Tiếng chuông cửa ầm ĩ đổ từng hồi phá tan bầu không khí im lặng rầu rĩ của căn nhà, tôi ngừng đi đi lại lại.
Tôi cảm thấy niềm hy vọng phi lý đang dâng lên. Liệu đó có phải là Robert? Anh ấy quên mang chìa khóa chăng? Nhưng tôi biết là không phải. Tôi biết chính xác đó là ai.
Đấy là cảnh sát, họ đến đây vì tôi đã gọi điện báo cho họ.
Lẽ ra tôi nên biết chuyện gì có thể xảy ra. Lẽ ra tôi nên hiểu rõ hơn những gì Robert đang muốn nói cho tôi biết, thông qua tất cả mọi thứ dù chẳng phải ngôn từ. Đã ba tiếng đồng hồ trôi qua kể từ lúc anh ấy ra đi cùng các con của tôi, từng khớp xương, sợi cơ trong người tôi đều đang đau đớn vì mất chúng.
Các con của tôi đâu?
Phải chăng đã có một vụ tại nạn? Làm ơn không phải vậy.
Ý nghĩ ấy ập vào tôi như một cú đánh, những hình ảnh sống động hiện ra trong lớp màn đen bên dưới mí mắt đang khép chặt của tôi. Tôi mở mắt ra, nhưng vẫn hình dung được chúng ở phía sau xe Robert trong một cái rãnh dưới một ngõ hẻm tối tăm, bị húc văng ra khỏi đường bởi một gã tài xế điên rồ nào đó, nằm đấy chờ được người ta phát hiện. Tôi nhìn thấy máu trên trán chúng và nghe ngóng tiếng gào khóc của chúng trong tâm trí, chỉ để biết rằng chúng còn sống. Nhưng tôi chẳng thể nghe thấy gì ngoài tiếng chim hót vọng qua cửa xe để mở. Cũng không thể nhìn thấy Robert trong khung cảnh này.
Những hình ảnh ấy thật đáng sợ và khủng khiếp, tôi thật sự không tin họ đã gặp tai nạn. Trong tâm khảm, tôi biết có thể đó là chuyện gì khác. Chuyện gì đấy còn hung hiểm hơn nhiều.
Khi tôi ra mở cửa, một viên cảnh sát còn trẻ với bờ vai rộng đang đứng đó, trông thật đường bệ và uy quyền trong chiếc áo giáp gi lê cùng sơ mi ngắn tay. Tôi biết anh ta sẽ hỏi gì, và biết rõ thủ tục. Giống y hệt lần trước.
Tôi tự hỏi không biết anh ta có biết tôi là ai hay không. Liệu anh ta có biết Olivia Brookes gọi điện tối nay cũng chính là Liv Hunt gọi đến bảy năm trước vì bạn trai của cô ta mất tích không? Liệu điều đó có tạo ra khác biệt gì hay không?
Thậm chí sau ngần đấy năm, tôi vẫn còn gặp ác mộng về cái đêm khủng khiếp ấy, lần nào cũng choàng tỉnh với mồ hôi ướt sũng và lạnh toát. Bạn trai tôi đã gọi tới báo rằng anh ấy đang rời thư viện đại học và sẽ sớm gặp tôi. Đi bộ về nhà không mất quá nhiều thời gian, nhưng hai tiếng sau anh ấy vẫn không về. Tôi đã như phát điên. Tôi nhớ mình ôm ghì lấy đứa con gái bé bỏng, thì thầm với nó, “Ba sắp về nhà rồi, con yêu,” Jasmine không hiểu được điều đó. Khi ấy, nó mới có hai tuổi. Nhưng đó vẫn là lời nói dối. Dan không bao giờ trở về nhà, tôi cũng chẳng bao giờ gặp lại anh ấy nữa.
Tôi đã tưởng không có gì tồi tệ hơn nỗi sợ hãi mình cảm thấy đêm hôm đó, hàng tiếng chờ đợi đằng đẵng, tự hỏi chuyện gì có thể xảy ra với Dan yêu dấu của tôi.
Nhưng tôi đã nhầm, bởi vì lần này còn tồi tệ hơn nhiều. Lần này, nỗi sợ hãi giống như trái bóng mạnh, nện rất đau vào ngực, đầu và ruột gan của tôi.
Viên cảnh sát muốn biết được chi tiết, dĩ nhiên rồi. Anh ấy muốn biết tại sao tôi lại lo lắng tới vậy. Bọn trẻ đi cùng cha của chúng, nên chắc chắn chẳng có gì phải lo lắng đến thế? Tôi đã thử gọi di động cho anh ấy chưa? Tôi không nghĩ mình cần trả lời câu hỏi đó.
Robert rời đi lúc sáu giờ. Anh ấy nói muốn đưa bọn trẻ ra ngoài ăn pizza. Lẽ ra tôi nên đi cùng họ, nhưng anh ấy dứt khoát nói rằng muốn dành thời gian một mình với các con. Lạy Chúa, tôi căm ghét phải thừa nhận việc này, nhưng tôi đã thấy rất vui sướng. Xét từ cảm nhận của tôi về anh ấy, tôi nghĩ đây sẽ là một thói quen tốt khi chúng tôi không còn sống cùng nhau. Vậy là tôi để họ đi.
Tiếng đồng hồ đầu tiên trôi qua, mọi việc vẫn ổn. Tôi không mong họ quay về, cũng đã tìm được những công việc khiến mình bận rộn. Tôi biết Robert sẽ không ăn pizza; anh ấy muốn ăn tối một mình với tôi sau khi các con đi ngủ. Vậy là tôi bắt đầu làm món ớt - một trong những món yêu thích của anh ấy - như một lời cảm ơn vì đã đưa các con ra ngoài.
Sau khi làm xong mọi thứ mình có thể nghĩ ra, tôi quay trở vào phòng khách nhưng có cảm giác thật trống trải. Ít nhất tôi chưa bao giờ không có lấy một đứa con bên mình, ngoại trừ lúc chúng đi ngủ. Jasmine đang ở trường, dĩ nhiên rồi, song Freddie chỉ mới hai tuổi nên nó ở bên tôi suốt ngày, Billy thì ở trong phòng dành riêng cho em bé, nhưng chỉ vào buổi sáng.
Căn nhà có cảm giác trống rỗng, như thể không khí đã bị hút cạn, bỏ lại một khoảng không im ắng và lạnh lẽo. Nhìn gian phòng khách bằng một nhãn quan mới - nhãn quan của cái tôi mới không còn thân thiện - tôi nhận ra rằng chúng tôi đã tạo ra một không gian cằn cỗi làm sao. Chúng tôi tiếp nhận ý tưởng về một bảng màu trung tính ở cấp độ hoàn toàn mới, không hề trông thấy một mảng màu hoặc một món đồ cá nhân nào; chẳng có lấy một bức ảnh trẻ con hay một thứ đồ trang trí ngẫu nhiên được mua do ý thích bất chợt. Mỗi bức tranh đều được lựa chọn không phải vì cảm xúc nó mang lại, mà là sự trung tính tuyệt đối của nó hòa hợp hoàn toàn với những gì vô thưởng vô phạt xung quanh. Mọi thứ đồ trang trí đều được lựa chọn vì kích cỡ của chúng, nhằm tạo ra sự cân đối hoàn hảo. Dĩ nhiên, Robert không thích sự hiện diện của những món đồ chơi trong căn phòng này.
Ai sống ở đây?
Có thể là bất cứ ai. Có lẽ, với Robert, nội thất trang trí là kết quả tất yếu của việc sống trong căn hộ của tôi quá lâu, nơi những bức tường màu cam và vải phủ màu xanh ngọc có vẻ kết hợp rất tài tình với nhau. Nhưng những sắc màu đó toát lên vẻ hân hoan. Còn căn phòng này nói với bạn điều gì?
Chẳng gì cả.
Tôi đã trả lời tất cả các câu hỏi mà viên cảnh sát đặt ra. Chúng tôi đã quyết định rằng Robert sẽ không đưa bọn trẻ tới thăm gia đình hay bè bạn sau bữa ăn. Cả Robert và tôi đều không có gia đình. Cha mẹ tôi đã mất nhiều năm trước, khi Jaz vẫn còn bé, còn Robert thì chưa bao giờ biết mặt cha mình. Mẹ anh ấy mất khi anh ấy còn nhỏ, chúng tôi đều không có anh chị em. Đó là sự thật nghiệt ngã, lạnh lùng, không có sự lựa chọn nào cả.
Nhưng làm sao tôi có thể giải thích được rằng tôi không thể nghĩ ra người bạn nào mà anh ấy có thể tới thăm cùng với bọn trẻ? Tại sao chúng tôi lại đơn độc đến vậy? Cô đơn đến vậy?
Nhưng tôi biết tại sao. Robert muốn tôi là của riêng anh ấy. Tôi không phải là để đem chia sẻ.
Lẽ ra tôi nên biết có gì đó không ổn khi anh ấy muốn đưa bọn trẻ ra ngoài mà không có tôi. Đó là việc anh ấy chưa bao giờ làm. Giá như tôi lắng nghe, thật sự lắng nghe, những gì anh ấy nói, tôi đã có thể ngăn chặn được việc này trước khi quá muộn.
“Olivia.” Anh ấy nói, “Một người cha đưa con mình ra ngoài ăn pizza chẳng có gì lạ lùng cả, phải không? Nói cho cùng, một số ông bố đã từng tự mình chăm nom con cái mà.”
Có phải Robert đã cố gắng nói cho tôi biết gì đó? Có phải anh ấy đã đoán ra được cảm giác của tôi? Nếu là ai khác không phải Robert, tôi đã nghĩ rằng rất có thể - chỉ là có thể thôi - anh ấy đã chấp nhận chuyện tôi có thể rời bỏ anh ấy và anh ấy sẽ cố chứng minh mình có thể tự xoay xở được. Nhưng đây không phải là ai khác. Mà đó là Robert, chẳng có gì thẳng băng cả.
Trong đầu tôi đã dượt qua mọi kịch bản có thể nhằm lý giải xem họ hẳn đã đi đâu, từng kịch bản đều khiến tôi khiếp sợ. Tôi không biết hình ảnh nào tồi tệ hơn: Hình ảnh các con tôi đang bị tổn hại nằm đâu đó, hay một nỗi sợ khác của tôi. Cái nỗi sợ tôi không dám thốt nên thành lời.
•••
Giờ đã mười một giờ. Năm tiếng đồng hồ đã trôi qua kể từ lúc tôi ôm thân hình ấm nóng của Freddie trong vòng tay và hít lấy mùi hương ngọt ngào của nó. Tôi không sao chịu đựng được cái ý nghĩ thằng bé đang cảm thấy hoang mang. Và Billy, thằng bé cần phải ngủ. Nó sẽ trở nên cáu bẳn khi bị mệt. Còn Jasmine đáng yêu của tôi sẽ muốn được ở nhà với mẹ lúc này; nó chưa bao giờ thích tôi ở xa nó và thường suy nghĩ quá nhiều so với một đứa trẻ bảy tuổi.
Nếu Robert mang chúng trở về nhà an toàn, tôi sẽ quên hết những ý tưởng ra đi ngu ngốc của anh ấy. Tôi sẽ học cách sống với việc xem xét thật thấu đáo, chừng nào các con tôi không bị làm hại.
Hãy mang chúng trở về đi, Robert.
Cảnh sát đã lục soát toàn bộ căn nhà giống như lần trước khi tôi mất đi Dan, như thể tôi đang giấu con mình đâu đó. Họ còn ra ngoài, gõ cửa và đánh thức hàng xóm dậy. Họ đã nhìn thấy gì? Họ biết được những gì?
Giờ đang có thêm nhiều cảnh sát đến hơn nữa. Lần này là các thám tử.
“Chị Brookes?” Mạch suy nghĩ của tôi bị gián đoạn bởi một giọng nói. Tôi ngước lên nhìn vào đôi mắt dịu dàng của một phụ nữ trông không già hơn tôi là mấy, nhưng chắc lớn tuổi hơn vì tất cả mọi người đều gọi cô ấy là bà.
“Chị có phiền nếu tôi gọi chị là Olivia không? Tên tôi là Philippa. Tôi e rằng chúng tôi đã gọi tới tất cả các quán pizza trong vùng, không ai nhớ ra đã từng nhìn thấy chồng và các con chị.”
“Có khi họ đã thay đổi ý định và chuyên sang ăn burger. Họ có thể đã làm thế, phải không?” Tôi cố tìm lời giải, tất cả chúng tôi đều biết là như vậy.
“Tại sao chị không đi cùng họ, Olivia?”
Tôi biết trả lời câu đó thế nào đây? Tôi không biết. Anh ấy chưa bao giờ làm như thế này trước đó cả. Tôi cảm thấy mình phải nghĩ ra chuyện gì đấy, mặc dù tôi không biết tại sao.
“Robert nghĩ tôi bị mệt, sẽ tốt hơn nếu nghỉ ngơi một chút. Anh ấy đang cố gắng giúp tôi.”
“Công việc của chị rất căng thẳng phải không? Đó có phải là lý do khiến chị mệt mỏi không? Hay lũ trẻ quấy chị chăng?”
Cô ấy nghĩ tôi làm hại con mình sao?
“Chúng là những đứa trẻ ngoan - tôi đảm bảo với chị điều đó. Và tôi không làm việc. Chăm sóc lũ trẻ và Robert đã là quá đủ rồi.”
Tôi chưa bao giờ thật sự làm việc, ngoài vài tháng trước khi có Jasmine. Khi kỳ nghỉ thai sản của tôi kết thúc, Robert đã ngỏ lời cầu hôn với tôi và anh ấy không muốn tôi đi làm tí nào. Anh ấy muốn tôi ở nhà, chăm sóc anh ấy, việc đó rất phù hợp với tôi. Nhưng giờ tôi không biết tại sao mình lại đồng tình với quyết định đó. Đồng ý trở thành một kẻ vô danh tiểu tốt theo đúng khả năng của mình.
Những câu hỏi cứ liên tiếp xuất hiện, nhưng tất cả những gì tôi muốn làm lúc này là hét vào mặt họ. Hãy thôi đặt ra những câu hỏi ngớ ngẩn. Mà hãy tập trung vào tìm các con của tôi đi.
“Tôi rất tiếc phải hỏi chị, Olivia - nhưng chị có phiền khi đi lên gác cùng với một sĩ quan của tôi không? Chúng tôi muốn chị kiểm tra xem liệu có gì đó của bọn trẻ bị mất không. Quần áo, đồ chơi yêu thích, sách vở. Chị biết những loại đó mà.”
Sao cơ? Tôi trân trối nhìn cô ấy hồi lâu, không thốt nên lời. Tại sao lại có gì đó bị mất chứ?
Tôi gượng đứng lên khỏi sô pha, cảm thấy mình như một phụ nữ già gấp ba lần tuổi thật trong khi đôi chân căng cứng đang cố chống đỡ trọng lượng của mình. Tôi không biết họ đang nghĩ gì, nhưng chuyện này thật nực cười. Tại sao lại có gì đó bị mất chứ? Cái ý nghĩ ấy quay cuồng trong đầu tôi như cuộn băng giấy của máy in điện báo.
Một thám tử theo tôi lên gác, tôi nhận ra anh ta nhưng không nghĩ được là tại sao. Chuyện đó cũng chẳng thành vấn đề. Tôi quyết định bắt đầu từ phòng của Jasmine, chỗ mà tôi biết là sẽ rất gọn gàng nên sẽ dễ nhìn ra liệu mọi thứ có đâu vào đấy như thường lệ hay không.
Tôi bước tới bên giường và nhấc chăn phủ lên, chắc mẩm sẽ nhìn thấy Lottie - con búp bê vải của Jaz - đang nằm trên gối. Nhưng nó không ở đó. Tôi hất ngược chiếc chăn lông vịt.
Lottie đâu rồi? Dù đã bảy tuổi, Jaz vẫn rất thích để Lottie trên giường, song giờ đây không hề có dấu hiệu gì của nó. Tôi nhìn viên cảnh sát đầy đau khổ, nhưng anh ta chỉ nhìn tôi và chẳng nói gì cả.
Tôi chậm rãi đi tới tủ quần áo, gần như không muốn mở nó ra. Nhưng anh ta vẫn nhìn theo tôi. Tôi kéo nhẹ tay cầm, như thể nếu làm việc đó thật chậm thì sẽ thay đổi được kết quả. Cái ba lô màu hồng của Jasmine không còn nằm trên ngăn. Đột nhiên tôi giống như nổi điên, gạt hết những chiếc mắc áo choàng tới lui và mở tung mọi ngăn kéo.
“Khôoooong!” Tôi rên lên, kéo dài từ đơn đó thành chuỗi dài. Quần áo của con gái tôi đâu?
Tôi nghe tiếng chân rầm rập đi lên gác, Philippa xuất hiện ở cửa. Cô ấy đi tới chỗ tôi, nắm lấy cánh tay tôi. Cô ấy không cần phải đặt ra câu hỏi - bởi từ nét mặt của tôi, cô ấy đã có thể nói được chuyện gì xảy ra. Tôi cố gắng không thừa nhận điều đó với bản thân, nhưng giờ tôi phải đối diện với sự thật.
Anh ấy đã lấy mất các con của tôi.