Chúng tôi thả neo tại Yalta, thuộc Nga, từ hai hoặc ba ngày trước. Đối với tôi, nơi này trông giống hệt như vùng núi Sierras. Những ngọn núi cao, xám xịt làm phông nền phía sau, với sườn núi chi chít thông, những khe vực cắt ngang, dăm mỏm đá bạc đầu nhô lên trong tầm mắt, cùng những vệt dài thẳng tắp chạy từ đỉnh xuống tận biển—dấu tích của những trận lở tuyết từ thủa nào—tất cả đều gợi nhớ đến cảnh sắc Sierras đến mức ngỡ như bức tranh này là bản sao của bức kia. Ngôi làng nhỏ Yalta nằm gọn dưới chân một thung lũng hình lòng chảo thoải dần lên tới triền đồi, trông như thể nó vừa trượt nhẹ nhàng từ một cao độ lớn hơn xuống vị trí hiện tại. Vùng trũng này bao phủ bởi những công viên và khu vườn rộng lớn của giới quý tộc, ẩn hiện giữa thảm lá xanh tươi là màu sắc rực rỡ từ các cung điện trông như những đóa hoa nở muộn. Quả là một thắng cảnh tuyệt trần.
Hôm ấy, chúng tôi đón Lãnh sự Hoa Kỳ tại Odessa lên tàu. Mọi người tụ họp trong phòng khách và yêu cầu ông phải chỉ bảo tận tình xem chúng tôi phải làm gì để được cứu rỗi, và phải nói cho nhanh. Ông liền đứng lên phát biểu. Câu đầu tiên ông thốt ra đã dội một gáo nước lạnh vào hy vọng của mọi người: ông chưa từng tham dự một buổi tiếp kiến hoàng gia nào. (Ba tiếng thở dài ngao ngán dành cho ngài Lãnh sự.) Nhưng ông trấn an rằng ông đã từng dự các buổi tiếp kiến tại phủ Toàn quyền ở Odessa, thường xuyên nghe kể về chuyện yết kiến tại triều đình Nga cũng như các nước khác, và tin rằng mình hiểu rõ chúng ta sắp phải trải qua thử thách gì. (Hy vọng lại chớm nở.) Ông bảo đoàn ta thì đông, mà cung điện mùa hè lại nhỏ—chỉ như một dinh thự lớn thôi; chắc chắn chúng ta sẽ được tiếp đón theo lối mùa hè—tức là ở ngoài vườn; tất cả sẽ đứng thành một hàng, các quý ông mặc áo đuôi tôm, đeo găng tay trắng và thắt cà vạt trắng, còn các quý bà diện lụa màu sáng hoặc trang phục tương tự; đúng thời khắc ng hoàng—12 giờ trưa—Nhà vua cùng đoàn tùy tùng trong những bộ quân phục lộng lẫy sẽ xuất hiện, thong thả bước dọc theo hàng người, gật đầu chào người này và nói đôi ba câu với người khác. Ngay khi bệ hạ xuất hiện, toàn thể hành khách phải nở một nụ cười thật tươi tắn, rạng rỡ và đầy phấn khích—một nụ cười tràn ngập tình yêu mến, lòng biết ơn và sự ngưỡng mộ—rồi đồng lòng bắt đầu cúi chào—không phải theo kiểu luồn cúi, mà là sự kính trọng đầy đường bệ; chỉ mười lăm phút sau, Hoàng đế sẽ quay vào trong nhà, và chúng tôi có thể tản về tàu. Ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm. Nghe qua thì có vẻ cũng đơn giản. Chẳng có người đàn ông nào trong đoàn lại nghĩ rằng mình không thể đứng thẳng hàng nếu có anh em đứng cạnh; chẳng ai lo mình sẽ vạt áo vào chân ngã gãy cổ; nói tóm lại, chúng tôi tin rằng mình dư sức vượt qua mọi thử thách, ngoại trừ cái màn cười cợt phức tạp kia. Lãnh sự cũng khuyên chúng tôi nên thảo một bức thư ngỏ dâng lên Hoàng đế, rồi trao nó cho một vị sĩ quan tùy tùng để chuyển đến ngài vào thời điểm thích hợp. Thế là năm quý ông được cắt cử soạn thảo văn bản ấy, trong khi năm mươi người còn lại cứ đi lại trên tàu với nụ cười gượng gạo trên môi để luyện tập suốt ngày hôm sau. Nhìn chung, chúng tôi trông chẳng khác gì một đám tang, nơi mọi người đều buồn vì có người qua đời nhưng lại mừng vì mọi chuyện đã chấm dứt—vừa mỉm cười mà lòng đau như cắt.
Một phái đoàn đã lên bờ để diện kiến ngài Toàn quyền và thỉnh cầu định đoạt số phận của chúng tôi. Sau ba tiếng đồng hồ hồi hộp chờ đợi trong lo âu, họ quay lại và thông báo rằng Hoàng đế sẽ tiếp đón chúng tôi vào lúc ngọ ngày mai, sẽ cử xe đến đón, và sẽ trực tiếp lắng nghe bức thư ngỏ. Đại công tước Michael cũng đã sai người gửi thiệp mời chúng tôi đến cung điện của ngài. Bất kỳ ai cũng có thể nhận ra dụng ý đằng sau đó: nước Nga muốn bày tỏ tình hữu nghị chân thành với nước Mỹ, trân trọng cả những công dân bình thường của xứ sở cờ hoa thành những vị khách quý đáng được trân trọng.
Đúng giờ hẹn, chúng tôi ngồi xe đi chừng ba dặm và tề tựu tại khu vườn xinh xắn trước cổng cung điện Hoàng đế.

Chúng tôi xếp thành một vòng tròn dưới những tán cây trước cửa, bởi chẳng có căn phòng nào trong nhà đủ chỗ cho sáu mươi con người chúng tôi sinh hoạt thoải mái. Chỉ ít phút sau, hoàng gia xuất hiện, miệng cười tươi và cúi đầu chào, rồi đứng hòa lẫn vào giữa chúng tôi. Cùng đi với họ có một số quan chức cao cấp của đế quốc trong bộ quân phục thường ngày. Theo mỗi cái cúi đầu, bệ hạ lại nói một lời chào mừng. Tôi xin ghi lại nguyên văn những lời ấy. Chúng mang đậm bản sắc—bản sắc Nga—vừa lịch thiệp lại vô cùng chân thật. Người Pháp vốn lịch sự, nhưng đó thường chỉ là sự xã giao bề ngoài. Còn người Nga gửi gắm vào sự lịch thiệp ấy một sự nồng hậu từ cả ý tứ lẫn biểu cảm, khiến người nghe buộc phải tin vào sự chân thành của họ. Như tôi đã nói, Sa hoàng vừa phát biểu vừa gật đầu:
“Chào buổi sáng—tôi rất vui được gặp quý vị—tôi rất kích động—tôi rất đỗi vui mừng—tôi thật hạnh phúc khi được đón tiếp quý vị!”

Tất cả đều cất mũ, và ngài Lãnh sự liền đọc bức thư ngỏ trước mặt ngài. Hoàng đế điềm tĩnh lắng nghe với một sự kiên cường đáng nể; đoạn cầm tờ văn bản có vẻ nhàu nhĩ ấy trao cho một vị đại quan nào đó để đem cất vào lưu trữ của nước Nga—trong lò sưởi. Ngài cảm ơn bức thư và bày tỏ niềm vui mừng khôn tả khi được đón tiếp chúng tôi, nhất là khi giữa Nga và Hoa Kỳ đang tồn tại mối quan hệ hữu nghị thắm thiết đến vậy. Hoàng hậu cũng bày tỏ rằng người Mỹ rất được yêu mến ở Nga, và bà hy vọng người Nga cũng nhận được tình cảm tương đương tại Mỹ. Đó là toàn bộ những bài phát biểu diễn ra ngày hôm đó, và tôi xin giới thiệu chúng như những hình mẫu chuẩn mực về sự ngắn gọn và súc tích dành cho những ai định tặng đồng hồ vàng cho cảnh sát. Sau đó, Hoàng hậu bước đến trò chuyện rất cởi mở (đối với một vị Hoàng hậu) với các quý bà đứng quanh vòng tròn; vài quý ông tham gia vào một cuộc trò chuyện chung rôm rả với Hoàng đế; các Công tước, Vương tử, Đô đốc và các Nữ quan thì thoải mái thăm hỏi từng người trong đoàn chúng tôi; và bất cứ ai muốn đều có thể bước lên trò chuyện với Nữ đại công tước Marie bé nhỏ, khiêm nhường—con gái của Sa hoàng. Công tước cô bé nay mới mười bốn tuổi, tóc vàng, mắt xanh, vô cùng giản dị và xinh xắn. Mọi người đều nói tiếng Anh.
Hoàng đế mặc áo khoác dáng dài, quần dài và đội mũ lưỡi trai, tất cả đều may bằng một loại vải thô màu trắng giản dị—cotton hoặc vải lanh—và tuyệt nhiên không đeo trang sức hay bất kỳ phù hiệu cấp bậc nào. Chẳng có trang phục nào lại khiêm nhường hơn thế. Ngài rất cao và gầy, mang gương mặt kiên quyết nhưng đồng thời lại vô cùng hiền hòa. Chỉ nhìn qua cũng thấy ngài là người nhân hậu và giàu tình cảm. Có điều gì đó rất cao quý tỏa ra từ gương mặt ngài khi chiếc mũ được cất đi. Đáng chú ý là trong ánh mắt ngài hoàn toàn không có vẻ gian xảo mà tất cả chúng tôi từng nhận thấy ở Louis Napoleon.
Hoàng hậu và Đại công tước tiểu thư mặc những bộ đồ bằng lụa mỏng (hoặc lụa foulard, tôi không rõ cách gọi nào mới chuẩn) điểm những chấm xanh nhỏ; váy được viền bằng dải lụa xanh; cả hai vị phu nhân đều thắt đai xanh bản rộng; cổ áo bằng vải lanh cùng nơ cổ theo lối tu sĩ; đội mũ rơm vành nhỏ viền nhung xanh; tay cầm ô và đeo găng tay màu da người. Nữ đại công tước không đi giày cao gót. Tôi không tự mình kiểm chứng điều này, nhưng một phụ nữ trong đoàn đã thì thầm với tôi như vậy. Lúc đó tôi nào có ngó xuống giày của cô ấy. Tôi rất vui khi thấy cô ấy chải chuốt mái tóc tự nhiên của mình, tết thành từng bím dày vắt gọn ở sau gáy, thay vì cái thứ trông kỳ cục gọi là thác nước—thứ mà giống một miếng dăm bông bọc vải canvas hơn là một ngọn thác thực thụ. Nhìn vào nét mặt nhân hậu của Hoàng đế và vẻ dịu dàng của cô con gái trẻ, tôi tự hỏi liệu sự vững vàng của Sa hoàng có bị thử thách đến cùng cực hay không nếu có một kẻ khốn khổ nào đó quỳ lạy xin tha thứ nơi vùng hoang mạc Siberia lạnh giá. Mỗi khi ánh mắt họ chạm nhau, tôi càng nhận thức rõ hơn sức mạnh to lớn cỡ nào mà cô nữ sinh rụt rè, mong manh ấy có thể nắm giữ nếu cô muốn. Sẽ có lúc cô chi phối được cả Đấng Tự trị nước Nga—vị quân chủ mà chỉ một lời thì thầm cũng là luật pháp đối với bảy mươi triệu sinh linh! Cô ấy dẫu sao cũng chỉ là một thiếu nữ, trông chẳng khác gì hàng ngàn thiếu nữ khác mà tôi từng gặp, nhưng chưa từng có một cô gái nào khơi gợi trong tôi thứ cảm giác kỳ lạ và độc đáo nhường ấy. Giữa cuộc đời nhàm chán này, một cảm xúc mới lạ quả là điều hiếm hoi, và tôi đã trải nghiệm được nó ngay tại đây. Chẳng có chút gì nhà ên hay cũ kỹ trong những suy nghĩ và cảm xúc mà hoàn cảnh ấy mang lại. Thật kỳ lạ—kỳ lạ hơn cả những gì tôi có thể diễn tả—khi nghĩ rằng nhân vật trung tâm đang đứng giữa đám đông nam thanh nữ tú, trò chuyện dưới những tán cây chẳng khác nào một người dân bình thường nhất, lại là kẻ chỉ cần cất lời là những con tàu sẽ rẽ sóng băng qua đại dương, tàu hỏa lao vun vút trên đồng bằng, các sứ giả tất tả truyền tin từ làng này sang làng khác, hàng trăm đường dây điện tín sẽ truyền tin tức đến bốn phương trời của một đế chế rộng lớn chiếm tới một phần bảy diện tích bề mặt trái đất, và vô số con người sẽ vùng dậy tuân lệnh. Tôi chợt dấy lên một sự tò mò mơ hồ muốn được nhìn ngắm đôi tay ngài xem chúng có phải bằng xương bằng thịt như người thường hay không. Đây là một con người có thể làm được những điều phi thường ấy, thế mà nếu muốn, tôi hoàn toàn có thể đấm ngã ngài. Sự thật rành rành ra đó, nhưng sao vẫn thấy vô lý làm sao—vô lý như việc cố gắng đấm ngã một ngọn núi hay xóa sổ cả một lục địa vậy. Chỉ cần vị này trật khớp mắt cá chân thôi, hàng triệu dặm đường dây điện tín sẽ mang tin tức ấy vượt qua núi non—thung lũng—những sa mạc hoang vu—dưới đáy biển sâu thẳm—và mười ngàn tờ báo sẽ nhao lên bàn tán; nếu ngài lâm trọng bệnh, toàn thế giới sẽ hay tin trước khi mặt trời mọc lại lần nữa; nếu ngài ngã quỵ xuống đất, sự sụp đổ ấy có thể làm rung chuyển ngai vàng của nửa thế giới! Nếu có thể ăn cắp chiếc áo khoác của ngài, tôi đã làm rồi. Khi gặp một người như thế, tôi luôn muốn giữ lại một món đồ gì đó để làm kỷ niệm.
Thông thường, khi tham quan các cung điện, chúng tôi toàn được dẫn dắt bởi dăm tên lính hầu diện đồ lòe loẹt dán đầy kim tuyến, và chúng sẽ thu một quan tiền cho mỗi lần như thế; thế nhưng sau khi trò chuyện cùng chúng tôi nửa tiếng đồng hồ, chính Hoàng đế Nga cùng gia đình đã tự mình dẫn đoàn đi tham quan toàn bộ dinh thự. Họ không thu phí một xu. Trái lại, họ dường như rất hào hứng và lấy làm thích thú.
Chúng tôi dành nửa giờ thong thả dạo bước qua các sảnh điện, ngắm nhìn những căn phòng ấm cúng cùng cách bài trí sang trọng nhưng lại vô cùng gần gũi như ở nhà, để rồi sau đó, gia đình hoàng gia thân ái nói lời tạm biệt với đoàn và lui vào trong để... đếm thìa.
Chúng tôi tiếp tục nhận được lời mời ghé thăm cung điện của người con trai trưởng, tức Hoàng thái tử Nga, nằm ở ngay gần đó. Cậu hoàng tử trẻ không có nhà, nhưng các vị công tước, bá tước và vương tử đã thay mặt tiếp đón, dẫn dắt chúng tôi đi tham quan toàn bộ khuôn viên một cách thong thả chẳng kém gì bên cung điện Hoàng đế, và không khí trò chuyện vẫn sôi nổi như trước.
Lúc đó đã qua một giờ chiều. Theo lời mời từ trước, chúng tôi lên xe di chuyển đến dinh thự của Đại công tước Michael cách đó chừng một dặm.
Chúng tôi đến nơi chỉ sau hai mươi phút rời cung điện của Hoàng đế. Đó là một chốn bồng lai tiên cảnh. Cung điện tuyệt đẹp nằm nép mình giữa những lùm cổ thụ nguy nga trong công viên, công viên lại tựa lưng vào những vách đá và ngọn đồi nên thơ, cả hai cùng hướng mặt ra biển khơi lộng gió. Trong công viên, rải rác những chiếc ghế gỗ mộc mạc đặt tại các góc khuất bóng râm; những dòng suối nhỏ nước trong vắt như ngọc; những hồ nước nhỏ với thảm cỏ xanh mướt mời gọi; những thác nước lấp ló qua kẽ lá; những mạch nước róc rách phun ra từ những mắt gỗ trên thân cây cổ thụ; những ngôi đền cẩm thạch thu nhỏ vắt vẻo trên vách đá rêu phong; cùng những chòi canh lộng gió phóng tầm mắt ôm trọn cả một vùng non nước mây trời. Cung điện được mô phỏng theo những tinh hoa của kiến trúc Hy Lạp, với những dãy hành lang rộng lớn bao quanh một khoảng sân trung tâm rợp bóng những loài hoa quý tỏa hương thơm ngát, giữa sân là một đài phun nước làm dịu đi cái oi ả mùa hè, và dẫu có thể sinh ra muỗi đi chăng nữa, thì tôi nghĩ chắc là không đến nỗi thế.
Đại công tước cùng phu nhân bước ra đón, và nghi thức giới thiệu cũng đơn giản y như ở bên Hoàng đế. Chẳng mấy chốc, câu chuyện lại rôm rả trở lại. Hoàng hậu xuất hiện ở hiên nhà, còn Đại công tước tiểu thư thì bước thẳng vào đám đông. Họ đã đến đó từ lúc nào không hay. Chuyển biến tiếp theo, chính Hoàng đế cũng phóng ngựa đến nơi. Thật là một trải nghiệm dễ chịu. Bạn chỉ có thể thấu điều này nếu từng có dịp diện kiến hoàng gia và đôi lúc mang cảm giác rằng có lẽ mình đang ở quá lâu khiến chủ nhà thấy phiền—dù nhìn chung, tôi tin là hoàng gia chẳng bao giờ ngại ngần việc tống khứ bạn đi khi họ đã xong việc với bạn cả.
Đại công tước là em trai thứ ba của Hoàng đế, độ chừng ba mươi bảy tuổi, và có thể coi là nhân vật tuấn tú nhất nước Nga. Thậm chí ngài còn cao hơn cả Sa hoàng, dáng người thẳng tắp như một thổ dân da đỏ, sải bước hiên ngang hệt như những hiệp sĩ lừng lẫy trong các tiểu thuyết về các cuộc Thập tự chinh. Nhìn ngài giống như một trang hảo hán tốt bụng, người sẵn sàng ném kẻ thù xuống sông ngay lập tức, rồi lại tự mình nhảy ùm xuống mạo hiểm cứu đối thủ lên. Những câu chuyện người ta kể về ngài đều khắc họa một con người can trường và phóng khoáng. Chắc hẳn ngài rất muốn chứng minh rằng người Mỹ là những vị khách quý trong các cung điện hoàng gia Nga, bởi ngài đã phi ngựa suốt quãng đường dài đến Yalta để tự mình dẫn đoàn hộ tống đến gặp Hoàng đế, đồng thời liên tục thúc giục đám tùy tùng dọn đường và hỗ trợ bất cứ khi nào cần thiết. Lúc đó chúng tôi khá thoải mái với ngài, đơn giản vì chẳng biết ngài là ai. Giờ thì chúng tôi đã nhận ra thân phận ấy, và vô cùng trân trọng tinh thần hiếu khách đã thúc đẩy ngài làm một việc mà có lẽ chẳng vị đại công tước nào trên thế giới này chịu làm. Ngài có thừa gia nhân để sai phái, nhưng lại chọn cách tự mình đứng ra lo liệu.
Đại công tước diện bộ quân phục Cossack lộng lẫy và bắt mắt. Nữ đại công tước mặc chiếc áo choàng bằng vải alpaca màu trắng, các đường may và nếp gấp được viền ren đen tinh tế, đội chiếc mũ xám nhỏ đính chiếc lông vũ cùng màu. Cô còn trẻ, khá xinh xắn, khiêm nhường, không phô trương và tràn ngập vẻ lịch thiệp đáng yêu.
Đoàn chúng tôi đi một vòng khám phá toàn bộ ngôi nhà, sau đó các bậc quý tộc tiếp tục dẫn mọi người đi dạo khắp khu vườn, rồi cuối cùng đưa chúng tôi quay lại cung điện vào khoảng hai rưỡi chiều để dùng bữa sáng. Họ gọi đó là bữa sáng, nhưng chúng tôi thì gọi là bữa nhẹ trưa. Bữa ăn gồm hai loại rượu vang; trà, bánh mỳ, phô mai và thịt nguội, được bày biện trên những chiếc bàn đặt giữa phòng khách và ngoài hiên—cứ chỗ nào thuận tiện là bày; chẳng có lễ nghi câu nệ gì sất. Trông nó giống một buổi dã ngoại hơn. Tôi từng nghe phong phanh rằng chúng tôi sẽ dùng bữa sáng ở đây, nhưng Blucher bảo cậu ta tin là chính cậu nhóc hầu bàn của Baker đã gợi ý cho Hoàng thân tiểu vương điều đó. Tôi không nghĩ vậy—dù điều đó rất hợp với tính cách cậu ta. Cậu nhóc của Baker chính là "kẻ chuyên mang lại nạn đói" trên con tàu này. Lúc nào cậu ta cũng thấy đói. Người ta đồn rằng cậu ta hay lang thang vào các phòng khách khi hành khách đi vắng để ăn hết sạch chỗ xà phòng. Rồi người ta còn bảo cậu ta ăn cả xơ gai. Họ bảo cậu ta có thể nuốt bất cứ thứ gì kiếm được giữa các bữa ăn, nhưng khoái khẩu nhất vẫn là xơ gai. Cậu ta không thích xơ gai trong bữa tối, nhưng lại rất mê món này cho bữa lặt vặt lúc nửa buổi hoặc bất cứ lúc nào. Thói quen ấy khiến cậu ta trở nên vô cùng khó ưa, bởi nó làm hơi thở nặng mùi và khiến răng lúc nào cũng dính đầy nhựa đường. Cậu nhóc của Baker có lẽ không phải là người gợi ý bữa tiệc này, nhưng tôi cũng mong là không phải. Dù sao thì bữa tiệc cũng diễn ra tốt đẹp. Vị chủ nhà lừng lẫy di chuyển hết chỗ này đến chỗ khác, góp phần càn quét đồ ăn và duy trì bầu không khí sôi nổi, trong khi Nữ đại công tước thì trò chuyện với nhóm khách đứng ngoài hiên và những ai đã ăn no rồi tản bộ ra khỏi phòng khách.
Trà của Đại công tước ngon tuyệt cú mèo. Họ đưa cho bạn một lát chanh để vắt vào trà, hoặc sữa lạnh nếu bạn thích vị béo ngậy. Vắt chanh vẫn là ngon nhất. Loại trà này được chở đường bộ từ Trung Quốc sang. Việc vận chuyển đường biển sẽ làm hỏng mất phẩm chất của lá trà.
Đã đến lúc phải rời đi, chúng tôi nói lời chia tay các vị chủ nhà đáng kính, và họ hoan hỉ lui về căn phòng của mình để đếm thìa.
Chúng tôi đã dành phần lớn thời gian nửa ngày trong dinh thự hoàng gia, và suốt khoảng thời gian ấy, ai nấy đều thoải mái, vui vẻ hệt như khi ở trên tàu. Thú thật, tôi thà nghĩ đến chuyện tìm thấy sự hoan hỉ trong lòng Abraham còn hơn là trong cung điện của một vị Hoàng đế. Tôi cứ đinh ninh rằng các Hoàng đế là những con người vô cùng đáng sợ. Tôi nghĩ họ chẳng bao giờ làm gì ngoài việc đội những chiếc vương miện lộng lẫy cùng áo choàng nhung đỏ đính những dúm bông lèo tèo, ngồi trên ngai vàng trừng mắt nhìn lũ hầu cận cùng khán giả ngồi ghế dưới, rồi thản nhiên ra lệnh đem các công tước và nữ công tước đi xử trảm. Thế nhưng, tôi nhận ra rằng khi may mắn được bén mảng vào hậu trường để quan sát họ lúc sinh hoạt đời thường bên ngọn lửa gia đình, họ lại kỳ lạ thay giống hệt những kẻ phàm trần. Nhìn họ những lúc ấy dễ chịu hơn nhiều so với khi đứng trên sân khấu kịch. Họ khoác lên mình y phục và hành xử tự nhiên như người thường, giống hệt cái cách bạn thản nhiên nhét chiếc bút chì gỗ của bạn bè vào túi sau khi dùng xong vậy. Dù vậy, sau chuyện này tôi chẳng còn chút niềm tin nào vào những vị vua giả cối trên sân khấu kịch nữa. Đó quả là một sự mất mát lớn. Trước đây tôi từng tìm thấy biết bao niềm vui thích nghẹt thở ở họ. Nhưng từ nay về sau, tôi sẽ buồn bã quay đi và tự nhủ:
“Cảnh này không ổn—đây không phải là kiểu vua chúa mà ta quen thuộc.”

Khi họ ưỡn ẹo bước đi trên sân khấu với vương miện nạm ngọc và xiêm y lộng lẫy, tôi sẽ thấy có trách nhiệm phải nhắc nhở mọi người rằng tất cả những vị Hoàng đế mà tôi từng quen biết ngoài đời đều mặc những bộ đồ bình dân nhất và chẳng bao giờ làm cái trò ưỡn ẹo đó. Và khi họ xuất hiện trên sân khấu với một đội cận vệ đông đúc mặc giáp thiếc đội mũ trụ, đó sẽ là nghĩa vụ cũng như niềm vui của tôi khi được khai sáng cho những kẻ kém hiểu biết rằng chẳng có vị quân vương nào tôi quen biết lại nuôi lính lác lảng vảng quanh nhà hay quanh người họ cả.
Có lẽ sẽ có người nghĩ rằng đoàn chúng tôi đã lưu lại quá lâu hoặc có những hành động thất lễ, nhưng sự thật hoàn toàn không phải vậy. Mọi người đều ý thức rõ rằng mình đang gánh vác một trọng trách vô cùng lớn lao—chúng tôi đại diện cho nhân dân nước Mỹ, chứ không phải Chính phủ—và do đó ai nấy đều cẩn trọng để hoàn thành sứ mệnh cao cả một cách trọn vẹn nhất.
Ngược lại, gia đình hoàng gia chắc hẳn cũng hiểu rằng việc tiếp đón chúng tôi chính là cách họ bày tỏ tình cảm trân trọng đối với nhân dân nước Mỹ một cách thiết thực hơn nhiều so với việc ban ân huệ cho cả một trung đội đại sứ toàn quyền; chính vì thế, họ đã nâng sự kiện này lên tầm vóc ý nghĩa lớn lao nhất, như một minh chứng cho thiện chí và tình hữu nghị dành cho toàn bộ đất nước chúng ta. Tất nhiên, chúng tôi đón nhận những sự tử tế ấy như một đặc ân dành cho đất nước, chứ không phải cho cá nhân từng người trong đoàn. Chúng tôi không phủ nhận niềm tự hào cá nhân khi được đón tiếp với tư cách là đại diện của một quốc gia, và cũng không thể chối bỏ niềm tự hào dân tộc trước sự nồng ấm chân thành của cuộc gặp gỡ đó.
Nhà thơ của đoàn đã bị kiểm duyệt gắt gao ngay từ khoảnh khắc chúng tôi thả neo. Khi có tin chúng ta sẽ đến yết kiến Hoàng đế nước Nga, những mạch nguồn cảm xúc sâu kín trong lòng nhà thơ bỗng vỡ òa, và anh ta tuôn ra một tràng những lời nhảm nhí không tài nào tả xiết suốt bốn mươi tư tiếng đồng hồ. Nỗi lo ban đầu của chúng tôi về việc phải làm gì với bản thân bỗng chốc biến thành nỗi lo phải làm gì với nhà thơ. Cuối cùng thì bài toán ấy cũng có lời giải. Anh ta được đưa ra hai sự lựa chọn—hoặc phải thề một lời thề độc rằng sẽ không xuất bản dù chỉ một dòng thơ nào khi còn đặt chân trên lãnh thổ của Sa hoàng, hoặc sẽ bị giam lỏng trên tàu cho đến khi chúng ta cập bến Constantinople an toàn. Anh ta đấu tranh tư tưởng suốt một hồi lâu rồi cũng phải khuất phục. Quả là một sự giải thoát vĩ đại. Có lẽ những độc giả bạo gan sẽ muốn thưởng thức một đoạn thơ mang phong cách của anh ta. Tôi không có ý dùng từ "bạo gan" theo nghĩa xúc phạm đâu. Tôi chỉ dùng nó bởi vì cụm từ “bạn đọc thân mến” đã bị lạm dụng quá nhiều đến mức bất kỳ sự thay đổi nào cũng mang lại cảm giác mới mẻ:
“Cầu Chúa cứu rỗi và thánh hóa chúng con, để rồi sau đó,
Hãy ban cho chúng con những lương thực dồi dào
Trong suốt hành trình hướng về Jerusalem.
Bởi người tính không bằng trời tính,
Đó là chân lý ngàn đời
Và thời gian chẳng chờ đợi ai, cũng chẳng chờ chúng ta đâu."
Biển động dữ dội suốt cả ngày hôm nay. Dù vậy, chúng tôi vẫn có những khoảng thời gian vô cùng náo nhiệt. Khách khứa cứ tấp nập ghé thăm. Ngài Toàn quyền đã đến, và chúng tôi chào đón ông bằng loạt đại bác chín phát. Ông dẫn theo cả gia đình. Tôi để ý thấy người ta đã trải thảm từ đầu cầu tàu dẫn thẳng tới tận xe để ông bước lên, mặc dù tôi từng thấy ông đi bộ trên đoạn đường ấy mà chẳng cần tấm thảm nào khi đi việc công. Tôi cứ nghĩ có lẽ ngài đang mang đôi giày được đánh bóng kỹ lưỡng theo cái cách mà các hãng bảo hiểm tai nạn gọi là “loại rủi ro đặc biệt” (một trò đùa về từ “chính sách” bảo hiểm, nhưng chất lượng thì chỉ ở mức trung bình), nên mới muốn bảo vệ nó, nhưng khi quan sát kỹ thì tôi chẳng thấy chúng bóng bẩy hơn bình thường là mấy. Hoặc cũng có thể trước đó ông quên mang thảm, nhưng dù sao thì lần này ông đã có nó đi kèm. Ông là một cụ ông vô cùng dễ mến; tất cả chúng tôi đều quý mến ông, nhất là Blucher. Lúc ra về, Blucher còn hào phóng mời ông dịp sau nhớ ghé lại và mang theo cả tấm thảm của mình.
Thân vương Dolgorouki cùng vài vị Đại đô đốc mà chúng tôi từng gặp trong buổi tiếp kiến hôm qua cũng lên tàu thăm viếng. Lúc đầu, tôi có hơi giữ khoảng cách với những nhân vật này, bởi khi đã đi yết kiến Hoàng đế về thì tôi không thích tỏ ra quá thân mật với những kẻ mà mình chỉ nghe danh qua lời đồn, lại chẳng thể nắm rõ về tư cách đạo đức cũng như địa vị xã hội của họ. Tôi tự nhủ tốt hơn hết là nên kiêu kỳ một chút ở khúc đầu. Tôi thầm nghĩ: Vương tử, Bá tước với Đại đô đốc thì cũng oai đấy, nhưng họ không phải là Hoàng đế, và người ta không thể dễ dãi trong việc chọn bạn mà chơi được.
Nam tước Wrangel cũng tới. Ông từng là Đại sứ Nga tại Washington. Tôi bèn kể với ông rằng tôi có một ông chú từng rơi xuống giếng thang máy và bị đứt làm đôi, cách đó tròn một năm trời. Đó là một lời nói dối, nhưng ngặt nỗi tôi đời nào chịu để ai lấn lướt mình về khoản phiêu lưu kỳ thú chỉ vì thiếu chút trí tưởng tượng. Nam tước là một quý ông lịch thiệp, và nghe nói rất được Hoàng đế tin tưởng cũng như trọng dụng.
Nam tước Ungern-Sternberg, một vị quý tộc già bộc trực và phóng khoáng, cũng đến cùng đoàn. Ông là một con người của thời đại tiến bộ và dám nghĩ dám làm—một gương mặt tiêu biểu của thời đại mới. Ông là Tổng giám đốc hệ thống đường sắt của nước Nga—có thể coi là một thứ "vua tàu hỏa". Trong lĩnh vực của mình, ông đang thúc đẩy mọi thứ ở đất nước này chuyển động không ngừng. Ông từng đi du lịch rất nhiều nơi ở Mỹ. Ông cho biết mình đã thử áp dụng lao động khổ sai trên các tuyến đường sắt của mình, và gặt hái thành công mỹ mãn. Ông bảo những kẻ tù tội làm việc rất năng nổ, lại vô cùng ngoan ngoãn, hòa bình. Ông còn khoe rằng hiện tại mình đang sử dụng gần vạn lao động kiểu ấy.
Chuyện này có vẻ lại là một thử thách nữa cho khả năng chém gió của tôi. Và tôi đã đáp ứng xuất sắc tình huống ấy. Tôi tuyên bố rằng ở Mỹ chúng tôi đang sử dụng tới tám mươi ngàn phạm nhân làm việc trên các tuyến đường sắt—tất cả đều đang mang án tử hình vì tội giết người cấp độ một. Câu trả lời đó đã chính thức hạ đo ván ông ta.
Chúng tôi còn được đón tiếp Tướng Todtleben (vị anh hùng phòng thủ Sevastopol trong suốt cuộc vây hãm), cùng nhiều sĩ quan lục quân lẫn hải quân cấp dưới, cùng đông đảo các quý cô quý ông Nga không mang chức sắc. Đương nhiên là một bữa tiệc rượu sâm-panh nhẹ đã được dọn ra, và nó diễn ra suôn sẻ không có thương vong nào về người. Những lời chúc tụng và trò đùa được tung hứng thoải mái, chẳng có bài phát biểu nào ngoài lời cảm ơn gửi tới Hoàng đế và Đại công tước thông qua ngài Toàn quyền vì sự tiếp đón nồng hậu, và lời đáp từ của ngài Toàn quyền gửi lời cảm ơn ngược lại của Hoàng đế, v.v., v.v.