Thế là, vào thời điểm đó, khắp nơi trên thế giới đều sục sôi một nỗi cuồng nhiệt vì Ngôi mộ Thánh. Tất cả các lãnh chúa phong kiến lớn ở châu Âu đều đem thế chấp đất đai và cầm cố đồ bạc để trang bị giáp trụ cho binh lính, hầu có thể gia nhập các đại đạo quân của thế giới Thiên Chúa giáo và giành lấy vinh quang trong các cuộc Thập tự chinh. Bá tước Luigi cũng gom tiền như bao người khác, và vào một buổi sáng tháng Chín êm ả, mang theo rìu chiến, cổng thành di động và khẩu đại gầm thét, ông cưỡi ngựa qua những lớp giáp che ống chân và khiên mộc của tòa tháp pháo đài, dẫn theo một toán cạo giấy Thiên Chúa giáo oai hùng nhất từng đặt chân đến nước Ý. Ông mang theo thanh kiếm Excalibur bên mình. Vị nữ bá tước xinh đẹp cùng cô con gái nhỏ vẫy tay chào tạm biệt đẫm nước mắt từ những cỗ máy bắn đá và các trụ ốp của pháo đài, còn ông thì phi ngựa đi với một cõi lòng phơi phới.
Ông tiến hành một cuộc tập kích vào một nam tước láng giềng và vơ vét chiến lợi phẩm để hoàn thiện trang bị cho đoàn quân. Sau đó, ông san bằng lâu đài thành bình địa, tàn sát cả gia tộc rồi tiếp tục lên đường. Quả là những kẻ gan dạ trong thời đại hiệp sĩ hào hùng thuở nào. Than ôi! Những ngày tháng ấy sẽ chẳng bao giờ quay trở lại.
Bá tước Luigi ngày càng nổi danh ở Đất Thánh. Ông lao mình vào chốn chém giết của hàng trăm trận chiến, nhưng thanh gươm Excalibur báu vật vẫn luôn đưa ông thoát ra ngoài an toàn, dẫu cho thường xuyên chịu những vết thương nhói đau. Gươm mặt ông sạm đi vì dãi dầu nắng gió Xy-ri trong những cuộc hành quân trường kỳ; ông chịu đựng đói khát; ông héo mòn trong ngục tối, tàn tạ trong những bệnh viện truyền nhiễm gớm ghiếc. Và hết lần này đến lần khác, ông nghĩ về những người thân yêu ở quê nhà, tự hỏi liệu mọi chuyện có tốt đẹp với họ không. Nhưng trái tim ông tự nhủ: Bình yên nào, chẳng phải người anh em của ngươi đang canh giữ gia thất của ngươi sao?
Bốn mươi hai năm trôi qua; trận chiến chính nghĩa đã thắng lợi; Godfrey trị vì tại Giê-ru-sa-lem — các đạo quân Thiên Chúa giáo đã giương cao ngọn cờ thánh giá trên Ngôi mộ Thánh!
Hoàng hôn đang buông xuống. Năm mươi tên hề trong những chiếc áo choàng thướt tha tiến lại gần lâu đài này với vẻ mệt mỏi, bởi chúng phải đi bộ, và lớp bụi bám trên trang phục chứng tỏ chúng đã đi một quãng đường dài. Chúng bắt kịp một người nông dân và hỏi gã xem liệu, vì lòng bác ái Thiên Chúa, chúng có thể kiếm được chút thức ăn và một chiếc giường trọ hiếu khách ở đó không, và nếu may mắn, một màn trình diễn phòng khách mang tính giáo dục liệu có được đón nhận nồng nhiệt hay không — vì, chúng nói, “màn trình diễn này không hề có chi tiết nào có thể xúc phạm đến cả gu thẩm mỹ khó tính nhất.”
“Chà,” người nông dân đáp, “nếu các ngài muốn làm hài lòng các vị bề trên, tốt hơn là hãy gánh cái gánh xiếc tung hứng của các ngài mà đi xa thêm vài dặm nữa, còn hơn là đem xương cốt của mình ra đặt cược trong cái lâu đài đằng kia.”
“Thế nào hở tên kia!” vị tu sĩ trưởng kêu lên, “hãy giải thích cái giọng điệu hỗn xược của ngươi, bằng không thì ơn Đức Mẹ, ngươi sẽ phải nếm mùi khổ sở đấy.”
“Bình tĩnh nào, gã hề thiện nghệ ơi, ta chỉ nói ra sự thật có trong lòng mình. Xin Thánh Phao-lô làm chứng cho rằng, nếu các ngài gặp vị bá tước Leonardo dũng mãnh lúc đang say sỉn, y sẽ ném tất cả các ngài thẳng xuống từ bức tường thành cao nhất của lâu đài đấy! Than ôi, vị chúa công Luigi nhân hậu đâu có cai trị nơi đây trong những ngày tháng đau buồn này.”
“Vị chúa công Luigi nhân hậu á?”
“Vâng, chẳng phải ai khác đâu, thưa các ngài. Vào thời của ngài, người nghèo thì vui sướng trong sự sung túc còn kẻ giàu thì bị ngài áp bức; thuế má là gì chẳng ai hay, các bậc trưởng bối trong giáo hội thì béo múp míp nhờ lòng hào phóng của ngài; khách qua đường đến rồi đi mà chẳng ai làm phiền; và bất cứ ai muốn đều có thể dừng chân tại sảnh đường của ngài trong sự chào đón nồng hậu, ăn bánh mì và uống rượu vang của ngài nữa. Nhưng khốn khổ cho tôi thay! chừng bốn mươi hai năm trước, vị bá tước nhân hậu đã rời khỏi đây để chiến đấu vì Thánh Giá, và đã bao năm bay qua kể từ khi chúng tôi nhận được tin tức hay tín vật gì về ng người. Người ta bảo rằng xương cốt của ngài đang phơi trắng trên những cánh đồng xứ Pa-lét-tin.”
“Và bây giờ?”
“Bây giờ á! Chúa thương xót, tên Leonardo tàn ác đang làm vua làm chúa trong lâu đài. Y vơ vét thuế từ người nghèo; y cướp bóc tất cả du khách qua lại cổng thành; y dành ban ngày cho những mối thù hằn và án mạng, còn ban đêm cho tiệc tùng và truỵ lạc; y quay các bậc trưởng bối của giáo hội trên những chiếc xiên nướng của nhà bếp và tận hưởng điều đó, coi đó là trò tiêu khiển. Ba mươi năm nay, nữ bá tước vợ của Luigi không hề được nhìn thấy bởi bất kỳ ai trên vùng đất này, và nhiều người thì thầm rằng bà đang héo mòn trong ngục tối của lâu đài vì nhất định không chịu kết hôn với Leonardo, miệng nói rằng chúa công yêu quý của mình vẫn còn sống và bà thà chết chứ không phản bội ngài. Họ cũng thì thầm rằng con gái bà cũng là một tù nhân. Thôi nào, hỡi những nghệ sĩ tung hứng thiện nghệ, hãy tìm chỗ nghỉ ngơi ở nơi khác đi. Thà rằng các ngài bỏ mạng theo một cách Thiên Chúa giáo còn hơn là lao đầu từ cái ngọn tháp chóng mặt kia xuống. Chúc các ngài một ngày tốt lành.”
“Xin Chúa phù hộ ngươi, gã nông phu hiền lành — tạm biệt.”
Nhưng phớt lờ lời cảnh báo của người nông dân, nhóm diễn viên vẫn tiến thẳng về phía lâu đài.
Tin tức được báo lên Bá tước Leonardo rằng có một gánh hát rong đang cầu xin lòng hiếu khách của y.
“Được lắm. Hãy xử lý chúng theo cách thông thường đi. Mà khoan đã! Ta đang cần bọn chúng. Hãy để chúng vào đây. Lát nữa, hãy ném chúng khỏi tường thành — hoặc là — các ngươi đang có sẵn mấy tên linh mục?”
“Kết quả hôm nay thật èo uột, thưa chúa công. Chỉ có một vị viện phụ và một tá tu sĩ nghèo kiết xác thôi ạ.”
“Địa ngục và cuồng nộ! Cơ ngơi này đang tàn lụi dần sao? Dẫn đám nghệ sĩ tung hứng vào đây. Sau đó, đem nướng chúng cùng với đám linh mục.”
Những tên hề mặc áo choàng và đội mũ trùm kín đầu bước vào. Tên Leonardo gớm ghiếc ngồi uy nghi ở đầu bàn hội đồng. Xếp dọc theo sảnh đường ở cả hai phía là gần một trăm binh lính.
“Ha, lũ khốn kiếp!” bá tước cất tiếng, “Các ngươi có thể làm gì để đổi lấy sự hiếu khách mà các ngươi đang nài nỉ.”
“Kính thưa chúa công quyền uy và vĩ đại, những khán giả đông đảo đã chào đón những nỗ lực khiêm tốn của chúng tôi bằng những tràng pháo tay nhiệt liệt. Trong hàng ngũ của chúng tôi có sự góp mặt của Ugolino đa tài và linh hoạt; Rodolpho nổi tiếng lừng lẫy; Roderigo có năng khiếu và tài hoa; ban quản lý đã không tiếc công sức hay tiền bạc—”
“Chết tiệt! Các ngươi làm được gì? Im cái lưỡi ba hoa của ngươi lại đi.”
“Kính thưa chúa công, về các tiết mục nhào lộn, tập luyện với tạ tay, thăng bằng và nhào lộn trên mặt đất lẫn trên cao, chúng tôi đều tinh thông — và vì hạ cố đã hỏi, tôi mạo muội tuyên bố ở đây rằng trong môn Zampillaerostation vô cùng kỳ diệu và giải trí—”
“Bịt miệng hắn lại! Bóp cổ hắn đi! Thân thể thần Bacchus! Ta là con chó nào mà phải hứng chịu những lời lăng mạ dài ngoằng nhiều âm tiết thế này sao? Nhưng khoan đã! Lucretia, Isabel, bước lên đây! Tên kia, hãy nhìn người phụ nữ này, cô ả đẫm nước mắt này đi. Người đầu tiên, ta sẽ cưới trong vòng một giờ tới; người còn lại sẽ phải nín khóc hoặc làm mồi cho kèn kèn. Ngươi và lũ lang thang của ngươi sẽ làm cho đám cưới thêm phần rước hội bằng những trò vui của các ngươi. Lệnh mang linh mục tới đây!”
Người phụ nữ lao về phía trưởng đoàn.
“Ôi, hãy cứu tôi!” bà khóc thét lên; “hãy cứu tôi khỏi một số phận còn tồi tệ hơn cái chết! Hãy nhìn những đôi mắt buồn bã này, đôi má húp hóp này, thể xác tàn tạ này! Hãy nhìn xem đống đổ nát mà tên ác quỷ này đã gây ra, và để trái tim ngươi rung động bởi lòng trắc ẩn! Hãy nhìn thiếu nữ này; hãy chú ý đến vóc dáng gầy gò, bước đi tập tễnh, đôi má không còn chút sắc hồng nơi tuổi trẻ đáng lẽ phải thẹn thùng và hạnh phúc phải hân hoan mỉm cười! Hãy lắng nghe chúng tôi và rủ lòng thương xót. Con quái vật này chính là em trai chồng tôi. Kẻ đáng lẽ phải là chiếc khiên che chở chúng tôi khỏi mọi tổn hại, lại giam cầm chúng tôi trong những hang động hôi hạm của tháp pháo đài ngót ba mươi năm nay. Và vì tội gì chứ? Chẳng vì gì khác ngoài việc tôi không chịu nuốt lời thề, không chịu nhổ tận gốc tình yêu sâu đậm dành cho người đang hành quân cùng các đạo quân thánh giá ở Đất Thánh, (vì ôi, chàng chưa chết!) mà lại đi kết hôn với y! Hãy cứu chúng tôi, ôi hãy cứu những kẻ khốn khổ đang cầu xin ngài đây!”
Bà quăng mình xuống chân y và ôm lấy đầu gối y.
“Ha!-ha!-ha!” tên Leonardo tàn bạo cười lớn. “Hỡi linh mục, hãy làm việc của ngươi!” và y kéo người phụ nữ đẫm nước mắt ra khỏi chỗ ẩn nấp. “Nói xem, một lần cho tất cả, ngươi có chịu làm vợ ta không? — vì thề có thánh vật của ta, hơi thở thốt ra lời từ chối của ngươi sẽ là hơi thở cuối cùng trên cõi đời này!”
“KHÔNG-BAO-GIỜ?”
“Thế thì chết đi!” và thanh kiếm văng khỏi vỏ.
Nhanh hơn cả suy nghĩ, nhanh hơn cả tia chớp, năm mươi bộ tu phục biến mất, và năm mươi hiệp sĩ trong bộ giáp sáng chói hiện ra! năm mươi lưỡi gươm cong lóe lên trong không trung bên trên đám binh lính — và sáng ngời hơn, dữ dội hơn tất cả, thanh Excalibur vút cao lấp lánh, rồi bổ xuống đánh văng vũ khí của tên Leonardo tàn bạo khỏi tay y!
“Một tiếng hô cho Luigi giải cứu! Hoan hô!”
“Một tiếng cho Leonardo! ‘Khỉ thật!’”
“Ôi Chúa ơi, ôi Chúa ơi, chồng tôi!”
“Ôi Chúa ơi, ôi Chúa ơi, vợ tôi!”
“Cha tôi!”
“Người yêu quý của tôi!” [Cảnh dàn dựng.]
Bá tước Luigi trói chặt người em trai soán ngôi từ tay đến chân. Các hiệp sĩ lão luyện đến từ Pa-lét-tin tận hưởng niềm vui ngày hội bằng cách băm đám binh lính vụng về thành từng miếng thịt sườn và bít-tết. Chiến thắng đã hoàn toàn thuộc về họ. Hạnh phúc ngự trị. Các hiệp sĩ đều kết hôn với cô con gái. Niềm vui! Chè chén say sưa! Hết!
“Thế còn tên em trai độc ác thì họ xử lý thế nào?”
“À thì chẳng làm gì cả — chỉ treo cổ hắn lên cái móc sắt mà tôi vừa nhắc đến thôi. Móc qua cằm.”
“Bằng cách nào?”
“Móc ngược từ cổ họng lên miệng.”
“Rồi để hắn ở đó luôn á?”
“Cả đôi năm.”
“Hừm — hắn — hắn chết chưa?”
“Sáu trăm năm mươi năm trước, hoặc đại loại thế.”
“Truyền thuyết tuyệt vời — lời nói dối tuyệt vời — lái đi tiếp đi.”
Chúng tôi đến thành phố pháo đài cổ kính kỳ lạ Bergamo, nơi nổi tiếng trong lịch sử, chừng ba phần tư giờ trước khi tàu khởi hành. Nơi này có ba hoặc bốn mươi nghìn dân và nổi tiếng là quê hương của nhân vật hề harlequin. Khi chúng tôi phát hiện ra điều đó, truyền thuyết của người đánh xe ngựa bỗng mang một sự hấp dẫn mới trong mắt chúng tôi.

Sau khi được nghỉ ngơi và lấy lại sức, chúng tôi lên tàu với tâm trạng vui vẻ và mãn nguyện. Tôi sẽ không dừng lại để kể về hồ Lago di Gardi xinh đẹp; tòa lâu đài uy nghi của nó đang cất giữ trong lồng ngực bằng đá những bí mật của một thời đại xa xưa đến nỗi ngay cả truyền thuyết cũng không truy nguồn đến được; phong cảnh núi non hùng vĩ tôn lên vẻ đẹp của vùng đất xung quanh đó; hay về thành phố cổ Padua hoặc thành Verona kiêu kỳ; hay về gia tộc Montague và Capulet của họ, những ban công nổi tiếng và lăng mộ của Juliet cùng Romeo v.v., mà sẽ tiến thẳng đến thành phố cổ kính trên biển, nàng dâu góa bụa của biển Adriatic. Đó là một chuyến đi dài, dài đẵng dặc. Nhưng vào lúc chiều tà, khi chúng tôi ngồi im lặng và hầu như không ý thức được mình đang ở đâu — chìm đằm trong sự tĩnh lặng trầm ngâm vốn dĩ xuất hiện sau một trận cãi vã rôm rả — bỗng có ai đó hét lên —
“VENICE!”
Và quả đúng như vậy, nổi bồng bềnh trên mặt biển phẳng lặng cách đó một dặm, là một thành phố lớn với những ngọn tháp, mái vòm và tháp chuông đang thiu thiu ngủ trong màn sương vàng của hoàng hôn.