác cũng nhiều tương ứng. Chúng tôi đã tận mắt thấy bức Cain và Abel nổi tiếng của Titian, bức David và Goliah, cùng bức Hy sinh của Abraham. Chúng tôi đã xem bức tranh quái vật của Tintoretto, dài tới bảy mươi tư thước và tôi cũng chẳng nhớ cao bao nhiêu thước, để rồi kết luận rằng đó là một bức tranh vô cùng rộng rãi. Chúng tôi đã ngắm đủ các bức họa về các vị thánh tử đạo và thánh nhân để có thể tái sinh cả thế giới này rồi. Lẽ ra tôi không nên thú nhận điều này, nhưng dẫu sao, vì ở Mỹ chẳng có cơ hội nào để trau dồi khả năng thẩm định nghệ thuật, và tôi cũng chẳng thể hy vọng tự nâng cao học thức về lĩnh vực này ở châu Âu chỉ trong vài tuần ngắn ngủi, thế nên tốt hơn hết là tôi cứ thành thật nhận thức khuyết điểm ấy kèm theo những lời xin lỗi cần thiết, rằng đối với tôi, hễ ngắm qua một vị thánh tử đạo là coi như đã xem hết thảy. Vẻ ngoài của họ đều có nét gia đình rất rõ rệt, họ mặc chung một kiểu trang phục, khoác áo dòng thô sơ và đi dép sandal, ai nấy đều hói đầu, đứng cùng một tư thế, và không ngoại lệ, tất cả đều đang ngước mắt nhìn lên thiên đàng với những nét mặt mà nhóm Ainsworth, Morton, Williams et fils bảo rằng tràn ngập “sự biểu cảm”. Đối với tôi, chẳng có điểm gì thực tế ở những bức chân dung tưởng tượng này, chẳng có gì để tôi có thể nắm bắt và thực sự nuôi dưỡng sự quan tâm cả. Giá như đại danh họa Titian được ban cho khả năng tiên tri, chịu bỏ qua một vị thánh tử đạo để sang Anh quốc vẽ một bức chân dung Shakespeare — dù chỉ là thuở thiếu thời — để tất cả chúng ta có thể tin tưởng vào đó lúc này, thì nhân loại cho đến các thế hệ mai sau hẳn đã sẵn sàng tha thứ cho ông vì đánh mất một vị thánh tử đạo để đổi lấy một nhà tiên tri được cứu rỗi. Tôi nghĩ hậu thế có thể hy tiếc nuối thêm một vị thánh tử đạo nữa để đánh đổi lấy một bức tranh lịch sử vĩ đại thuộc thời đại của Titian và do chính bút vẽ của ông thực hiện — chẳng hạn như bức Columbus trở về trong xiềng xích sau khi phát hiện ra một thế giới mới. Các bậc thầy đời trước thực sự đã vẽ một số bức tranh lịch sử Venice, và chúng tôi chẳng hề thấy chán khi ngắm nhìn chúng, dẫu cho việc miêu tả cảnh các vị tổng trấn đã khuất được giới thiệu một cách trang trọng với Đức Mẹ Maria ở những chốn bồng lai tiên cảnh có phần va chạm hơi gay gắt với các phép tắc xã giao theo suy nghĩ của chúng tôi.
Thế nhưng dẫu có khiêm nhường và chẳng màng danh tiếng trong chuyện nghệ thuật đi chăng nữa, những cuộc khảo cứu của chúng tôi giữa đám tu sĩ và thánh tử đạo được vẽ trên tranh cũng không phải hoàn toàn vô ích. Chúng tôi đã nỗ lực hết sức để học hỏi. Và chúng tôi cũng đạt được chút thành công. Chúng tôi đã nắm vững một vài thứ, có lẽ chẳng có mấy trọng lượng trong mắt các bậc uyên thúng, nhưng lại mang đến cho chúng tôi niềm vui, và chúng tôi cũng tự hào về những kiến thức nhỏ bé của mình chẳng kém gì những ai uy bác hơn, lại cũng thích khoe khoang chúng chẳng kém ai. Khi thấy một vị tu sĩ đi quanh cùng một con sư tử và thanh thản ngước nhìn lên thiên đàng, chúng tôi biết ngay đó là St. Mark. Khi thấy một vị tu sĩ cầm sách và bút, thanh thản ngước nhìn lên thiên đàng đang cố nghĩ từ để viết, chúng tôi biết đó là St. Matthew. Khi thấy một vị tu sĩ ngồi trên tảng đá, thanh thản ngước nhìn lên thiên đàng với một chiếc đầu lâu người ở bên cạnh và chẳng mang theo hành lý gì khác, chúng tôi biết ngay đó là St. Jerome. Bởi chúng tôi biết ông ấy luôn đi du lịch "nhẹ gánh" trong khoản hành trang. Khi thấy một nhân vật thanh thản ngước nhìn lên thiên đàng, hoàn toàn phớt lờ việc cơ thể mình đang chi chít những mũi tên xuyên thủng, chúng tôi biết đó là St. Sebastian. Khi thấy những vị tu sĩ khác cũng thanh thản ngước nhìn lên thiên đàng nhưng lại chẳng có đặc điểm nhận diện nào, chúng tôi liền hỏi xem họ là ai. Chúng tôi làm thế vì có lòng ham học hỏi khiêm nhường. Chúng tôi đã ngắm mười ba nghìn bức vẽ St. Jerome, hai mươi hai nghìn bức St. Mark, mười sáu nghìn bức St. Matthew, sáu mươi nghìn bức St. Sebastian, cùng bốn triệu vị tu sĩ đủ loại không rõ danh tính, và điều đó khiến chúng tôi thêm phần phấn khởi để tin rằng, khi đã ngắm thêm một số bức tranh khác và có bề dày kinh nghiệm hơn, chúng tôi sẽ bắt đầu nuôi dưỡng được niềm đam mê sâu sắc với chúng giống như những người đồng hương văn minh đến từ Amerique vậy.


Giờ thì việc phải nói những lời thiếu trân trọng như thế này về các bậc thầy đời trước và các vị thánh tử đạo của họ thực sự khiến tôi cảm thấy đau lòng, bởi vì những người bạn tốt của tôi trên tàu — những người thực sự và tận tâm trân quý họ, đồng thời đủ mọi tư cách để phân biệt giữa tranh đẹp và tranh tồi — đã khuyên can tôi vì chính bản thân mình mà đừng phơi bày thực tế rằng tôi thiếu đi sự trân trọng và khả năng thẩm định ấy. Tôi tin rằng những gì mình đã viết và có thể sẽ tiếp tục viết về tranh ảnh sẽ làm tổn thương họ, và tôi thực sự lấy làm tiếc vì điều đó. Tôi thậm chí từng hứa sẽ giấu kín những cảm xúc thô thiển ấy trong lòng. Nhưng hỡi ôi! Tôi chưa bao giờ giữ được lời hứa nào cả. Tôi không tự trách mình vì điểm yếu này, bởi lỗi lầm hẳn nằm ở cấu trúc sinh học của tôi. Có lẽ khoảng trống dành cho cơ quan giúp tôi đưa ra lời hứa đã chiếm quá nhiều dung lượng, khiến cho cơ quan có trách nhiệm giúp tôi thực hiện lời hứa ấy bị chèn ép đến mức chẳng còn chỗ. Nhưng tôi chẳng buồn phiền làm gì. Tôi vốn không thích những thứ lưng chừng. Tôi thà có một năng lực được phát triển rực rỡ còn hơn là sở hữu hai năng lực chỉ ở mức bình thường. Tôi thực sự có ý định giữ lời hứa đó, nhưng ngặt nỗi lại không tài nào làm được. Thật bất khả thi nếu đi du lịch qua nước Ý mà lại không bàn luận về tranh ảnh, và làm sao tôi có thể nhìn chúng qua đôi mắt của người khác chứ?
Nếu không vì quá say mê trước những bức tranh hoành tráng được bày ra trước mắt tôi mỗi ngày bởi bậc thầy vĩ đại nhất của muôn đời — Tự nhiên — có lẽ đôi khi tôi đã tin rằng bản thân mình hoàn toàn chẳng có chút khiếu thẩm mỹ nào sất.
Tôi có cảm giác rằng cứ mỗi lần tôi hân hoan nghĩ rằng cuối cùng mình đã khám phá ra một bức tranh cổ đẹp đẽ và xứng đáng nhận mọi lời ca ngợi, thì niềm vui mà nó mang lại lại chính là bằng chứng không thể chối cãi rằng đó hoàn toàn không phải là một bức tranh đẹp và chẳng có điểm gì đáng để khen ngợi cả. Chuyện quái quỷ này đã xảy ra vô số lần ở Venice. Trong mọi trường hợp đơn lẻ ấy, hướng dẫn viên đều dập tắt niềm phấn khích đang dâng trào của tôi bằng một câu xanh rờn:
“Chẳng có gì đặc sắc đâu — đó là sản phẩm thời Phục hưng.”
Tôi chẳng hiểu cái quái gì gọi là Phục hưng, thế nên lúc nào cũng đành ngậm ngùi đáp lại:
“À! Phải rồi — lúc nãy tôi chưa để ý đấy.”
Tôi không thể chịu đựng được việc tỏ ra dốt nát trước một anh chàng da đen được giáo dục tử tế, hậu duệ của một nô lệ ở South Carolina. Thế nhưng câu nói bực bội kia cứ lặp đi lặp lại quá nhiều lần, làm tổn hại nghiêm trọng đến lòng tự mãn của tôi: “Chẳng có gì đặc sắc đâu — đó là sản phẩm thời Phục hưng.” Cuối cùng tôi đành thốt lên:
“Cái ông Phục hưng này là ai thế? Hắn chui từ xó nào ra? Ai cho phép hắn ném những bức họa bôi bác đáng nguyền rủa của mình vào khắp chốn Cộng hòa vậy?”
Lúc đó chúng tôi mới vỡ lẽ rằng Phục hưng không phải là một con người; mà Phục hưng là một thuật ngữ dùng để chỉ sự hồi sinh dẫu có cố gắng lắm cũng chỉ đạt đến mức kém cỏi của nghệ thuật. Người hướng dẫn viên cho biết sau thời đại của Titian và những tên tuổi lớn khác mà chúng tôi đã quá đỗi quen thuộc, nghệ thuật đỉnh cao bắt đầu suy vi; rồi sau đó nó trỗi dậy một phần — một đám họa sĩ xoàng xĩnh xuất hiện, và những bức tranh tồi tàn này chính là tác phẩm do đôi tay họ tạo ra. Nghe vậy, trong cơn tức giận, tôi liền thốt lên rằng tôi “ước gì nghệ thuật đỉnh cao đã suy vi sớm hơn năm trăm năm.” Dẫu sao thì những bức tranh thời Phục hưng cũng khá hợp với tôi, dẫu cho thú thật là trường phái này quá ư chuộng việc vẽ người thật mà thiếu đi sự mặn mà với các vị thánh tử đạo.
Người hướng dẫn viên mà tôi vừa nhắc đến là người duy nhất từ trước đến nay am hiểu tường tận mọi chuyện. Anh ta sinh ra tại South Carolina, có cha mẹ là nô lệ. Họ đến Venice khi anh ta hãy còn là một đứa trẻ sơ sinh. Anh ta lớn lên ở đây. Được giáo dục rất bài bản. Anh ta đọc, viết và nói tiếng Anh, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp một cách trôi chảy hoàn hảo; là một tín đồ sùng bái nghệ thuật và thông thạo nó đến nơi đến chốn; nắm vững lịch sử Venice trong lòng bàn tay và chưa bao giờ thấy mỏi mệt khi nói về sự nghiệp lừng lẫy của thành phố này. Tôi nghĩ anh ta ăn mặc đẹp hơn bất kỳ ai trong chúng tôi, lại vô cùng lịch thiệp và nhã nhặn. Ở Venice, người da đen được đối xử bình đẳng như người da trắng, thế nên anh ta chẳng hề có chút mong muốn nào muốn trở về quê hương bản quán. Nhận định của anh ta hoàn toàn chính xác.
Tôi vừa đi cạo râu thêm một lần nữa. Chiều nay tôi đang ngồi viết bài trong phòng khách phía trước, cố gắng hết sức tập trung vào công việc và kiềm chế không nhìn ra kênh đào. Tôi đang chống lại những sức hút êm dịu của khí hậu này nhiều nhất có thể, đồng thời nỗ lực xua đi cái mong muốn được lười biếng và tận hưởng niềm vui. Mấy cậu thanh niên sai người đi gọi thợ cạo. Họ hỏi tôi có muốn cạo râu không. Tôi liền gợi lại cho họ nhớ về những nỗi thống khổ ở Genoa, Milan, Como; về tuyên bố của mình rằng sẽ không chịu đựng thêm bất kỳ sự hành hạ nào trên đất Ý nữa. Tôi bảo: “Xin phép cáo từ, tôi không cần đâu.”
Tôi lại cắm cúi viết. Người thợ cạo bắt đầu xử lý cho ông bác sĩ. Tôi nghe thấy ông ấy thốt lên:
“Dan, đây là lần cạo râu dễ chịu nhất của tôi kể từ lúc rời tàu đấy.”
Lát sau, ông ấy lại nói:
“Chà Dan ơi, người ta có thể ngủ thiếp đi trong lúc tay này đang cạo râu cho ấy chứ.”
Dan liền ngồi vào ghế. Rồi cậu ta thốt lên:
“Ôi chà, đây chẳng khác gì Titian cả. Đích thị là tác phẩm của một bậc thầy đời trước rồi.”
Tôi vẫn cắm cúi viết. Ngay sau đó Dan lại lên tiếng:
“Bác sĩ ơi, đúng là một sự xa hoa tuyệt đỉnh. Thợ cạo trên tàu chẳng thấm vào đâu so với anh ta cả.”
Bộ râu lởm chởm đang làm tôi vô cùng khó chịu. Người thợ cạo đang thu dọn đồ nghề. Cám dỗ lớn quá mức chịu đựng. Tôi liền lên tiếng:
“Khoan đã, làm ơn. Cạo cho cả tôi nữa.”
Tôi ngồi phịch xuống ghế và nhắm nghiền mắt lại. Hắn bôi xà phòng lên mặt tôi, rồi cầm dao cạo một đường sắc lẹm suýt nữa làm tôi lên cơn co giật. Tôi chồm dậy khỏi ghế: cả Dan và bác sĩ đều đang lau máu trên mặt và cười lớn.
Tôi bảo đó là một trò lừa đảo đểu cáng và đáng khinh.
Họ bảo rằng nỗi thống khổ của lần cạo râu này đã vượt xa bất cứ thứ gì họ từng trải qua trước đó đến mức họ không nỡ bỏ lỡ cơ hội được nghe tôi đưa ra một nhận xét chân thành về chủ đề này.
Thật là xấu hổ. Nhưng chẳng có cách nào cứu vãn. Đã trót lột da thì đành phải chịu cho đến cùng. Nước mắt trào ra theo từng nhát cạo, và đi kèm với đó là những lời nguyền rủa cay đắng. Người thợ cạo đâm ra hoảng hốt và cứa rách da tôi mỗi lần ra tay. Tôi nghĩ mấy cậu nhóc thích thú chuyện này hơn bất cứ thứ gì chúng từng thấy hay nghe kể từ khi rời quê nhà.
Chúng tôi đã chiêm ngưỡng tháp chuông Campanile, ngôi nhà của Byron và nhà của nhà địa lý học Balbi, cùng cung điện của tất cả các bậc công tước và tổng trấn thời xưa ở Venice; và chúng tôi cũng đã nhìn thấy những hậu duệ yểu điệu thướt tha của họ đang xúng xính khoe mẽ dòng dõi quý tộc trong những bộ cánh thời trang kiểu Pháp tại Quảng trường lớn St. Mark, thảnh thơi ăn kem và uống rượu rẻ tiền thay vì khoác lên mình những chiếc áo giáp hào hùng để tiêu diệt hạm đội và quân địch như các bậc tiền nhân trong thời kỳ hoàng kim của Venice. Chúng tôi chẳng thấy tên sát thủ nào mang dao găm tẩm độc, chẳng có chiếc mặt nạ nào, cũng chẳng có lễ hội hóa trang hoang dã nào; nhưng chúng tôi đã được tận mắt chiêm ngưỡng niềm kiêu hãnh cổ xưa của Venice, đó là những bức tượng Ngựa Đồng uy nghiêm từng xuất hiện trong hàng ngàn truyền thuyết. Venice có quyền tự hào trân trọng chúng, bởi đó là những con ngựa duy nhất mà thành phố này từng có. Người ta bảo rằng có hàng trăm con người ở thành phố kỳ lạ này chưa từng nhìn thấy một con ngựa sống nào trong suốt cuộc đời họ. Điều đó chắc chắn là hoàn toàn chính xác.
Và thế là, sau khi đã thỏa mãn nguyện vọng, ngày mai chúng tôi sẽ lên đường, để lại Nữ hoàng tôn kính của các nước cộng hòa tự gọi về những con thuyền đã khuất, tự tập hợp những binh đoàn ảo ảnh, và một lần nữa chìm đắm trong những giấc mơ về niềm kiêu hãnh của vinh quang xưa cũ.
