Em đã quen làm người giữ những tâm sự sâu kín nhất trong lòng anh từ lâu, đến nỗi em không thể nào chấm dứt một sự giao tình đầy dễ chịu nhường ấy. Trong những sự kiện trọng đại nhất của cuộc đời, em luôn khao khát được bày tỏ cõi lòng mình với anh. Hỡi người bạn dấu yêu của em, hãy mở rộng tâm hồn anh để đón nhận những gì em thổ lộ; hãy ghi khắc vào tâm trí những lời trò chuyện dài lâu của tình bạn, dẫu đôi khi nó khiến người nói trở nên dài dòng, nhưng luôn mang lại sự kiên nhẫn cho người lắng nghe đầy thân ái.
Bị ràng buộc bởi vận mệnh của một người chồng, hay đúng hơn là bởi ý muốn của một bậc sinh thành thông qua một mối dây không thể tháo gỡ, em bước vào một giai đoạn sống mới mà chỉ cái chết mới có thể chấm dứt: chúng ta hãy hướng mắt về quãng đời mà em vừa từ giã trong chốc lát; hồi tưởng về những ngày tháng cũ không thể nào mang lại nỗi đau đớn cho chúng ta. Có lẽ nó sẽ đem lại cho em một vài bài học, dạy em cách tận dụng quãng thời gian sắp tới một cách đúng đắn; có lẽ nó sẽ thắp lên một vài ánh sáng giúp giải thích những chi tiết trong cách cư xử của em, vốn từng luôn có vẻ đầy bí ẩn trong mắt anh. Ít nhất, bằng cách suy ngẫm về mối quan hệ giữa chúng ta gần đây, trái tim đôi bên sẽ trở nên nhạy cảm hơn trước những bổn phận tương hỗ mà chỉ cái chết mới có thể giải phóng chúng ta.
Đã gần sáu năm kể từ lần đầu tiên em gặp anh. Anh khi ấy còn trẻ, thanh nhã và dễ mến. Em từng thấy những người khác tuấn tú hơn và thu hút hơn; nhưng chưa từng có ai khơi gợi dù chỉ là một gợn sóng nhỏ trong lòng em, và trái tim em đã đầu hàng trước anh ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên. Em tưởng chừng như mình nhìn thấy trên gương mặt anh những nét phác thảo của một tâm hồn như là bản sao của chính em. Em nghĩ rằng các giác quan của mình chỉ đóng vai trò là cơ quan cho những tình cảm tinh tế hơn; và em yêu ở anh không hẳn là những gì em nhìn thấy, mà là những gì em tưởng tượng mình cảm nhận được tận sâu thẳm bên trong. Chưa đầy hai tháng trước, em vẫn tự huyễn hoặc rằng mình không hề lầm lẫn: Tình yêu mù quáng, em tự nhủ, đã đúng; chúng ta sinh ra là dành cho nhau, nếu như những biến cố của con người không xen vào cản trở sự hòa hợp tự nhiên ấy; và nếu chúng ta được phép tận hưởng hạnh phúc trong cõi đời này, chúng ta chắc chắn sẽ sống bên nhau trọn vẹn niềm vui.
Những tình cảm ấy là sự đáp đền qua lại; em hẳn đã bị lơ đễnh nếu chỉ giữ chúng một mình. Tình yêu em cảm nhận không thể xuất phát từ đâu khác ngoài sự tương hợp và hòa điệu từ tâm hồn đôi bên. Chúng ta chẳng bao giờ yêu, trừ khi chúng ta được yêu; ít ra thì niềm đam mê ấy cũng chẳng kéo dài lâu. Những tình cảm không nhận lại sự hồi đáp, vốn được cho là nguồn gốc khiến bao kẻ đau khổ, kỳ thực chỉ bắt nguồn từ dục vọng xác thịt; nếu chúng có bao giờ chạm đến trái tim, thì đó cũng chỉ nhờ vào một sự tương đồng giả tạo nào đó, để rồi sự lầm tưởng ấy nhanh chóng bị vạch trần. Tình yêu xác thịt không thể tồn tại nếu thiếu đi sự chiếm đoạt, và sẽ lụi tàn theo nó; trong khi thứ tình cảm cao cả hơn không thể thỏa mãn nếu không chiếm lấy trái tim, và nó bền vững chẳng kém gì thứ quy luật tương tự đã sinh ra nó. Tình yêu của chúng ta từ thuở ban đầu vốn là thế; và em hy vọng nó sẽ mãi mãi như vậy cho đến tận cuối đời. Em đã nhận ra, đã cảm thấy rằng mình được yêu thương, và rằng em xứng đáng với tình cảm của anh. Môi em ngậm ngùi, ánh mắt em kìm nén; nhưng trái tim em đã tự giãi bày: chẳng mấy chốc chúng ta đã trải nghiệm thứ ngôn ngữ chẳng tên nào biến sự im lặng thành hùng biện, trao giọng nói cho ánh mắt cúi gầm, tạo nên một nỗi thẹn thùng dạn dĩ bộc lộ sự cuồng nhiệt của khát vọng qua tấm màn rụt rè, và truyền tải những ý nghĩ mà bản thân không dám thốt thành lời.
Em đã nhận thức rõ tình cảnh của trái tim mình và tự xem như đã tiêu đời ngay từ câu nói đầu tiên của anh. Em thấu hiểu sự dè dặt đã tiêu tốn của anh biết bao tâm can. Em tán thành khoảng cách mà anh giữ gìn và càng thêm thán phục anh; em đã cố gắng bù đắp cho sự im lặng đầy cần thiết và đau đớn ấy mà không làm tổn hại đến sự trong trắng của mình; em đã ép buộc bản thân trái với bản tính tự nhiên; em đã bắt chước người em họ của mình; em trở nên lanh lợi và hoạt bát như cô ấy, nhằm tránh những lời giải thích quá đỗi nghiêm túc, đồng thời đắm chìm trong muôn vàn cử chỉ vuốt ve dịu dàng dưới lớp vỏ bọc tinh nghịch giả tạo đó. Em đã nhọc công tìm cách làm cho tình cảnh của anh trở nên dễ chịu, để rồi nỗi sợ hãi về một sự thay đổi lại càng làm tăng thêm sự dè dặt ở anh. Kế sách ấy cuối cùng lại hại chính em: chúng ta thường phải gánh chịu hậu quả khi mang một lớp mặt nạ không thuộc về mình. Thật là ngốc nghếch làm sao! Thay vì ngăn chặn, em lại đẩy nhanh sự sụp đổ của chính mình; em dùng thứ thuốc độc như một liều thuốc xoa dịu tạm thời, và điều đáng lẽ phải khiến anh giữ lấy sự im lặng thì nay lại trở thành cơ hội cám dỗ anh bày tỏ lòng mình. Mọi cố gắng của em nhằm giữ anh ở khoảng cách xa trong những buổi gặp riêng tư thông qua vẻ dửng dưng giả tạo đều trở thành công cốc; chính sự gượng gạo ấy đã bán đứng em: anh đã viết thư. Thay vì ném bức thư đầu tiên ấy vào lò sưởi hoặc trao nó cho mẹ em, em lại cả gan bóc ra. Đó chính là tội lỗi nguyên thủy của em, và tất cả mọi chuyện sau đó chỉ là hệ quả tất yếu của lỗi lầm đầu tiên ấy. Em đã cố gắng tránh né việc đáp lại những bức thư định mệnh mà bản thân không sao kiềm chế được việc đọc chúng. Cuộc đấu tranh dữ dội ấy đã tổn hại đến sức khỏe của em. Em nhìn thấy vực thẳm mà mình sắp sửa lao đầu xuống. Em nhìn chính mình với nỗi kinh hoàng, nhưng lại chẳng thể quyết định nổi việc phải chịu đựng sự vắng bóng của anh. Em rơi vào một trạng thái tuyệt vọng tựa hồ như cùng đường; thà rằng anh cạn kiệt sinh khí còn hơn là không sống vì em: em thậm chí đã đi xa đến mức ước ao và mong mỏi cái chết đến với anh. Trời cao thấu hiểu lòng em; những dằn vặt ấy có lẽ phần nào chuộc lại được dăm ba lầm lỗi.
Nhận thấy anh sẵn sàng vâng lời tuyệt đối, em đã hạ quyết tâm lên tiếng. Chaillot từng đưa cho em một vài chỉ dẫn, khiến em càng thêm thấm thía hiểm họa của việc thú nhận mối tình này. Thế nhưng tình yêu, thứ đã ép buộc lời thú tội ấy cất lên, đồng thời cũng dạy em cách né tránh hệ quả của nó. Anh là chốn nương thân cuối cùng của em; em đặt trọn vẹn niềm tin nơi anh đến mức tự tay trao cho anh vũ khí chống lại sự yếu mềm của chính mình; sự kính trọng của em đối với sự chính trực của anh lớn đến nỗi em tin chắc anh sẽ bảo vệ em khỏi chính bản thân mình, và em đã không hề đánh giá sai về anh. Khi nhận ra sự trân trọng mà anh dành cho một sự ủy thác quý giá nhường ấy, em hiểu rằng niềm đam mê đã không làm lờ mờ nhận định của em về những đức tính mà em vẫn tưởng anh hội đủ. Em buông xuôi bản thân với sự an tâm lớn lao hơn, bởi em hằng tưởng rằng cả hai chúng ta sẽ đều thỏa mãn với một thứ tình cảm thuần túy lãng mạn. Khi nhận ra tận đáy lòng mình chẳng có gì ngoài những tâm tình cao quý, em đã tận hưởng không chút dè dặt những nét quyến rũ của một sự gắn bó ngọt ngào đến thế. Hỡi ôi! Em đã chẳng hề nhận ra rằng chứng bệnh tâm hồn của mình đã trở nên trầm trọng do sự lơ đễnh, và thói quen ấy còn nguy hiểm gấp bội so với tình yêu. Bị xúc động sâu sắc bởi sự dè dặt của anh, em tưởng rằng mình có thể thả lỏng sự phòng thủ mà chẳng gặp rủi ro gì; trong sự ngây thơ của những khát vọng, em hy vọng sẽ dìu dắt anh lên đến đỉnh cao của đức hạnh thông qua những vuốt ve dịu dàng của tình bạn. Thế nhưng khu lùm cây ở Clarens chẳng mấy chốc đã chứng minh cho em thấy rằng bản thân đã quá tin người, và chúng ta không được phép nhượng bộ dù chỉ một chút cho các giác quan ở những nơi sự prudery cấm đoán việc thỏa mãn chúng trọn vẹn. Chỉ một khoảnh khắc, một khoảnh khắc duy nhất, đã thiêu đốt em bằng một khát vọng chẳng gì dập tắt nổi; và dẫu ý chí của em vẫn còn kháng cự, thì trái tim em kể từ giây phút ấy đã hoen ố.
Anh đã cùng chia sẻ sự cuồng loạn ấy với em; bức thư của anh khiến em run rẩy. Hiểm họa nhân đôi: để bảo vệ em khỏi anh và khỏi chính bản thân mình, cách duy nhất là phải đày ải anh đi. Đó là nỗ lực cuối cùng của một đức hạnh đang lụi tàn; thế nhưng chính bằng sự bỏ đi của mình, anh lại nắm chắc phần thắng, và khi em không còn được nhìn thấy anh nữa, nỗi não nề do sự vắng mặt ấy mang lại đã tước đi chút sức lực ít ỏi còn sót lại để em chống cự lại anh.
Khi cha em từ giã quân ngũ, ông đã đưa M. Wolmar về nhà cùng. Sinh mạng mà ông nợ người bạn ấy, cùng tình thâm giao suốt hai mươi năm, đã khiến vị bằng hữu này trở nên quan trọng đến mức ông chẳng thể nào rời xa. M. Wolmar lúc ấy đã có tuổi, và dù xuất thân cao quý, ông vẫn chưa từng gặp người phụ nữ nào chạm đến trái tim mình. Cha em đã nhắc đến em với ông như với một người mà ông hứa hẹn muốn nhận làm con rể: ông rất muốn được nhìn thấy em, và chính vì mục đích ấy mà họ đã cùng nhau đến đây. Định mệnh đã đưa đẩy em lọt vào mắt xanh của một người vốn chưa từng dễ dàng xao xuyến trước bất kỳ bóng hồng nào trước đó. Họ đã đi đến những thỏa thuận bí mật, và M. Wolmar – người có một số công chuyện cần giải quyết tại một trong các triều đình phương bắc, nơi gia tộc và gia sản của ông đang tọa lạc – đã xin hoãn lại và cáo từ sau một lời hứa hẹn đôi bên. Sau khi ông đi, cha em thông báo cho mẹ em và em biết rằng ông đã định đoạt gả em cho vị ấy; ông ra lệnh cho em với một giọng điệu dập tắt mọi ý định cãi lại của sự rụt rè trong em, bảo em hãy chuẩn bị tinh thần để đón nhận bàn tay ông. Mẹ em, người nhận ra quá rõ những khuynh hướng trong lòng con gái và có sẵn thiện cảm với anh, đã nhiều lần tìm cách lay chuyển quyết định của cha; bà không dám trực tiếp đề cập đến anh, nhưng lại nhắc về anh bằng những lời lẽ với hy vọng khiến cha phải kính trọng anh và muốn làm quen với anh; thế nhưng địa vị xã hội của anh đã khiến cha làm ngơ trước mọi tài đức mà anh sở hữu; và dẫu ông thừa nhận rằng dòng dõi cao sang không thể tự thay thế cho những phẩm chất ấy, ông vẫn đinh ninh rằng chỉ có xuất thân mới làm nên giá trị cho chúng.
Sự bất khả thi để có được hạnh phúc đã thổi bùng ngọn lửa vốn dĩ nên bị dập tắt từ lâu. Một ảo tưởng ngọt ngào từng nâng đỡ em qua mọi giông bão; khi nó tan biến, em chẳng còn chút sức lực nào để chống cự lại nữa. Khi em còn chút hy vọng nhỏ nhoi nào đó được làm người của anh, em còn có thể chiến thắng những khao khát của chính mình; thà rằng dành trọn cuộc đời để chống cự còn dễ chịu hơn là phải từ bỏ anh mãi mãi; và chính ý tưởng về một sự cản trở vĩnh viễn đã tước đi ở em sự kiên định để chế ngự niềm đam mê.
Nỗi buồn và tình yêu gặm nhấm tâm can em; em rơi vào một trạng thái chán chường mà anh có thể nhận ra qua những lá thư của em: những bức thư anh viết từ Meillerie gửi về đã giáng đòn chí mạng vào nỗi đau của em; chồng chất lên nỗi khổ của riêng em là sự cảm nhận về nỗi tuyệt vọng của anh. Hỡi ôi! Tâm hồn yếu đuối nhất muôn đời vẫn được định sẵn phải gánh lấy nỗi truân chuyên của cả hai. Kế hoạch mà anh cả gan đề xuất với em đã giáng một đòn quyết định vào sự bối rối của em. Khổ đau dường như là định mệnh không thể tránh khỏi trong đời em, và lựa chọn bất đắc dĩ duy nhất còn lại là giáng thêm nỗi đau ấy lên cha mẹ em hoặc sự bất hạnh của anh. Em không thể chịu đựng nổi nghịch cảnh khủng khiếp ấy; sức mạnh của tự nhiên vốn có giới hạn của nó; những chấn động dữ dội dường như bóp nghẹt sức lực của em. Em chỉ ước được giải thoát khỏi cuộc đời này. Trời cao dường như rủ lòng thương xót; thế nhưng cái chết tàn nhẫn lại tha mạng cho em để rồi hủy diệt em. Em đã gặp anh, em hồi phục, và em tiêu đời.
Nếu những lầm lỗi không mang lại cho em hạnh phúc, thì em cũng chẳng lấy làm bất ngờ: em chưa bao giờ xem chúng là phương tiện để mua lấy niềm vui. Em nhận ra rằng trái tim mình được tạo ra vì đức hạnh, thiếu nó em sẽ chẳng bao giờ được hạnh phúc; em gục ngã vì yếu đuối, chứ không phải vì lầm đường lạc lối; em thậm chí chẳng có sự mù quáng nào để biện hộ cho sự sa ngã của mình, bởi em đã bị tước đoạt mọi niềm hy vọng; việc em không thể trở thành một kẻ bất hạnh là điều hiển nhiên. Sự trong trắng và tình yêu đều là những yếu tố tối quan trọng cho sự bình yên của em: vì không thể bảo toàn cả hai, và lại chứng kiến sự cuồng loạn của anh, em chỉ màng đến lợi ích của anh trong sự lựa chọn ấy, và để cứu anh, em đã tự hủy họi chính mình.
Thế nhưng việc ruồng bỏ đức hạnh nào có dễ dàng như người ta vẫn tưởng. Nàng vẫn kiên trì dằn vặt những kẻ ruồng rẫy mình trong một khoảng thời gian, và vẻ quyến rũ của nàng – vốn là niềm vui của những tâm hồn thanh cao – lại trở thành hình phạt chính yếu giáng lên những kẻ đồi bại, những kẻ bị kết án phải yêu mến nàng khi chẳng còn có thể tận hưởng nàng nữa. Mang tội lỗi nhưng chưa đến nỗi hoang đày, em không thể trốn chạy khỏi sự cắn rứt cứ bám riết lấy mình; danh dự vẫn vô cùng trân quý đối với em, ngay cả khi nó đã mất đi; dẫu sự hổ thẹn của em là bí mật, nó chẳng vì thế mà bớt phần đau đớn; và dẫu toàn thế giới có chứng kiến đi chăng nữa, em cũng chẳng thể cảm thấy tổn thương sâu sắc hơn thế. Em tự an ủi nỗi đau của mình giống như một kẻ mang vết thương lòng đang nơm nớp sợ hãi chứng hoại tử; và chính nhờ cảm giác đau đớn ấy mà được tiếp thêm can đảm để không tuyệt vọng về một sự chữa lành.
Tuy nhiên, trạng thái nhục nhã ấy thật không tài nào chịu nổi. Bằng cách cố gắng kìm nén lời quở trách của tội lỗi mà không từ bỏ tội ác, em đã trải qua cảm giác mà mọi tâm hồn lương thiện đều phải chịu đựng khi họ đi lạc lối và lại đem lòng si mê sự lầm lạc ấy. Một ảo ảnh mới lại đến trợ giúp làm dịu đi vị cay đắng của sự ăn năn; em tự huyễn hoặc rằng sự sa ngã của mình sẽ mang lại cho em phương tiện để sửa chữa những hành động thiếu suy nghĩ, và em đã cả gan ấp ủ dự định ép buộc cha phải se duyên chúng ta. Em đặt niềm tin vào giọt máu đầu tiên của tình yêu để khép lại sự kết hợp ngọt ngào này. Em cầu xin trời cao ban cho một mầm sống như minh chứng cho sự quay trở về với đức hạnh và hạnh phúc lứa đôi: em khao khát nó với tất cả sự thiết tha ngang ngửa với nỗi sợ hãi của bất kỳ ai ở hoàn cảnh của em. Sự dịu dàng của tình yêu, bằng ảo ảnh ngọt ngào của nó, đã xoa dịu những tiếng thở than trong lương tâm em; những kết quả mà em hằng hy vọng sẽ gặt hái từ sự sa ngã của mình đã tiếp thêm cho em niềm an ủi, và sự kỳ vọng êm đềm ấy chính là tất cả niềm hy vọng lẫn sự an ủi trong cuộc đời em.
Bất cứ khi nào em phát hiện ra những triệu chứng rõ rệt của việc mang thai, em đã quyết định sẽ công khai tình trạng của mình trước ông Perret, dưới sự chứng kiến của toàn thể gia đình. Em vốn nhút nhát, đó là sự thật; em thừa biết một lời tuyên bố như thế sẽ bắt em trả giá đắt nhường nào, thế nhưng chính danh dự đã truyền cho em lòng can đảm, và em thà gánh chịu trọn vẹn sự bẽ bàng mà mình đáng phải nhận còn hơn là nuôi dưỡng nỗi ô nhục vĩnh viễn tận đáy tâm hồn. Em biết rõ cha hoặc sẽ ban cho em cái chết hoặc sẽ gả em cho người mình yêu; sự lựa chọn thay thế này chẳng có gì đáng sợ đối với nhận thức của em, và dù kết cục có ra sao đi nữa, em vẫn đinh ninh rằng bước đi này sẽ đặt dấu chấm hết cho mọi đau khổ của mình.
Hỡi người bạn dấu yêu, đó chính là điều bí mật mà em đã che giấu anh, và cũng là thứ mà anh đã nhọc công tìm cách thấu suốt bằng sự tò mò đầy sốt sắng. Hàng ngàn lý do đã đồng lõa khiến em phải giữ sự dè dặt này với một kẻ có tính bốc đồng như anh, chưa kể đến việc sẽ thật thiếu khôn ngoan nếu cung cấp cho anh thêm một cái cớ để thúc bách những yêu cầu bất cẩn và phiền nhiễu của anh. Trên hết mọi sự, việc đưa anh đi trong một hoàn cảnh nguy hiểm như thế là điều vô cùng cấp thiết, và em hiểu rất rõ rằng anh sẽ chẳng đời nào chịu bỏ mặc em trong cơn bĩ cực ấy nếu như anh biết được hiểm nguy của em.
Hỡi ôi! Em lại một lần nữa bị đánh lừa bởi một kỳ vọng hão huyền đến thế. Trời cao đã từ chối phò trợ cho những mưu tính được cưu mang trong tội lỗi. Em không xứng đáng với vinh dự được làm mẹ; kế hoạch của em đã chết yểu, và em thậm chí còn bị tước đoạt cả cơ hội chuộc lại lỗi lầm bằng chính danh dự của mình. Bị tước đoạt hy vọng, buổi hẹn hò vô nguyên tắc từng đẩy sinh mạng anh vào tình thế hiểm nghèo lại là một sự liều lĩnh được khoác lên lớp vỏ bọc dịu dàng bởi tình yêu đắm đuối của em; em tự trút hết thất bại của những mong ước lên đầu mình, và trái tim bị dẫn dắt bởi ham muốn lại tự huyễn hoặc rằng sự nôn nóng muốn thỏa mãn chúng hoàn toàn xuất phát từ nỗi lo lắng làm sao để hợp pháp hóa chúng mai sau.
Có lúc em từng tưởng những ước nguyện của mình đã thành hiện thực: sự lầm tưởng ấy chính là nguồn cơn của nỗi đau đớn cay đắng nhất đời em, và sau khi tự nhiên chấp thuận lời cầu xin của tình yêu, cú giáng của định mệnh lại ập đến với một sự tàn nhẫn nhân lên gấp bội. Anh thừa biết tai họa đã phá hủy những hy vọng cuối cùng của em cùng với giọt máu tình yêu ấy. Biểu hiện khốn cùng đó xảy ra trong lúc đôi ta chia cắt, tựa hồ như trời cao lúc bấy giờ đang muốn đè bẹp em dưới mọi tội lỗi mà em đáng phải chịu, đồng thời cắt đứt ngay lập tức mọi mối liên kết có thể góp phần gắn kết chúng ta.
Sự ra đi của anh đã đặt dấu chấm hết cho ảo ảnh lẫn niềm vui của em; em đã khám phá ra, nhưng quá ư muộn màng, những thứ ảo tưởng đã lừa gạt mình. Em nhận ra rằng bản thân đã rơi vào một trạng thái thực sự đáng khinh, và cảm thấy mình hoàn toàn khốn khổ; đó là hệ quả tất yếu của một tình yêu không có sự trong trắng, cùng những khát vọng vô vọng chẳng bao giờ dập tắt nổi. Bị tra tấn bởi ngàn nỗi buồn vô ích, em kìm nén những suy ngẫm vốn vừa đau đớn vừa vô bổ; em không còn coi trọng bản thân nữa và hiến dâng cuộc đời mình cho chốn cô độc vì anh: em chẳng có danh dự nào ngoài danh dự của anh, chẳng có hy vọng nào ngoài hạnh phúc của anh, và chỉ những tâm tình mà anh truyền tải mới có đủ sức lay động em.
Tình yêu không làm em mù quáng trước những khuyết điểm của anh, nhưng nó khiến những khuyết điểm ấy trở nên thân thương; và sự u mê của nó mạnh mẽ đến mức, giả sử anh là một người hoàn hảo hơn, em đã yêu anh ít hơn. Em không hề xa lạ với trái tim và sự bốc đồng của anh. Em hiểu rõ rằng với lòng can đảm lớn hơn em, anh lại có ít sự kiên nhẫn hơn, và những nỗi đau đớn đè nặng cõi lòng em sẽ đẩy tâm hồn anh đến bờ vực tuyệt vọng. Chính vì lý do này mà em luôn cẩn trọng giấu kín lời hứa của cha khỏi anh, và trong lúc chia tay, tận dụng sự nhiệt thành của Lord B—— vì lợi ích của anh, với mong muốn khiến anh quan tâm hơn đến phúc lợi của chính mình, em đã vỗ về anh bằng một niềm hy vọng mà bản thân em không hề mảy may ôm ấp. Hơn thế nữa; khi hay tin hiểm họa đang đe dọa chúng ta, em đã thực hiện biện pháp phòng ngừa duy nhất cho sự an toàn của đôi bên, và thông qua một cam kết trang trọng nhằm biến anh – trong mức độ tối đa có thể – thành kẻ nắm giữ ý chí của mình, em hy vọng sẽ truyền cho anh sự tự tin và cho chính mình sự kiên định, thông qua một lời hứa mà chưa bao giờ em dám vi phạm, thứ có thể đảm bảo sự bình yên trong tâm trí anh. Em thừa nhận đó là một sự ràng buộc thừa thãi, dẫu vậy em sẽ chẳng bao giờ phá vỡ nó. Đức hạnh mang tính thiết yếu đối với tâm hồn chúng ta đến mức, một khi đã ruồng bỏ thứ chân chính, ta sẽ lập tức nhào nặn ra một thứ khác phỏng theo nguyên mẫu ấy, và ta càng gắn chặt hơn vào vật thay thế này, có lẽ vì đó là sự lựa chọn của chính ta.
Em chẳng cần phải kể cho anh nghe sự xáo trộn tâm can mà em đã trải qua sau khi anh rời đi. Nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của em chính là nỗi kinh hoàng bị ruồng bỏ. Nơi chốn anh sinh sống khiến em run rẩy. Cách sinh hoạt của anh làm tăng thêm nỗi khiếp đảm. Em tưởng như đã nhìn thấy anh suy đồi thành một kẻ chuyên luồn lách chốn tình trường. Một sự ô nhục kiểu ấy chạm đến em sâu sắc hơn mọi nỗi đau khổ; thà nhìn thấy anh khốn cùng còn hơn là đáng khinh; sau ngần ấy giông bão mà em đã quen chịu đựng, sự nhục nhã của anh là điều duy nhất em không thể gượng nổi.
Những lo âu của em – thứ được củng cố bởi văn phong trong thư anh – chẳng mấy chốc đã được gột bỏ; và điều đó đến từ một cách thức mà nếu rơi vào người khác chắc chắn sẽ khiến họ hoàn toàn bất an. Ý em muốn nói đến lối sống buông thả mà anh bị dụ dỗ sa vào, và lời thú nhận thẳng thắn, sẵn sàng của anh về điều ấy lại là bằng chứng khiến em xúc động sâu sắc nhất trong số mọi minh chứng về sự chân thành. Em hiểu anh quá rõ để không biết lời thú nhận ấy đã phải đánh đổi bằng gì, ngay cả khi em không còn được anh yêu quý nữa. Em nhận ra rằng chỉ có tình yêu mới chiến thắng được nỗi hổ thẹn và ép buộc nó thốt ra từ anh. Em kết luận rằng một trái tim chân thành như thế không thể nào mang giấu sự phản bội; em nhìn thấy tội lỗi trong lầm lỗi của anh ít hơn là sự cao quý trong lời thú nhận; và khi nhớ lại những cam kết thuở trước, em đã hoàn toàn khỏi hẳn cơn ghen tuông.
Hỡi người bạn quý của em, sự bình phục ấy không làm tăng thêm hạnh phúc của em; cứ mỗi một nỗi dằn vặt vợi đi, hàng ngàn nỗi đau khác lại trỗi dậy không dứt, và chưa bao giờ em thấm thía sự dại dột của việc tìm kiếm sự bình yên trong một tâm hồn bất ổn – thứ mà chẳng gì có thể ban phát ngoài sự khôn ngoan. Từ lâu em đã ngấm ngầm thương khóc cho người mẹ hiền yêu quý, người cứ héo mòn dần vì một căn bệnh hiểm nghèo. Bab – kẻ mà hậu quả tai hại từ thói hư tật xấu buộc em phải chọn làm người giữ bí mật – đã phản bội em, vạch trần tình yêu đôi bên cùng sự sa ngã của em trước mặt mẹ. Em vừa nhận được những bức thư từ người em họ thì chúng đã bị tịch thu. Những bằng chứng quá đỗi thuyết phục; nỗi đau buồn đã tước đi sức lực ít ỏi còn sót lại trong cơ thể bệnh tật của bà. Em tưởng mình đã chết ngất dưới chân mẹ trong sự cắn rứt khôn nguôi. Thế nhưng thay vì phó mặc em cho cái chết mà em đáng phải nhận, bà lại che giấu nỗi nhục nhã của em và chỉ biết âm thầm than khóc cho sự ngã ngựa ấy. Ngay cả anh – kẻ đã vô ơn lạm dụng sự tử tế của bà – cũng không bị bà căm ghét. Em đã là nhân chứng cho tác động mà bức thư của anh tạo ra trên tâm hồn dịu dàng và đầy ắp tình thương của mẹ. Hỡi ôi! Bà hằng mong cầu hạnh phúc cho anh và cho em. Bà đã thử nhiều hơn một lần——nhưng cớ sao em phải gợi lại một niềm hy vọng giờ đây đã tắt lịm mãi mãi? Trời cao đã an bài khác đi. Bà khép lại những ngày tháng ảm đạm với tâm tư đau đớn vì không thể lay chuyển nổi một người chồng cố chấp, và vì để lại sau lưng một đứa con gái chẳng mảy xứng đáng với một đấng sinh thành vĩ đại nhường ấy.
Bị đè nặng bởi một mất mát quá đỗi thô bạo, tâm hồn em chẳng còn chút sức mạnh nào ngoài những gì tiếp nhận từ ấn tượng đó; tiếng nói của tự nhiên cất lên những tiếng gầm gừ bóp nghẹt mọi âm thanh của tình yêu. Em nhìn kẻ gây ra bao truân chuyên cho mình bằng một thứ nỗi kinh hoàng. Em cố gắng bóp nghẹt thứ đam mê đáng nguyền rủa từng đẩy chúng đến với mình, và thề từ bỏ anh vĩnh viễn. Chắc chắn đó là điều em nên làm; chẳng lẽ em chưa có đủ lý do để than khóc suốt phần đời còn lại hay sao mà cứ phải liên tục truy tìm những đề tài đau khổ mới? Mọi thứ dường như đều ủng hộ quyết định của em. Nếu sự u sầu làm mềm lòng người, thì nỗi đau đớn tột cùng lại khiến nó chai sạn. Ký ức về người mẹ đang lâm终 đã xóa nhòa hình bóng anh; chúng ta cách biệt nhau; hy vọng đã hoàn toàn bỏ rơi em; người bạn vô song của em chưa bao giờ cao cả hơn thế hay xứng đáng hơn thế để chiếm trọn tâm can em. Đức hạnh, sự kín đáo, tình bạn và những cái ôm ấp dịu dàng của bà dường như đã tẩy rửa nó; em tưởng mình đã quên anh và ngỡ rằng bản thân đã được chữa lành. Nhưng đã quá muộn; thứ mà em lầm tưởng là sự dửng dưng của một tình yêu đã tắt ngấm kỳ thực chỉ là sức nặng của tuyệt vọng.
Giống như một bệnh nhân rơi vào trạng thái suy nhược khi dứt cơn đau, bỗng chốc tỉnh lại trước những cảm giác buốt nhói hơn, em nhanh chóng nhận ra mọi nỗi đau của mình sống lại khi cha thông báo về sự trở về cận kề của ông Wolmar. Tình yêu bất diệt lúc ấy trao cho em một sức mạnh khó tin. Lần đầu tiên trong đời, em dám đối đầu trực diện với cha. Em thẳng thắn tuyên bố rằng mình không bao giờ có thể yêu nổi ông Wolmar; rằng em đã quyết định sống độc thân; rằng ông là chúa tể cuộc đời em chứ không phải tình cảm của em, và chẳng thứ gì có thể khiến em thay đổi ý định. Em chẳng cần phải miêu tả sự cuồng nộ của ông hay sự đối xử mà em buộc phải gánh chịu. Em vẫn kiên định; một khi sự nhút nhát đã bị đánh bại, nó đẩy em sang thái độ cực đoan còn lại, và dẫu giọng điệu của em kém phần hống hách hơn cha, nó vẫn kiên quyết không kém.
Ông nhận ra em đã quyết tâm tột độ và quyền uy của ông chẳng thể lay chuyển nổi em dù chỉ một chút. Trong một phút giây, em tưởng mình đã được giải thoát khỏi sự bức bách của ông. Thế nhưng chuyện gì đã xảy ra, khi đột nhiên em thấy người cha nghiêm khắc nhất bỗng mềm lòng rơi lệ và quỳ sụp dưới chân em? Không để em đứng dậy, ông ôm lấy đầu gối em, dán đôi mắt đẫm lệ vào mắt em và cất lời bằng một giọng nức nở vẫn còn vang vọng bên tai em đến tận bây giờ. Ôi đứa con của ta! Xin hãy dành chút tôn trọng cho mái tóc điểm bạc của người cha bất hạnh; đừng đẩy ta xuống mồ trong đau khổ, theo sau người đã mang nặng đẻ đau con. Ah, con nhẫn tâm muốn giũ bỏ sinh mạng của cả gia đình hay sao?
Hãy hình dung nỗi đau buồn và sự kinh ngạc của em. Tư thế ấy, giọng điệu ấy, cử chỉ ấy, những lời nói ấy, ý niệm kinh hoàng ấy đã áp đảo em đến mức em ngã vật nửa mê nửa tỉnh vào vòng tay ông, và phải mãi đến sau những tiếng nấc nghẹn ngào liên hồi từng bóp nghẹt tiếng nói một thời gian, em mới có thể đáp lại ông bằng một giọng yếu ớt và đứt quãng. Ôi lạy cha! Con từng vững vàng trước những lời đe dọa của cha, nhưng con không đủ sức chống cự lại nước mắt của cha. Cha sẽ ép con gái mình đến chết mất.
Cả hai cha con đều chìm trong sự xáo trộn bạo liệt đến mức phải mất một hồi lâu chúng ta mới có thể bình tĩnh lại. Trong lúc ấy, khi nhớ lại những lời cuối cùng của ông, em kết luận rằng ông nắm rõ chi tiết về hành vi của mình hơn em tưởng, và quyết định quay ngược những thông tin ấy để chống lại ông, em chuẩn bị – dẫu đánh đổi bằng cả sinh mạng – đưa ra lời thú nhận mà mình đã trì hoãn quá lâu, thì ông đột ngột cắt ngang lời em, và tựa như đã đoán trước cũng như khiếp hãi những gì em sắp sửa tuyên bố, ông nói với em những lời này.
“Cha biết con đã nuôi dưỡng những tâm tình bất xứng với một đứa con gái có dòng dõi như con. Đã đến lúc phải hy sinh cho bổn phận và danh dự một mối tình đáng hổ thẹn mà con sẽ chẳng bao giờ được phép thỏa mãn nếu không đánh đổi bằng mạng sống của cha. Hãy lắng nghe xem danh dự của người cha và chính danh dự của con đòi hỏi những gì, rồi tự mình định đoạt.”
“Mẹ đẻ của ông Wolmar vốn mang dòng dõi cao quý, một con người nổi bật với mọi tài năng cần thiết để gìn giữ phẩm giá của mình; một người thụ hưởng sự kính trọng từ công chúng và hoàn toàn xứng đáng với điều đó. Cha nợ ông ấy mạng sống của mình; và con không hề xa lạ với lời hứa hẹn mà cha đã kết giao với ông ấy. Con cần phải hiểu thêm rằng trên đường về nhà để giải quyết cơ ngơi, ông ấy bỗng vướng vào một bước ngoặt bất hạnh: ông ấy đã mất phần lớn gia sản, và việc tự mình thoát khỏi cảnh lưu đày sang Siberia là một may mắn kỳ diệu hiếm có: ông ấy đang quay trở về với đống đổ nát thê thảm của gia tài, dựa trên lời hứa của một người bạn vốn chưa từng thất tín bao giờ. Giờ hãy nói cho cha biết, ta nên đón tiếp ông ấy thế nào khi trở về? Liệu ta có nên nói với ông rằng: Thưa Ngài, tôi từng hứa gả con gái cho ngài khi ngài còn sung túc, nhưng giờ gia sản ngài đã khánh kiệt nên tôi buộc phải rút lại lời hứa, bởi con gái tôi sẽ không đời nào là của ngài? Nếu cha không thốt ra lời từ chối bằng ngần ấy chữ, nó sẽ bị suy diễn theo cách này. Việc viện dẫn sự đính ước từ trước của con sẽ bị coi như một cái cớ, hoặc bị quy kết là một nỗi nhục nhã bổ sung giáng lên ta, và chúng ta sẽ biến thành: con là một đứa con gái hoang đày, còn cha là một kẻ bất lương đã bán rẻ lời hứa và danh dự vì tư lợi tầm thường, lại chồng chất sự vong ân bội nghĩa lên thói bội bạc. Hỡi đứa con yêu dấu của ta, cha đã sống quá lâu để rồi không thể kết thúc một cuộc đời trong sạch bằng nỗi ô nhục, và sáu mươi năm sống trọn vẹn trong danh dự không thể bị đem ra bán rẻ chỉ trong vòng một phần tư giờ đồng hồ.”
“Do đó con có thể thấy,” ông tiếp lời, “mọi sự phản đối mà con đưa ra đều vô lý nhường nào. Hãy tự phán xét xem liệu niềm đam mê bồng bột của tuổi trẻ, liệu những mối tơ duyên bị sự khiêm nhường chối bỏ có thể đặt lên bàn cân so sánh với bổn phận của một người con và danh dự mà một đấng sinh thành phải mang nặng hay không? Giả sử cuộc tranh chấp là để xem ai trong hai chúng ta sẽ phải gả mình làm vật hy sinh cho hạnh phúc của kẻ kia, sự ân cần của ta sẽ thách thức quyền được thực hiện sự hy sinh ấy vì tình cảm; thế nhưng danh dự hỡi con, đang cất tiếng gọi ta, và điều đó luôn định đoạt quyết định của kẻ mang dòng máu mà con thừa hưởng.”
Em không phải không có câu trả lời xác đáng cho những lời quở trách ấy; thế nhưng những thành kiến của cha lại củng cố những nguyên tắc của ông vốn khác biệt một trời một vực với em, khiến những lý lẽ mà em cho là không thể chối cãi lại chẳng có lấy mảy may sức nặng nào đối với ông. Hơn nữa, vì chẳng rõ ông thu lượm những tin tức liên quan đến hành vi của mình từ đâu hay mức độ hiểu biết của ông đi đến đâu; lại thêm nỗi sợ hãi qua sự sốt sắng ngắt lời của ông rằng ông đã tự định đoạt xong xuôi về vấn đề em sắp trình bày, và trên hết, bị kìm hãm bởi một nỗi hổ thẹn chẳng tài nào dập tắt nổi, em thà chọn cách vin vào một cái cớ mà bản thân tưởng rằng sẽ có sức nặng hơn, bởi nó trùng khớp nhiều hơn với lối suy nghĩ kỳ lạ của cha. Thế nên em đã thành thật khai báo về mối đính ước giữa em với anh; em thề rằng mình sẽ không bao giờ phản bội lại lời hứa, và dù hậu quả có ra sao đi nữa, em cũng sẽ không bao giờ kết hôn mà không có sự đồng ý của anh.
Thành thật mà nói, em vô cùng vui mừng khi nhận ra những điều cắn rứt của mình không làm ông phật lòng; ông mắng mỏ em gay gắt vì đã dấn thân vào một mối giao kết như thế, nhưng lại chẳng hề phản đối tính hợp pháp của nó. Những ý tưởng cao cả nhường nào mà một quý ông trọng danh dự tự nhiên nuôi dưỡng đối với chữ tín của những lời hứa, và một lời hứa được ông trân trọng thiêng liêng đến nhường nào! Do đó, thay vì cố gắng tranh cãi về sức nặng của nghĩa vụ mà em nợ anh, ông bắt em viết một mẩu giấy, bọc nó vào trong thư và gửi đi ngay lập tức. Với biết bao xao xuyến, em chờ đợi hồi âm của anh! Biết bao lần em thầm ước anh có thể tỏ ra kém tinh tế hơn mức cần thiết! Thế nhưng dẫu sao đi nữa, em hiểu anh quá rõ để không nghi ngờ sự tuân thủ của anh, và thừa hiểu rằng anh càng cảm thấy sự hy sinh được yêu cầu đau đớn bao nhiêu, anh lại càng sẵn sàng trải qua nó bấy nhiêu. Hồi âm của anh đã đến, nó được giữ kín khỏi em trong suốt thời gian em lâm bệnh; sau khi em bình phục, những nỗi sợ hãi của em được xác thực, và em bị tước đoạt mọi cái cớ để thoái thác. Ít nhất, cha tuyên bố ông sẽ không chấp nhận thêm bất kỳ lời biện minh nào nữa, và biểu cảm khủng khiếp mà ông sử dụng đã tạo cho ông một quyền lực áp đảo tuyệt đối lên ý chí của em, khiến em phải thề sẽ không bao giờ nói bất cứ điều gì với M. Wolmar khiến ông ấy chán ghét việc cưới em; bởi vì, ông nói thêm, điều đó sẽ trông giống như một trò lừa bịp do đôi ta đồng lõa dàn dựng, và dù thế nào đi nữa thì cuộc hôn nhân vẫn phải được tiến hành.
Hỡi người bạn dấu yêu, anh biết rõ thể chất của em – dẫu đủ sức chịu đựng nhọc nhằn hay thời tiết khắc nghiệt – lại chẳng tài nào chống chọi nổi sự bạo liệt của tình cảm, và một sự nhạy cảm quá đỗi tinh vi chính là nguồn cơn của mọi tai hoạ từng đày đọa tâm trí lẫn thể xác em. Dù là do nỗi buồn dai dẳng đã làm vấy bẩn dòng máu của em, hay là do tự nhiên chớp lấy cơ hội ấy để gột rửa những hậu quả tai hại từ quá trình lên men, thì tóm lại, em thấy mình ngã bệnh nặng khi cuộc trò chuyện khép lại. Khi bước ra khỏi phòng cha, em cố gắng viết cho anh vài dòng nhưng nhận ra bản thân quá yếu, đến mức buộc phải lên giường nằm, nơi em thầm mong sẽ chẳng bao giờ gượng dậy nữa. Anh quá rành rẽ những chuyện phần sau. Sự bất cẩn của em đã dẫn dắt anh đến chỗ thiếu khôn ngoan. Anh đã đến, em nhìn thấy anh, và ngỡ rằng mình chỉ đang chiêm ngưỡng anh trong một trong những giấc mơ từng thường trực mang hình bóng anh đến trước mắt em giữa cơn mê sảng. Thế nhưng khi nhận ra anh thực sự có mặt ở đó, rằng em đã tận mắt nhìn thấy anh, rằng vì quyết tâm chia sẻ chứng bệnh mà anh không thể chữa lành, anh đã Cố ý tự lây nhiễm mầm bệnh; em không còn có thể kháng cự lại bằng chứng cuối cùng này, và nhận thấy sự nồng nhiệt trong tình cảm của anh vẫn trường tồn ngay cả khi hy vọng đã lụi tàn, thứ tình yêu mà em từng nhọc công bóp nghẹt ấy bỗng chốc phá vỡ mọi xiềng xích, trỗi dậy với sức nóng cuồng nhiệt hơn bao giờ hết. Em nhận ra mình bị định mệnh trói buộc phải yêu bất chấp ý muốn của bản thân; em thấm thía rằng mình phải mang tội lỗi; rằng em chẳng thể chống lại cha cũng như tình yêu, và chẳng bao giờ có thể dung hòa giữa quyền lợi của ái tình với huyết thống nếu không đánh đổi bằng danh dự. Thế là mọi tình cảm cao quý trong em hoàn toàn lụi tàn; mọi năng lực bị biến đổi; tội lỗi không còn là thứ kinh hoàng trong mắt em; em cảm nhận một sự thay đổi tận gốc rễ bên trong; cuối cùng, những thúc giục ngỗ ngược của một niềm đam mê bị cản trở đẩy lên đến đỉnh điểm cuồng nộ đã ném em vào trạng thái chán chường u ám nhất mà bản thân con người từng gánh chịu; em thậm chí dám tuyệt vọng cả trước đức hạnh. Bức thư của anh – vốn được tính toán nhiều hơn để đánh thức sự cắn rứt thay vì dập tắt nó – đã giáng đòn chí mạng cuối cùng vào sự hoảng loạn của em. Trái tim em đồi bại đến mức lý trí chẳng thể chống đỡ nổi những luận điểm từ triết lý ngụy biện của anh. Những ý niệm kinh hoàng cả gan chen chúc vào tâm trí em, thứ chưa từng bị vấy bẩn trước đó. Ý chí của em vẫn chống lại chúng, nhưng trí tưởng tượng lại trở nên quen thuộc với chúng, và dẫu tâm hồn em chưa dung chứa tội lỗi từ trước, em cũng chẳng còn làm chủ nổi nghị lực cao quý từng có đủ sức chống chọi lại cám dỗ nữa.
Em hầu như chẳng thể viết tiếp. Hãy để em dừng lại một chốc. Hãy gợi nhắc trong tâm trí những ngày tháng ngây thơ và hạnh phúc khi niềm đam mê sôi nổi, dịu dàng gắn kết đôi ta chỉ cốt để thanh tao hóa tâm hồn, khi ngọn lửa thiêng liêng ấy góp phần tô điểm cho sự khiêm nhường thêm đáng yêu và danh dự thêm kiều diễm, khi những khát vọng của chúng ta dường như chỉ bùng lên để ta có được vinh quang chế ngự chúng, và để trở nên xứng đáng với nhau hơn. Hãy đọc lại những bức thư đầu tiên của chúng ta; hãy ngẫm nghĩ về những khoảnh khắc vụt qua nhanh chóng và ít ỏi được tận hưởng ấy, khi tình yêu hiện ra trước mắt ta khoác đầy những nét quyến rũ của đức hạnh, và khi chúng ta quá yêu nhau để vướng vào bất kỳ mối liên kết nào bị nàng lên án.
Thuở ấy chúng ta là gì, và giờ đây chúng ta là gì? Hai kẻ yêu nhau đằm thắm dành trọn một năm trời bên nhau trong sự im lặng đầy đau đớn; họ hầu như chẳng dám thốt lên một tiếng thở dài, thế nhưng trái tim đôi bên tự khắc thấu hiểu; họ ngỡ rằng đau khổ của mình thật lớn lao, nhưng thực ra, nếu họ biết điều đó, họ đang rất đỗi hạnh phúc. Sự im lặng đồng điệu rõ ràng đến mức cuối cùng họ cũng dám cất lời trò chuyện; thế nhưng, bằng lòng với năng lực chiến thắng những khao khát của chính mình, cùng việc trao cho nhau những bằng chứng huy hoàng về chiến thắng ấy, họ trải qua thêm một năm nữa trong sự dè dặt chẳng kém phần khắc nghiệt; họ thổ lộ với nhau những truân chuyên và cảm thấy hạnh phúc. Thế nhưng những cuộc đấu tranh bạo liệt ấy quá ư đớn đau để có thể chống chọi lâu dài; phút giây yếu lòng đã dẫn dắt họ đi lạc lối; họ đánh mất chính mình trong những cơn cuồng nhiệt; thế nhưng dẫu họ chẳng còn trinh bạch, họ vẫn thủy chung; ít nhất trời cao và tự nhiên đã ban chuẩn cho sợi dây gắn kết họ; ít nhất đức hạnh vẫn vô cùng trân quý đối với họ; họ vẫn yêu mến và tôn vinh những nét kiều diễm của nàng; họ sa ngã chứ chưa đến nỗi đồi bại. Dẫu kém phần xứng đáng với hạnh phúc, họ vẫn tiếp tục sống trong niềm vui.
Giờ đây những kẻ si tình từng nồng cháy với thứ tình cảm thanh cao và thấm thía giá trị của danh dự ấy là ai? Ai có thể tường tận tình cảnh của họ mà không thở dài ngao ngán?——Hãy nhìn họ kìa, trở thành con mồi cho tội lỗi. Ngay cả ý nghĩ vấy bẩn chiếc giường tân hôn giờ đây cũng chẳng còn khiến họ khiếp hãi nữa——họ đang mưu tính chuyện ngoại tình!——Làm sao có chuyện họ lại chính là cặp đôi thuở nào? Chẳng lẽ tâm hồn họ đã hoàn toàn biến chất? Làm sao thứ hình bóng kiều diễm mà những kẻ gian ác chẳng bao giờ được chiêm ngưỡng lại có thể bị xóa nhòa trong tâm trí nơi nó từng tỏa sáng rực rỡ đến thế? Chẳng lẽ những kẻ từng một lần cảm nhận nét quyến rũ của đức hạnh lại mãi mãi ghê tởm thói hư tật xấu hay sao? Biết bao thế hệ đã trôi qua để tạo ra sự biến đổi kinh ngạc này? Khoảng thời gian dài nhường nào mới đủ sức phá hủy một ký ức ngọt ngào đến thế, và dập tắt ý niệm chân thực về hạnh phúc ở những kẻ từng tận hưởng nó? Ah, nếu bước đi đầu tiên của sự lệch lạc diễn ra với nhịp điệu chậm chạp và đau đớn, thì những bước theo sau lại dễ dàng và vội vã làm sao! Ôi, ảo ảnh của tình yêu! Chính nó đã làm mờ mắt lý trí, đánh lừa sự cẩn trọng và nhào nặn lại tự nhiên trước khi ta kịp nhận ra sự đổi thay. Một khoảnh khắc đơn độc dẫn dắt ta đi lạc; một bước chân kéo ta ra khỏi con đường chính đạo. Kể từ giây phút ấy, một xu hướng không thể cưỡng lại cứ thế cuốn ta đến chỗ diệt vong. Kể từ giây phút ấy, ta rơi tõm xuống một h vực, để rồi hoảng hốt nhận ra mình ngập chìm trong tội ác cùng một trái tim sinh ra vốn vì đức hạnh. Hỡi người bạn dấu người, chúng ta hãy buông màn xuống thôi. Chẳng lẽ ta buộc phải nhìn ngắm vực thẳm nguy hiểm mà nó che giấu thì mới biết đường tránh né việc tiếp cận hay sao? Em xin tiếp tục câu chuyện của mình.
M. Wolmar đã đến, và chẳng có ý kiến gì trước những biến đổi trên gương mặt em. Cha giục giã em. Tang ma của mẹ vừa dứt, và nỗi buồn của em thách thức cả thời gian. Em chẳng thể viện cớ nào để thoái thác lời hứa và buộc phải hoàn thành nó. Em từng tưởng ngày tách biệt em vĩnh viễn khỏi anh và khỏi chính mình sẽ là ngày cuối cùng của cuộc đời. Em thà nhìn ngắm những chuẩn bị cho tang lễ của bản thân còn hơn là những thứ cho đám cưới. Khoảnh khắc định mệnh càng đến gần, em càng thấy bản thân bất lực trong việc nhổ tận gốc mối tình đầu khỏi tâm can; những nỗ lực của em chỉ tổ làm bùng lên thay vì dập tắt chúng. Cuối cùng em cũng từ bỏ cuộc chiến vô vọng ấy. Ngay đúng thời điểm chuẩn bị thề nguyền sự thủy chung vĩnh viễn với người khác, trái tim em vẫn hướng về anh để thề non hẹn biển một tình yêu muôn thuở, và em được khiêng vào đền thờ tựa như một vật tế nhơ nhớp làm vấy bẩn bàn thờ nơi nó bị hiến tế.
Khi bước vào nhà thờ, ngay lúc đặt chân tới cửa, em cảm nhận một luồng xúc động chưa từng trải qua bao giờ. Một nỗi kinh hoàng không tài nào hình dung nổi bóp nghẹt tâm trí em trong chốn trang nghiêm và uy nghi tràn ngập Đấng Tối Cao đang được tôn thờ ở đó. Sự rợn ngợp bất chợt làm em run lẩy bẩy. Run rẩy và sắp ngất xỉu, em phải chật vật lắm mới lết tới được bàn thờ. Chẳng hề bình tĩnh, em thấy chứng bệnh của mình càng trầm trọng hơn trong suốt buổi lễ, và mọi vật thể đập vào mắt đều giáng xuống em sự khiếp hãi. Ánh sáng âm u của ngôi đền, sự im lặng tuyệt đối của những người tham dự, dáng vẻ tề chỉnh và tập trung của họ, đoàn người họ hàng nối đuôi nhau, ánh mắt uy nghiêm của người cha kính yêu, tất cả góp phần phủ lên buổi lễ một vẻ trang trọng sai khiến sự chú ý lẫn kính trọng của em, đồng thời khiến em run rẩy chỉ nghĩ đến tội thề dối. Em tưởng như đang nhìn thấy công cụ của Đấng Quan Phòng, và nghe văng vẳng tiếng nói từ trời cao qua vị mục sư cất lên bài thánh ca với sự trang nghiêm phi thường. Sự tinh tuyết, phẩm giá, sự thánh thiện của hôn nhân được thể hiện quá đỗi mạnh mẽ qua những lời Kinh Thánh, những bổn phận thanh tao và cao cả mà nó truyền dạy – vốn vô cùng quan trọng đối với hạnh phúc, trật tự, sự bình yên và sự tồn tại của bản sinh con người, bản thân chúng lại vô cùng đáng yêu để tuân thủ – tất cả đồng lòng tạo nên một ấn tượng sâu sắc đến mức em cảm thấy một cuộc cách mạng triệt để diễn ra bên trong. Một sức mạnh vô hình dường như đột ngột chỉnh đốn lại sự hỗn loạn trong tình cảm của em, định hình chúng theo đúng các quy luật của bổn phận và tự nhiên. Đấng Tối Cao vĩnh cửu và hiện diện khắp nơi, em tự nhủ, giờ đây đang thấu suốt tận đáy lòng em; Ngài so sánh ý chí thầm kín của em với lời tuyên ngôn cửa miệng: trời và đất là nhân chứng cho cam kết trang trọng mà em sắp sửa kí kết; và họ sẽ là nhân chứng cho sự trung thành của em trong việc tuân thủ nghĩa vụ ấy. Lương tâm con người có thể màng đến bổn phận nào, nếu họ dám vi phạm điều thiêng liêng nhất và trọng đại nhất trong tất cả?
Một cái liếc nhìn vô tình hướng về vợ chồng ông bà Orbe – những người mà em trông thấy đang ngồi đối diện nhau, đắm đuối trao nhau ánh mắt trìu mến – đã tác động đến em mạnh mẽ hơn bất kỳ vật thể nào xung quanh. Hỡi cặp đôi khả ái và đức hạnh nhất mực! Dẫu tình yêu của hai người kém phần bão tố, chẳng lẽ nhờ thế mà sợi dây gắn kết giữa hai người lỏng lẻo hơn sao? Bổn phận và danh dự chính là thứ keo sơn gắn kết hai người lại; những người bạn ân cần! Cặp đôi thủy chung! Các bạn không cháy bùng bằng thứ ngọn lửa thiêu đốt tâm can ấy, mà yêu nhau bằng một thứ tình cảm dịu dàng và thanh tao nuôi dưỡng tâm trí, được sự cẩn trọng cho phép và lý trí dẫn đường; nhờ thế các bạn tận hưởng một hạnh phúc đích thực hơn nhiều. Ah, ước gì trong một sự kết hợp như các bạn, em có thể tìm lại sự trong trắng và vươn tới hạnh phúc tương tự! Nếu em chưa xứng đáng như các bạn, ít nhất em sẽ nỗ lực để làm cho bản thân xứng tầm thông qua tấm gương của các bạn.
Những tâm tư ấy đã làm sống lại niềm hy vọng và thổi bùng lòng can đảm trong em. Em xem sợi dây thiêng liêng mình chuẩn bị tạo lập như một trạng thái mới có thể thanh lọc tâm hồn và trả em về với nhận thức đúng đắn về bổn phận. Khi vị mục sư hỏi liệu em có hứa trao trọn sự vâng lời tuyệt đối cùng lòng thủy chung cho người em nhận làm chồng hay không, em đã cất lên lời hứa không chỉ bằng môi mà bằng chính trái tim; và em sẽ giữ gìn nó không một tì vết cho đến tận lúc lâm chung.
Khi chúng ta quay trở về nhà, em khao khát đến phát cuồng một tiếng đồng hồ đơn độc để tự chiêm nghiệm. Em đã đạt được điều đó, dẫu chẳng dễ dàng gì; và dẫu khao khát tận dụng nó triệt để đến đâu, em vẫn ngập ngừng bước vào quá trình tự kiểm điểm bản thân, vì sợ rằng mình sẽ khám phá ra việc bản thân chỉ bị tác động bởi dăm ba ấn tượng nhất thời, và tận sâu thẳm sẽ nhận ra mình là một người vợ chẳng hề xứng đáng, hệt như một thiếu nữ từng thiếu suy nghĩ thuở nào. Phương pháp tiến hành thử nghiệm ấy vô cùng chắc chắn nhưng cũng đầy hiểm nguy; em bắt đầu nó bằng cách hướng suy nghĩ về anh. Trái tim em làm chứng rằng không một ký ức đắng cay nào làm vấy bẩn cam kết trang trọng mà em vừa thiết lập. Em không tài nào hiểu nổi, bằng sự kinh ngạc, làm sao hình bóng anh lại có thể ngừng sự xâm nhập ngoan cố ấy để thả cho em được yên ổn dài lâu giữa biết bao cơ hội từng có thể gợi nhắc anh về với tâm trí; em lẽ ra phải hoài nghi sự tê liệt và chứng quên lãng của mình như những chỗ dựa lừa dối, vốn quá ư phi tự nhiên để có thể kéo dài. Thế nhưng em nhận ra bản thân chẳng hề đối mặt với ảo tưởng nào cả: em cảm thấy mình vẫn yêu anh nhiều như thế, nếu không muốn nói là nhiều hơn trước; nhưng em cảm nhận tình cảm ấy mà không hề thấy thẹn thùng. Em nhận ra mình có thể dũng cảm nghĩ về anh mà không quên mất bản thân là vợ của người khác. Khi một lời tự thú thầm lặng báo cáo rằng anh thân thương với em nhường nào, trái tim em thổn thức, nhưng lương tâm và các giác quan lại vô cùng bình yên; và kể từ khoảnh khắc ấy, em nhận thức rõ tâm trí mình đã thực sự đổi thay. Thật là một dòng suối niềm vui thanh khiết tuôn trào vào cõi lòng em biết bao! Những cảm giác tĩnh lặng từng bị xóa nhòa từ lâu bấy giờ bắt đầu tái sinh trong một trái tim từng bị ô nhục vấn vít, đồng thời lan tỏa một sự thanh thản lạ lùng khắp toàn bộ cơ thể em! Em cảm giác như mình vừa được tái sinh; và tự nhủ bản thân đang bước sang một cuộc đời khác. Ôi thứ đức hạnh dịu dàng và mang tính chữa lành! Em được tái sinh vì Người; chỉ có Người mới khiến cuộc đời trở nên trân quý đối với em; em hiến dâng trọn vẹn sinh mệnh mình cho Người. Oh, em đã trải nghiệm quá đỗi cay đắng nỗi đau mất Người, để rồi chẳng đời nào dám ruồng bỏ Người thêm một lần thứ hai.
Trong niềm hoan hỉ của một sự biến đổi vĩ đại, đột ngột và bất ngờ đến thế, em đã dám suy ngẫm về trạng thái của mình vào ngày hôm trước: em run rẩy khi nghĩ đến cái trạng thái nhục nhã vô giá trị mà bản thân từng bị đẩy xuống do quên mất những gì mình nợ chính mình, đồng thời rợn góc trước mọi hiểm nguy từng trải qua kể từ bước chân lệch lạc đầu tiên. Thật là một cuộc cách mạng tuyệt vời trong tâm trí đã giúp em khám phá ra sự kinh hoàng của tội ác từng đặt cám dỗ trước mắt mình; và tình yêu dành cho sự kín đáo đã sống lại trong em ra sao! Bằng cơ duyên hi hữu nào, em tự hỏi, mà mình lại có thể hy vọng trở nên chung thủy với tình yêu hơn là với danh dự – thứ mà em từng coi trọng đến thế? Vận may nào sẽ ngăn chặn sự bất định của anh hay của chính em khỏi việc biến em thành con mồi cho những mối quan hệ mới? Làm thế nào em có thể chống lại một người tình khác, với sự kháng cự từng bị khuất phục bởi người đầu tiên, và nỗi thẹn thùng từng quen cúi đầu trước ham muốn? Chẳng lẽ em sẽ dành nhiều sự tôn trọng hơn cho quyền lợi của một tình yêu đã lụi tàn, so với đòi hỏi của đức hạnh khi nó còn duy trì quyền lực tối thượng trong tâm hồn? Em lấy gì làm đảm bảo để không yêu ai khác ngoài anh, ngoài sự hỗ trợ từ nội tâm vốn hay đánh lừa mọi kẻ si tình – những kẻ cứ mở miệng thề thốt sự thủy chung vĩnh cửu để rồi bất cẩn bội thề trước mọi sự đổi thay của tình cảm? Cứ thế, một bước lệch khỏi đức hạnh sẽ dẫn dắt đến bước tiếp theo; và thói xấu khi đã trở thành thói quen sẽ chẳng còn hiện hình là điều kinh hoàng trong mắt em nữa. Rơi từ đỉnh cao danh dự xuống chốn ô nhục, chẳng có lấy một điểm tựa để dừng chân; từ một trinh nữ bị dụ dỗ, em sẽ biến thành một người đàn bà hoang đày, nỗi tai tiếng của giới tính mình và nỗi thống khổ của gia đình. Điều gì đã cứu em khỏi một hệ quả tự nhiên đến thế của sự vi phạm đầu tiên? Điều gì đã níu chân em sau bước chân tội lỗi đầu tiên? Điều gì đã bảo vệ danh tiếng cùng sự kính trọng từ những người bạn dấu yêu của em? Điều gì đã đặt em dưới sự bảo bọc của một người chồng đức hạnh và kín đáo, kẻ có tính cách khả ái, dung mạo dễ mến và tràn ngập sự kính trọng lẫn tình yêu dành cho em – những thứ mà em chẳng lấy gì làm xứng đáng? Tóm lại, điều gì đã cho phép em khát khao hướng tới hình mẫu một người vợ đức danh và tiếp cho em lòng can đảm để làm cho bản thân xứng đáng với danh hiệu ấy? Em nhìn thấy nó, em cảm nhận được nó; đó chính là bàn tay thân thiết từng dìu dắt em qua những nẻo đường tăm tối, giờ đây đang vén tấm màn sai lầm khỏi đôi mắt em; và bất chấp ý chí của em, trả em về với chính mình. Tiếng nói dịu dàng từng lẩm bẩm không dứt trong tâm can giờ đây cất cao âm lượng, gầm thét bên tai em ngay đúng khoảnh khắc em sắp sửa tiêu đời vĩnh viễn. Đấng Tạo Hóa của mọi chân lý đã không cho phép em rời bỏ sự hiện diện của Ngài cùng với tội lỗi mang tính bội thề đáng nguyền rủa; và bằng cách ngăn chặn tội ác của em thông qua sự cắn rứt, Ngài đã chỉ cho em thấy vực thẳm kinh hoàng mà em suýt lao đầu xuống. Đấng Quan Phòng Vĩnh Cửu! Đấng khiến con côn trùng bò trườn và các tầng trời quay cuồng, Người vẫn luôn tỉnh thức dõi theo từng tạo vật nhỏ nhoi nhất! Người đã kéo em trở về với đức hạnh mà em sinh ra để tôn kính! Xin hãy rủ lòng đón nhận từ một trái tim được tẩy rửa bởi lòng nhân ái của Người thứ tôn kính mà chỉ có mình Người mới xứng đáng được nhận.
Ngay khoảnh khắc ấy, bị ấn tượng bởi cảm nhận sống động về hiểm nguy vừa thoát khỏi, cùng trạng thái danh dự và an toàn mà bản thân may mắn được thiết lập lại, em quỳ rạp xuống đất, giơ đôi bàn tay cầu khẩn hướng lên trời cao, cầu khẩn Đấng ngự trị chốn tôn nghiêm mà ý muốn của Ngài có thể nâng đỡ hoặc hủy diệt thông qua chính sức mạnh tự thân cùng ý chí tự do mà Ngài đã ban phát. Em khẩn khoản thốt lên, con ôm lấy những điều thiện lành được tuyên bố mà chỉ một mình Ngài là tác giả. Con sẽ yêu thương người chồng mà Ngài đã gắn kết con vào. Con sẽ chung thủy, bởi đó là bổn phận cốt lõi gắn kết các gia đình riêng lẻ lẫn xã hội nói chung. Con sẽ thủ tiết, bởi đó là đức hạnh cội nguồn nuôi dưỡng mọi điều còn lại. Con sẽ bám chặt vào mọi thứ liên quan đến trật tự tự nhiên mà Ngài đã thiết lập, cùng những mệnh lệnh từ lý trí mà con thụ hưởng từ Người. Con phó thác trái tim mình cho sự bảo bọc của Ngài và những khát vọng cho sự dẫn dắt của Người. Xin hãy uốn nắn mọi hành động của con phù hợp với ý chí kiên định – vốn mãi mãi là của Ngài, và đừng bao giờ cho phép một sai lầm nhất thời nào được chiến thắng sự lựa chọn đã an bài trong cuộc đời con.
Sau khi hoàn tất lời cầu nguyện ngắn ngủi ấy – lời cầu nguyện đầu tiên em cất lên với sự sùng kính đích thực – em thấy mình được củng cố trong những quyết định đức hạnh; mọi thứ dường như quá đỗi dễ dàng và dễ chịu khi tuân theo những chỉ dẫn ấy, đến mức em nhận thức rõ ràng nơi mình phải tìm kiếm nguồn năng lực kháng cự lại các khao khát – thứ mà bản thân chẳng thể tự rút tỉa từ chính mình. Từ phát kiến mới mẻ này, em thu nhận thêm sự tự tin tươi mới và thương xót cho sự mù quáng tai hại từng che giấu nó khỏi em suốt bao lâu nay. Em chưa từng hoàn toàn thiếu vắng tôn giáo, nhưng có lẽ thà không có còn hơn là tôn súng một thứ tôn giáo hình thức và máy móc; một thứ chỉ thỏa mãn lương tâm mà chẳng hề chạm đến trái tim; một thứ bị bó buộc vào những khuôn mẫu cứng nhắc, dạy ta tin Chúa vào những giờ giấc cố định trong khi phớt lờ Ngài trong suốt quãng thời gian còn lại. Nghiêm ngặt tham gia các buổi lễ công khai, thế nhưng em chẳng gặt hái được chút lợi ích nào hỗ trợ cho việc thực hành bổn phận. Vốn biết mình thuộc dòng dõi gia thế, em nuông chiều bản thân, ưa chuộng sự suy nghiệm và đặt niềm tin vào lý trí. Không tài nào dung hòa nổi tinh thần Phúc Âm với lối sống thế tục, hay đức tin với việc làm, em chọn đi vào con đường trung dung để thỏa mãn sự phù phiếm trong sự khôn ngoan của mình; em có một bộ châm ngôn dành cho suy nghiệm và một bộ khác dành cho thực hành; em quên đi ở nơi này những quan điểm được nhào nặn ở nơi khác; em là một kẻ sùng đạo ở nhà thờ và là một nhà triết học ở nhà: Hỡi ôi! Em chẳng là gì ở bất cứ đâu; những lời cầu nguyện chỉ là chữ nghĩa, sự suy luận chỉ là ngụy biện, và ngọn đèn duy nhất em dõi theo lại là ánh sáng leo lắt giả tạo dẫn lối em đến chỗ diệt vong.
Em không tài nào miêu tả nổi cho anh nghe nguyên tắc nội tâm này – thứ từng trốn chạy em cho đến tận bây giờ – đã khiến em khinh miệt nhường nào những thứ từng dẫn dắt em đi lạc đường đầy nhục nhã. Xin anh hãy nói cho em biết, đâu là lý lẽ đanh thép nhất ủng hộ chúng, và chúng đứng vững trên nền tảng nào? Một bản năng thuận lợi hướng dẫn ta đến điều thiện, một niềm đam mê cuồng nhiệt nào đó trỗi dậy chống đối: nó bén rễ ngay trong khoảnh khắc ấy, và ta phải làm gì để tiêu diệt nó? Từ sự chiêm nghiệm về trật tự tự nhiên, em khám phá ra vẻ đẹp của đức hạnh; và từ tính hữu ích phổ quát của nó, em rút tỉa ra sự xuất chúng. Thế nhưng những luận điểm ấy có tác dụng gì, khi chúng đứng ra đối đầu với lợi ích cá nhân của em; và xét đến cùng, điều gì hệ trọng hơn đối với em: mưu cầu hạnh phúc cho chính mình trên nỗi đau của kẻ khác, hay thúc đẩy niềm vui của người khác trên sự hy sinh hạnh phúc của chính mình? Nếu nỗi sợ hãi về sự hổ thẹn hay trừng phạt ngăn cản em phạm điều ác vì lợi ích riêng tư, em chẳng cần phải làm gì khác ngoài việc phạm tội trong bóng tối; khi ấy đức hạnh chẳng thể quở trách em, và nếu bị phát hiện, em sẽ bị trừng phạt – hệt như ở Sparta – không phải vì tội ác, mà vì không đủ tài tình để che giấu nó. Tóm lại, thừa nhận tính cách và tình yêu dành cho đức hạnh được khắc sâu vào trái tim bởi tự nhiên, nó sẽ phục vụ như một quy tắc hành xử cho đến khi những dấu ấn ấy phai tàn; thế nhưng làm sao em chắc chắn luôn giữ gìn được nguyên bản tinh khôi ấy của bức tượng nội tâm, khi chẳng có lấy một nguyên mẫu nào tồn tại giữa cõi trần thế này để ta có thể soi chiếu vào đó? Chẳng phải hiển nhiên rằng những tình cảm bất thường làm hoen ố phán đoán lẫn ý chí, và rằng lương tâm thay đổi, để rồi qua mọi thời đại, mọi dân tộc, mọi cá nhân, lại tự uyển chuyển theo sự bất định của quan điểm cùng sự đa dạng của thành kiến hay sao?
Hỡi người bạn đáng kính và khôn ngoan của tôi, hãy tôn sùng Đấng Tối Cao; chỉ bằng một hơi thở, anh sẽ đủ sức thổi bay những ảo ảnh lý trí mang vẻ ngoài hão huyền ấy, thứ luôn bay biến đi hệt như bao kẻ khác trước chân lý bất biến. Chẳng có gì tồn tại ngoại trừ qua Ngài – Đấng tự tồn. Chính Ngài là đấng định hướng xu hướng của công lý, đặt ra nền tảng của đức hạnh, và ban thưởng cho một kiếp sống ngắn ngủi được tiêu pha theo ý muốn của Ngài; chính Ngài là đấng lớn tiếng tuyên bố với kẻ có tội rằng những tội ác thầm kín của chúng đã bị bại lộ, đồng thời cam đoan với người công chính chốn thầm lặng rằng đức hạnh của họ không hề không có nhân chứng; chính Ngài, chính bản thể bất biến của Ngài mới là nguyên mẫu chân chính của những sự hoàn hảo mà tất cả chúng ta đều mang hình bóng bên trong. Mọi sự uốn éo của đam mê đều vô ích trong việc làm biến dạng nó; những dấu vết vốn gắn liền với Đấng Vô Cạn ấy vẫn luôn hiện diện trước lý trí ta, phục vụ cho việc tái thiết lập những gì sai lầm và lừa bịp từng bóp méo. Những phân biệt này dường như vô cùng tự nhiên đối với em; lẽ phải thông thường là đủ để vạch ra chúng. Mọi thứ mà ta không thể tách rời khỏi ý niệm về bản chất thần thánh chính là Chúa; phần còn lại hoàn toàn là tác phẩm của con người. Chính thông qua sự chiêm nghiệm về nguyên mẫu thần thánh ấy mà tâm hồn trở nên thanh tao và cao thượng, học được cách khinh miệt những ham muốn đê tiện và chế ngự những khuynh hướng thấp hèn. Một trái tim thấm nhuần những chân lý siêu việt ấy sẽ đứng trên cả những đam mê tầm thường của bản tính con người; ý niệm về sự vĩ đại vô tận bóp nghẹt sự kiêu ngạo của con người; niềm vui của sự chiêm nghiệm kéo anh ta ra khỏi những ham muốn dung tục; và giả sử Đấng Vô Cạn – chủ thể trong suy nghĩ của anh – không hề tồn tại, thì việc rèn luyện tâm trí trong những sự chiêm nghiệm ấy vẫn hữu ích nhằm giúp anh làm chủ bản thân tốt hơn, mạnh mẽ hơn, cẩn trọng hơn và hạnh phúc hơn.
Anh có đòi hỏi một dẫn chứng cụ thể về những sự tinh vi hão huyền được nhào nặn bởi cái lý trí tự mãn từng đặt niềm tin vô căn cứ vào sức mạnh bản thân hay không? Chúng ta hãy cùng bình tĩnh xem xét các luận điểm từ những triết gia ấy – những biện hộ viên đáng kính cho một tội ác chưa từng quật ngã bất kỳ ai có tâm hồn chưa bị hoen ố từ trước. Người ta có thể kết luận rằng, thông qua một cuộc tấn công trực diện vào bản hợp đồng thiêng liêng và trang trọng nhất trong tất cả, những kẻ biện luận nguy hiểm ấy quyết tâm giáng một đòn tiêu diệt toàn bộ xã hội loài người vốn được xây dựng dựa trên nền tảng của chữ tín hay sao? Thế nhưng xin hãy suy ngẫm, ơn trời, cách họ thanh minh cho tội ngoại tình bí mật là gì? Đó là vì, họ nói, chẳng có tai họa nào phát sinh từ đó; thậm chí ngay cả với người chồng vốn hoàn toàn mù quáng trước sai lầm. Thế nhưng, liệu họ có chắc chắn rằng người ấy sẽ mãi mãi mù quáng trước tổn thương giáng lên mình hay không? Liệu việc không gây tổn hại cho kẻ khác đã đủ để biện minh cho sự bội thề và phản bội chưa? Chẳng lẽ sự tổn hại mà những kẻ tội lỗi tự giáng lên chính mình vẫn chưa đủ để tạo nên sự ghê tởm đối với tội ác sao? Phản bội lại lời hứa, hủy hoại – trong khả năng tối đa có thể – nghĩa vụ của những lời thề thốt cùng các bản hợp đồng bất khả xâm phạm, há chẳng phải là tội ác hay sao? Cố công biến bản thân thành kẻ gian dối, phản trắc và bội thề há chẳng phải là tội ác sao? Thiết lập những mối giao tình khiến anh khát khao sự bất hạnh và mong ước cái chết của người khác – thậm chí cái chết của một kẻ mà ta buộc phải yêu thương hơn hết thảy và từng thề gắn bó suốt đời – há chẳng phải là tội ác sao? Chẳng phải bản thân trạng thái đó đã là một điều ác sinh sôi ra hàng ngàn tội lỗi hệ quả hay sao? Ngay cả điều thiện đi chăng nữa, nếu đi kèm với ngừng ấy tai họa, cũng sẽ vì lý do duy nhất đó mà trở thành điều ác.
Chẳng lẽ một trong hai bên tham gia có thể vờ quẳng vạ sự trong trắng, chỉ vì kẻ đó tình cờ chưa bị ràng buộc và chưa từng hứa hẹn với ai hay sao? Kẻ ấy đã lầm to. Không chỉ là lợi ích của vợ chồng, mà còn là phúc lợi chung của nhân loại, việc duy trì sự tinh tuyết của hôn nhân không tì vết là vô cùng thiết yếu. Bất cứ khi nào hai cá nhân kết nối với nhau bằng bản hợp đồng trang trọng ấy, toàn thể nhân loại bước vào một cam kết thầm lặng tôn trọng sợi dây thiêng liêng và vinh danh sự kết hợp phu phụ; và đây dường như là lý do đanh thép chống lại những cuộc hôn nhân bí mật – thứ vốn không biểu lộ dấu hiệu công khai nào về sự gắn kết ấy, đẩy những thiếu nữ ngây thơ vào cạm bẫy của đam mê ngoại tình. Công chúng phần nào đóng vai trò là những người bảo lãnh cho một sự kiểm soát diễn ra trước mắt họ; và ta dám khẳng định rằng danh dự của một người phụ nữ đoan trang nằm dưới sự bảo trợ đặc biệt của mọi con người lương thiện và tử tế. Do đó, bất kỳ kẻ nào dám dụ dỗ nàng đều phạm tội; trước hết vì hắn lôi kéo nàng sa ngã, và bất kỳ ai cũng là đồng lõa trong những tội ác mà hắn xúi giục kẻ khác phạm phải; kế đến, tự thân hắn phạm tội trực tiếp, vì hắn vi phạm đức tin công khai và thiêng liêng của hôn nhân – thứ thiếu nó thì trật tự hay quy củ chẳng thể tồn tại trong xã hội.
Tội ác, họ nói, là bí mật, hệ quả là chẳng có tổn hại nào giáng lên bất kỳ ai. Nếu những triết gia ấy tin vào sự tồn tại của Chúa cùng sự bất tử của linh hồn con người, làm sao họ có thể gọi thứ tội ác có nhân chứng là Đấng bị xúc phạm nhiều nhất và là vị thẩm phán công minh duy nhất là bí mật? Thật là một loại bí mật kỳ lạ khi bị che giấu khỏi mọi đôi mắt, ngoại trừ những đôi mắt mà ta có nhu cầu che giấu nhất! Thế nhưng nếu họ không thừa nhận sự hiện diện khắp nơi của Thần linh, làm sao họ dám khẳng định rằng mình không gây tổn thương cho ai? Làm sao họ chứng minh được rằng việc nuôi dưỡng những người thừa kế không cùng huyết thống là một vấn đề dửng dưng đối với một người cha; việc có thể vướng vào gánh nặng con cái nhiều hơn mức bình thường, và buộc phải phân chia gia sản cho những mầm mống ô nhục ấy mà chẳng hề cảm nhận lấy một chút tình cảm huyết thống hay bản năng tự nhiên nào là điều vô hại? Giả sử những triết gia ấy là những kẻ theo thuyết duy vật, chúng ta càng có thêm nền tảng vững chắc để chống lại các học thuyết của họ bằng những mệnh lệnh dịu dàng từ tự nhiên – thứ cứ cất lên tiếng thở trong mỗi hơi thở nhằm phản bác các nguyên tắc của một triết lý hão huyền chưa từng bị đánh đổ bởi bất kỳ lý luận đanh thép nào. Tóm lại, nếu chỉ có cơ thể sản sinh ra tư duy, và tình cảm hoàn toàn phụ thuộc vào cấu trúc tổ chức, chẳng lẽ sẽ không tồn tại một sự tương đồng ngặt nghèo hơn giữa hai sinh thể cùng dòng máu hay sao? Chẳng lẽ họ sẽ không có một sự gắn kết mãnh liệt hơn với nhau, chẳng lẽ sẽ không xuất hiện sự tương đồng giữa tâm hồn lẫn nét mặt của họ, thứ vốn là động lực tối thượng truyền cảm hứng cho tình cảm lứa đôi hay sao?
Do đó, theo quan điểm của anh, việc phá hoại hoặc làm xáo trộn sự gắn kết tự nhiên ấy thông qua việc pha tạp dòng máu ngoại tình và làm lệch lạc nguyên tắc của thứ tình cảm vốn phải làm xi măng gắn kết mọi thành viên trong gia đình há không phải là gây tổn thương hay sao? Ai lại không rợn người trước ý nghĩ một đứa trẻ bị tráo đổi bởi vú em? Và việc thực hiện một sự tráo đổi tương tự trước khi đứa trẻ ra đời há là một tội ác nhỏ hơn hay sao?
Nếu em xét riêng về phái nữ của mình, biết bao tai họa sẽ lộ diện trong thói hoang đày này – thứ vốn được cho là chẳng gây tổn thương gì! Sự sa đọa của một người phụ nữ lầm lỗi, kẻ sau khi đánh mất danh dự liền nhanh chóng tước bỏ mọi đức hạnh khác, tự thân nó đã đủ lớn. Những triệu chứng rõ rệt nào truyền tải thông tin về tổn thương mà họ tưởng có thể biện minh bằng sự bí mật đến cho người chồng tận tụy? Sự phai nhạt trong tình cảm của người vợ chính là bằng chứng xác thực nhất. Mọi nỗ lực giả tạo của nàng sẽ phục vụ cho điều gì, nếu không phải để phơi bày sự dửng dưng một cách trần trụi hơn? Ta có thể lừa bịp đôi mắt ghen tuông của tình yêu bằng những cử chỉ vuốt ve giả dối hay sao? Và kẻ gắn kết với một đối tượng dấu yêu – nơi đôi tay ôm ấp trong khi trái tim chối bỏ – sẽ phải gánh chịu những cực hình tột cùng nhường nào! Giả sử vận may ưu ái một lối sống vốn bị nó phản bội hết lần này đến lần khác, và chưa cần bàn đến sự liều lĩnh khi phó mặc sự trong trắng giả tạo của ta cùng sự bình yên của kẻ khác cho những biện pháp phòng ngừa mà Đấng Quan Phòng thường chọn cách phá hỏng – thì tóm lại, biết bao sự lừa dối, gian dối và giả hình bị đòi hỏi để che đậy một cuộc mây mưa tội lỗi, lừa gạt người chồng, hối lộ người hầu và qua mặt công chúng! Thật là một nỗi ô nhục cho những kẻ đồng lõa! Thật là một tấm gương xấu cho con cái! Chuyện gì sẽ xảy ra với sự giáo dục của chúng giữa bao nhiêu lo âu làm sao để thỏa mãn một đam mê tội lỗi mà không phải trả giá? Sự bình yên của gia đình cùng sự gắn kết giữa những người chủ nhà sẽ được duy trì ra sao? Gì cơ! Trong ngần ấy hoàn cảnh, người chồng không hề gánh chịu tổn thương nào hay sao? Thế nhưng ai có thể đền bù cho anh ấy một trái tim vốn phải thuộc về mình? Ai có thể trả lại cho anh ấy tình cảm của một người phụ nữ quý giá? Ai có thể trao lại sự bình yên trong tâm trí và lòng tin tưởng chốn gia đạo? Ai có thể chữa lành cho anh ấy khỏi những mối nghi ngờ có căn cứ? Ai có thể khiến một người cha dám tin vào tiếng gọi tự nhiên khi ôm đứa con vào lòng?
Liên quan đến những mối kết nối giả tạo có thể được thiết lập trong gia đình thông qua ngoại tình và phản bội, nó không thể được xem là một luận điểm nghiêm túc, mà giống một trò hề ngớ ngẩn và thô bạo chẳng đáng nhận lại sự phản hồi nào ngoài sự khinh miệt và phẫn nộ. Những cuộc phản trắc, cãi vã, những trận chiến và vụ án mạng mà thói lệch lạc này gieo rắc khắp trái đất qua mọi thời đại chính là bằng chứng rõ ràng nhất về việc sự bình yên và đoàn kết của nhân loại được thúc đẩy đến đâu bởi những mối quan hệ cấu thành từ tội lỗi. Nếu có bất kỳ nguyên tắc xã hội nào nảy sinh từ thứ giao dịch đê tiện và đáng khinh này, nó có thể được ví như thứ gắn kết một băng nhóm cướp bóc, và lẽ ra phải bị tiêu diệt cũng như hủy bỏ nhằm đảm bảo sự an toàn cho các cộng đồng hợp pháp.
Em đã cố gắng kìm nén sự phẫn nộ từng kích động trong lòng bởi những nguyên tắc này, nhằm thảo luận chúng với sự ôn hòa lớn hơn. Càng thấy chúng kỳ quặc và nực cười bao nhiêu, em càng có trách nhiệm phải bác bỏ chúng bấy nhiêu, để cảm thấy hổ thẹn vì từng lắng nghe chúng với quá ít sự dè dặt. Anh thấy đấy, chúng chẳng thể chịu đựng nổi bài kiểm tra từ lý lý trí đanh thép; thế nhưng ta có thể rút tỉa những mệnh lệnh thiêng liêng của lý trí từ đâu, nếu không phải từ Đấng vốn là cội nguồn của tất cả? Và chúng ta sẽ nghĩ gì về những kẻ – nhằm mục đích dẫn dắt nhân loại đi lạc hướng – lại bóp méo tia sáng thiên đàng này, thứ được Ngài ban cho như một chiếc la bàn không bao giờ sai lệch hướng tới đức hạnh? Hãy từ bỏ triết lý câu chữ ấy đi; hãy hoài nghi một thứ đức hạnh ngụy tạo từng khoét sâu vào mọi đức hạnh khác và mưu mô biện minh cho mọi thói xấu, hợp pháp hóa thực tiễn của từng chủng loại tội ác. Phương pháp chắc chắn nhất để khám phá bổn phận chính là chăm chỉ kiểm tra điều gì là đúng đắn, và ta không thể tiếp tục cuộc kiểm tra ấy lâu dài nếu không quay trở về với đấng tạo hóa của mọi điều thiện lương. Đó là những gì em đã thực hiện, kể từ khi em nhọc công chỉnh đốn các nguyên tắc của mình và nâng cao lý trí: đó là một nhiệm vụ mà anh sẽ thực hiện tốt hơn em, khi anh sẵn sàng theo đuổi con đường tương tự. Đó là niềm an ủi cho em khi ngẫm nghĩ rằng anh từng thường xuyên bồi đắp tâm trí em bằng những khái niệm cao cả về tôn giáo, và anh – người có trái tim chẳng giấu giếm điều gì trước em – sẽ chẳng bao giờ nói chuyện với em theo giọng điệu ấy, giả sử các tâm tư của anh khác biệt so với tuyên bố của mình. Em nhớ lại rằng những cuộc trò chuyện kiểu này luôn mang lại niềm vui sướng cho đôi ta. Chúng ta chưa từng thấy sự hiện diện của Đấng Tối Cao là một sự phiền toái: nó mang lại cho ta hy vọng nhiều hơn là nỗi kinh hoàng; nó chưa từng làm chùn bước bất kỳ ai ngoại trừ những tâm hồn tội lỗi; chúng ta vui sướng khi nghĩ rằng Ngài là nhân chứng cho những buổi hẹn hò của đôi ta, và ta yêu thích việc nâng cao tâm hồn lên sự chiêm nghiệm về đấng thần linh. Giả sử đôi khi chúng ta bị quật ngã bởi sự hổ thẹn, ta vẫn tự nhủ rằng ít nhất Ngài thấu suốt những suy ngẫm sâu kín nhất, và ý niệm ấy làm tái thiết lập sự bình yên trong ta.
Giả sử sự tự tin ấy dẫn dắt ta đi lạc đường, thì nguyên tắc đặt nền móng cho nó vẫn là thứ duy nhất đủ sức kéo ta trở về với đức hạnh. Chẳng lẽ thật bất xứng đối với một người đàn ông khi luôn mâu thuẫn với chính mình, khi giữ một quy tắc cho hành động và một quy tắc khác cho quan điểm, khi suy nghĩ như thể mình tách rời khỏi vật chất, hành động như thể bản thân không có linh hồn, và chẳng bao giờ có đủ khả năng tự mình sở hữu trọn vẹn dù chỉ một hành động đơn lẻ trong đời hay sao? Về phần mình, em nghĩ các nguyên tắc của người xưa là đủ để củng cố chúng ta, miễn là chúng không bị bó hẹp vào những suy nghiệm thuần túy. Sự yếu đuối là điều gắn liền với bản chất con người, và Đấng nhân từ từng tạo ra con người đầy rẫy sự mỏng manh chắc chắn sẽ tha thứ cho sự yếu đuối ấy; thế nhưng tội ác là một phẩm chất chỉ thuộc về kẻ gian ác, và sẽ không bao giờ thoát khỏi sự trừng phạt từ tác giả của mọi công lý. Một kẻ vô thần – vốn có bản tính hướng thiện – cất lời ca ngợi những đức hạnh mà hắn ngưỡng mộ; hắn hành động dựa trên sở thích, chứ không phải sự lựa chọn. Giả sử toàn bộ khao khát của hắn tình cờ trở nên chuẩn mực, hắn nuông chiều chúng không chút dè dặt. Hắn sẽ thỏa mãn chúng theo cách tương tự, giả sử chúng bất thường; bởi thứ gì có thể kìm chân hắn chứ? Thế nhưng kẻ thừa nhận và tôn sùng người cha chung của nhân loại lại nhận thức rõ bản thân được định sẵn cho những mục đích cao cả hơn. Một khát vọng mãnh liệt muốn hoàn thành sứ mệnh tồn tại thôi thúc nhiệt huyết của hắn; hắn tuân theo một quy tắc hành động chắc chắn hơn cả ham muốn; hắn biết cách làm điều đúng đắn bất chấp sự hy sinh của các khao khát, đồng thời hiến dâng những mong muốn nơi đáy tim cho tiếng gọi của bổn phận. Hỡi người bạn dấu yêu, đó chính là sự hy sinh anh dũng được yêu cầu từ cả đôi ta. Tình yêu từng gắn kết chúng ta lẽ ra đã trở thành niềm vui trọn đời; nó vượt qua cả hy vọng, thách thức thời gian lẫn sự xa cách, gánh chịu mọi loại thử thách. Một mối tình chân thành đến thế lẽ ra không bao giờ nên lụi tàn tự thân; nó xứng đáng để được hy sinh cho riêng đức hạnh mà thôi.
Em buộc phải quan sát thêm điều này. Mọi hoàn cảnh giữa đôi ta đã thay đổi hoàn toàn, và trái tim anh buộc phải tự điều chỉnh để thích ứng với sự thay đổi ấy. Người vợ của M. Wolmar không còn là Eloisa thuở trước của anh; sự thay đổi tình cảm ở anh dành cho nàng là điều không thể tránh khỏi, và việc biến sự biến đổi ấy trở thành niềm vinh dự hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự lựa chọn của anh, tùy thuộc vào việc anh bầu chọn thói hư hay đức hạnh. Em nhớ lại một đoạn văn trong một tác giả mà uy tín của ông sẽ không bị anh bác bỏ. Tình yêu, ông nói, sẽ đánh mất đi nét quyến rũ vĩ đại nhất khi nó bị ruồng bỏ bởi danh dự. Để thấm thía giá trị đích thực của nó, nó phải làm ấm trái tim và nâng cao chúng ta bằng việc nâng tầm đối tượng của những khát vọng. Tước bỏ ý niệm về sự hoàn hảo, anh đã tước đoạt của tình yêu toàn bộ sự say mê; trục xuất sự kính trọng, và tình yêu sẽ không còn tồn tại. Làm sao một người phụ nữ có thể tôn vinh người đàn ông mà nàng đáng ra phải khinh miệt? Làm sao chính anh ta có thể tôn vinh kẻ từng không ngần ngại dâng hiến bản thân cho một tên dụ dỗ đê tiện? Thế là họ sẽ sớm ôm ấp sự khinh miệt lẫn nhau. Tình yêu – nguyên tắc thiên đàng ấy – sẽ bị hạ thấp thành một giao dịch nhục nhã giữa họ. Họ sẽ đánh mất danh dự mà chẳng thể vươn tới hạnh phúc. Hỡi người bạn dấu yêu, đó chính là bài học của chúng ta, do chính tay anh chấp bút! Chưa bao giờ trái tim đôi ta gắn kết ngọt ngào hơn thế, và chưa bao giờ danh dự lại trân quý đối với chúng ta như trong những ngày hạnh phúc khi bức thư này ra đời. Do đó, hãy ngẫm xem chúng ta sẽ bị dắt mũi đến đâu vào lúc này bởi một mối tình tội lỗi, được nuôi dưỡng trên sự hy sinh của những cuộc mây mưa tuyệt vời nhất có thể truyền cảm hứng cho tâm hồn! Nỗi kinh hoàng trước thói hư tật xấu vốn tự nhiên đối với cả đôi ta sẽ nhanh chóng mở rộng sang cả kẻ đồng lõa trong tội lỗi; chúng ta sẽ ôm ấp sự căm ghét lẫn nhau vì đã yêu thầm không đúng mực, và sự cắn rứt sẽ nhanh chóng dập tắt tình cảm. Chẳng lẽ việc thanh tao hóa một tình cảm hào hiệp để làm cho nó trường tồn tốt hơn sao? Chẳng lẽ việc ít nhất bảo toàn những gì ta có thể ban phát trong sự trong trắng tốt hơn sao? Chẳng phải điều này đang bảo vệ thứ vốn còn tuyệt vời hơn mọi sự tận hưởng khác hay sao? Vâng, hỡi người bạn dấu yêu và đáng kính, để giữ cho tình yêu của chúng ta không tì vết, đôi ta phải từ bỏ nhau. Hãy quên đi mọi chuyện đã qua và tiếp tục giữ vai trò người tình trong tâm tưởng của em. Ý niệm này tuyệt diệu đến mức nó bù đắp cho mọi thứ.
Thế là em đã vẽ ra một bức tranh chân thực về cuộc đời mình, đồng thời trao cho anh một chi tiết chuẩn xác về mọi tâm tình thầm kín. Hãy tin chắc rằng em vẫn yêu anh. Em vẫn gắn kết với anh bằng một thứ tình cảm đằm thắm và sống động đến mức bất kỳ ai khác ngoài em hẳn đã hoảng sợ: thế nhưng em cảm nhận một nguyên tắc khác biệt bên trong – thứ bảo vệ em khỏi mọi lo âu phát sinh từ sự gắn bó ấy. Em nhận thức rằng bản chất tình cảm của em đã hoàn toàn thay đổi, và về mặt này, những lầm lỗi quá khứ chính là nền tảng cho sự an tâm hiện tại của em; em biết rằng sự tề chỉnh câu nệ cùng màn kịch phô trương của đức hạnh có thể đòi hỏi ở em nhiều hơn thế, và sẽ chẳng thỏa mãn trừ khi em hoàn toàn quên lãng anh. Thế nhưng em sở hữu một quy tắc hành xử chắc chắn hơn, và em sẽ tuân thủ nó. Em lắng nghe những mệnh lệnh thầm kín từ lương tâm; em chẳng tìm thấy điều gì ở đó quở trách mình, và nó chưa bao giờ lừa dối những ai tham vấn nó bằng sự chân thành. Giả sử điều đó chưa đủ để biện minh cho em trước thế giới, nó cũng đủ để trả lại sự bình yên trong tâm trí cho em. Cuộc cách mạng hạnh phúc này đã diễn ra thế nào? Em chẳng rõ. Tất cả những gì em biết là bản thân đã khao khát nó mãnh liệt nhất. Chỉ một mình Chúa đã hoàn thành phần còn lại. Em tin chắc rằng một tâm hồn một khi đã hoen ố sẽ mãi mãi giữ nguyên trạng thái ấy, và chẳng bao giờ tự phục hồi trừ khi một cuộc biến đổi bất ngờ, một sự thay đổi không báo trước về vận mệnh lẫn hoàn cảnh hoàn toàn đảo lộn các mối liên kết của nó. Khi mọi thói quen bị tiêu diệt và mọi đam mê được điều chỉnh bởi cuộc cách mạng triệt để ấy, nó đôi khi khôi phục lại các nguyên bản ban đầu và trở nên hệt như một sinh thể mới vừa được nhào nặn bởi đôi bàn tay tự nhiên. Khi ấy ký ức về sự bất xứng thuở trước có thể phục vụ như một sự bảo quản chống lại sự tái phát. Hôm qua ta đê tiện và hèn mạn; hôm nay ta tráng kiện và hào hùng. Bằng cách thực hiện một sự so sánh chặt chẽ giữa hai trạng thái khác biệt ấy, ta càng thấm thía giá trị của thứ vừa phục hồi, đồng thời cẩn trọng hơn trong việc duy trì nó.
Hôn nhân đã khiến em trải nghiệm thứ gì đó tựa như cuộc cách mạng mà em đang nỗ lực giải thích cho anh. Sợi dây trói buộc từng khiến em kinh hoàng ấy đã giải cứu em khỏi một nhà tù còn kinh hoàng khủng khiếp hơn nhiều; và người chồng trở nên thân thương hơn với em vì đã trả em về với chính mình.
Thế nhưng anh và em từng gắn kết quá đỗi khăng khít, khiến một sự thay đổi thế này không thể phá hủy sự hòa hợp giữa đôi ta. Nếu anh đánh mất một người tình đằm thắm, anh sẽ thu về một người bạn thủy chung; và dù chúng ta từng tưởng tượng thế nào trong trạng thái u mê, em không thể tin rằng sự biến đổi ấy lại mang tính bất lợi cho anh. Xin anh, em khẩn nài, hãy để nó khích lệ anh đưa ra quyết định tương tự mà em vừa thiết lập, để trở nên khôn ngoan và đức hạnh hơn mai sau, đồng thời thanh tao hóa những bài học triết lý thông qua các giới luật từ đạo đức Ki-tô giáo. Em sẽ chẳng bao giờ thực sự hạnh phúc, trừ khi anh cũng thụ hưởng niềm vui, và em càng thấm thía hơn bao giờ hết rằng chẳng có hạnh phúc đích thực nào nếu thiếu vắng đức hạnh. Nếu anh chân thành yêu em, hãy ban cho em sự an ủi dễ chịu để nhận thấy trái tim đôi ta đồng điệu trong hành trình quay về với đức hạnh, hệt như cách chúng từng u mê đồng thuận trong bước đường lạc lối.
Em chẳng cần phải đưa ra bất kỳ lời cáo lỗi nào cho độ dài của bức thư. Giả sử anh kém phần quan trọng đối với em, em đã rút ngắn nó lại rồi. Trước khi khép lại, em có một thỉnh cầu muốn ngỏ cùng anh. M. Wolmar là một kẻ xa lạ đối với hành vi quá khứ của em; thế nhưng sự chân thành thẳng thắn là một phần bổn phận em nợ ông ấy; em suýt đã thổ lộ lời thú nhận ấy cả trăm lần; chỉ có một mình anh kìm chân em. Dù em hiểu rõ sự cẩn trọng và ôn hòa của M. Wolmar, việc nhắc đến tên anh luôn đồng nghĩa với việc đưa anh lên bàn cân so sánh, và em không muốn làm điều ấy nếu không có sự đồng thuận từ anh. Liệu thỉnh cầu này có thể khiến anh khó chịu hay không, và khi em ảo tưởng rằng mình sẽ nhận được sự cho phép từ anh, phải chăng em đang đặt quá nhiều hy vọng vào anh hoặc vào chính mình? Xin anh hãy ngẫm nghĩ, em khẩn nài, rằng sự dè dặt này vốn mâu thuẫn với sự trong trắng, rằng nó ngày càng trở nên không tài nào chịu nổi, và rằng em sẽ chẳng có lấy một khoảnh khắc an ổn nào cho đến khi nhận được hồi âm từ anh.