Đến cuối ngày, Tom đã sẵn sàng trở về nhà. Anh rất cần có thời gian suy nghĩ, nhà anh có cái không khí tĩnh mịch mà anh đã nhận thấy ngay từ lần đầu tiên đến xem. Mẹ anh thường nói rằng những căn nhà đều hấp thụ tính cách của gia đình từng sống trong đó và anh đã đem chuyện ấy ra chọc bà một cách không thương tiếc. Nhưng nếu bà nói đúng thì căn nhà này hẳn đã chứng kiến những giây phút hạnh phúc, bình yên và lúc này đó chính là những gì anh cần.
Dĩ nhiên anh vẫn còn căn nhà gỗ ở Cheshire, rất tuyệt vời cho những kỳ nghỉ cuối tuần rảnh rỗi, đặc biệt là khi con gái anh, Lucy có thể về sống cùng với anh, nhưng nó hơi quá xa để đi lại hằng ngày. Năm mươi dặm không có xe cộ gì thì được, nhưng đường sá quanh Manchester đều đông nghẹt vào giờ cao điểm, mà anh thì cần đến nhiệm sở thật nhanh những khi cấp bách.
Tom đã mất một thời gian để tìm được căn nhà này, bởi anh vẫn chưa sẵn sàng đến ở trong một căn nhà lạnh lẽo khác sau căn nhà mình đã có ở London, anh biết rằng khi lớn lên, Lucy chắc chắn sẽ muốn có thêm thời gian ở Manchester - các cửa hàng, rạp chiếu phim, những nơi gặp gỡ bạn bè. Cụm từ “câu lạc bộ” nảy lên trong trí óc và anh nhún vai, cảm ơn Chúa vì còn một vài năm nữa anh mới phải lo lắng đến chuyện đó.
Chính anh đã có ý định ở lại Manchester trong tương lai, nên anh quyết định rằng mình sẽ mua một căn nhà, vì tiền bạc đối với anh không thành vấn đề. Nó quá rộng cho một mình anh, nhưng khi đến xem, anh phải lòng nó ngay lập tức. Mặc dù đây là một căn nhà chung tường xây bằng gạch đỏ ở nam Manchester, nhưng nó lại mang các đặc điểm thời Edward rất lạ khiến anh thấy thích thú. Các phòng đều rộng rãi với trần cao, trong phòng khách có hẳn vòm cuốn phía trước hai cửa sổ nhô ra hẳn, cả hai đều còn nguyên lớp kính màu nguyên bản. Sảnh đủ rộng để đặt bàn làm việc, với cái bếp lò xinh xắn, đây sẽ là một nơi ấm cúng để làm việc. Hai cái giá sách thấp chất đủ loại tiểu thuyết và ván sàn trải thảm màu tạo thành một lối vào rất hiếu khách.
Lúc mở cửa trước và bước vào trong, anh có cảm giác đôi chân căng cứng của mình đã bắt đầu dịu xuống, rồi đặt cặp xách cùng chìa khóa xuống bàn, cởi áo khoác vắt lên lưng ghế trước khi đi vào bếp. Bên ngoài trời vẫn sáng vì giờ mới là cuối buổi một ngày tháng Sáu rực rỡ, nên anh vớ lấy một chai bia lạnh và mang nó ra vườn.
Vườn tược không thật sự là gu của Tom. Đâu đó sâu trong tâm trí, anh đã nghĩ trong tương lai, mình có thể sẽ quan tâm đến việc trồng rau và hoa quả, nhưng chỉ là để anh có thể nấu ăn thôi. Lúc này đây, anh đang phải trả tiền cho một người làm vườn để coi sóc mọi việc. Thật xấu hổ, nhưng thế là cần thiết. Nếu anh không đơn giản hóa mọi việc thì ngày nào anh cũng phải vật lộn với máy cắt và cào cỏ, như thể anh sẽ chẳng còn nhiều thời gian cho Lucy hay Leo.
Lúc đứng nhìn những luống hoa được chăm sóc rất đẹp của mình, tâm trí Tom bỗng nhớ tới vụ đột nhập vào căn nhà gỗ của anh ở Cheshire, tới Jack. Nếu không có anh trai, Tom sẽ chẳng bao giờ mua nổi căn nhà này hay căn nhà ở Cheshire. Anh vẫn đang phải chu cấp cho vợ cũ, người dường như cảm thấy chẳng có nghĩa vụ gì mà phải kiếm sống cả. Nhiều lúc anh tự hỏi mình sẽ xoay sở thế nào nếu không có số tiền của Jack, mặc dù anh sẽ rất vui vẻ sống trong một căn buồng nho nhỏ nếu việc đó khiến anh trai anh quay trở về.
Nhưng điều anh không thể hình dung được là tại sao lại có ai đó muốn số giấy tờ của Jack. Anh ấy đã mất hơn bốn năm rồi, Tom chỉ vừa mới lấy lại số giấy tờ từ văn phòng luật sư. Anh đã quyết tâm xem xét lại tất cả khi anh đang nghỉ phép, nhưng cuối cùng kỳ nghỉ đó lại bị rút ngắn bởi lời đề nghị đầy bất ngờ đến đảm nhận vị trí đội trưởng điều tra ở Manchester, nên anh chẳng còn thời gian làm việc ấy nữa. Theo lời luật sư, tiền bạc tài sản của Jack đều hợp lệ, đây chỉ toàn là giấy tờ cá nhân, nên chẳng việc gì phải vội vàng.
Một ký ức vụt nảy đến trong tâm trí. Khi Jack mất, bạn gái anh ấy đã ra sức nói rằng cô ta là người thừa kế hợp pháp hàng triệu bảng của Jack. Nguyện vọng của anh trai anh rõ ràng là tiền phải chuyển cho Tom, nhưng bạn gái anh ấy, Melissa, lại tranh chấp khoản đó song đã thua cuộc. Cô ta chỉ ở cùng Jack khoảng sáu tháng, một lựa chọn vội vàng. Jack là một thiên tài hơi điên khùng, anh ấy cần sự tĩnh tại, bình yên xung quanh mình. Trong khi đó, Melissa lại khiến Tom liên tưởng đến một con mèo Miến Điện - ưỡn ẹo, xinh đẹp, rên ư ử và cọ người vào người bạn, thèm khát được chú ý. Cho tới khi cô ta nổi khùng lên, nanh vuốt đều được khoe ra cả. Thực tế, Tom nhớ mình đã từng hỏi Jack rằng anh ấy đang chơi trò quái quỷ gì vậy. Trước khi gặp Melissa, Jack có một mối quan hệ kéo dài vài năm với một phụ nữ tên Emma. Chị ấy là thái cực đốilập hoàn toàn với Melissa. Chị ấy có nụ cười khiến cả căn phòng bừng sáng. Mối quan hệ của họ dường như rất bền chắc, rồi đột nhiên cứ như thể anh ấy đã mất trí.
Khi các điều khoản di chúc được công bố và Melissa tranh giành rồi thất bại trong cuộc chiến giành tiền bạc của Jack, cô ta nói rằng cho dù không thể có tiền thì cô ta vẫn muốn thứ gì đó của Jack và đã làm đơn gửi luật sư yêu cầu trả giấy tờ của Jack cho cô ta. Nhưng luật sư từ chối, Tom đã quên bẵng tất cả chuyện đó. Cho tới tận lúc này.
Thật sự anh không biết tại sao, nhưng vẫn rút điện thoại di động từ trong túi quần ra.
“Steve à? Tom Douglas đây. Xin lỗi làm phiền anh, nhưng tôi không biết anh giúp tôi một việc có được không?”
Tom đã đề nghị Steve đến căn nhà và lấy chìa khóa dự phòng từ chỗ cất giấu, sau đó mang hết toàn bộ số giấy tờ tới nơi nào đó an toàn. Anh không biết tại sao việc này lại có cảm giác như một ý tưởng hay ho, nhưng thật đúng là vậy. Và chừng nào vụ việc này chấm dứt, anh mới có thể dành thời gian cho số giấy tờ ấy.
Tom kết thúc cuộc gọi với lời hứa hẹn sẽ cùng Steve cụng ly một ngày nào đó trong tương lai, rồi gạt bỏ mọi ý nghĩ về số giấy tờ của Jack ra khỏi tâm trí. Anh cần trở lại với công việc.
Chuyện đã khiến anh khó chịu cả ngày hôm nay, chuyện liên quan đến cái chết của cha mẹ Olivia Brookes.
Anh lấy chiếc cặp trong sảnh và rút tập hồ sơ ra.
•••
Sophie thấy nhẹ người vì mẹ cô được khuyên nên ở lại bệnh viện thêm một ngày nữa. Cô đang có rất nhiều việc phải làm, thật sự lo lắng khi phải để bà ở nhà một mình. Từ giờ trở đi, bà cụ tội nghiệp có lẽ sẽ rất đỗi sợ hãi.
Sophie đã sắp xếp cho một công ty thiết bị báo động đến xem xét căn nhà, họ đề xuất lắp một thiết bị báo động ngay cạnh giường mẹ cô. Họ cũng sẽ thay đổi hệ thống khóa Yale bằng khóa năm chốt, như thế cô có thể an tâm các cửa đều chắc chắn khi cô phải ra ngoài. Ít nhất nếu Robert Brookes quyết định ghé thăm một lần nữa, hắn sẽ gặp phải đôi chút khó khăn.
Nhưng Sophie không nghĩ hắn sẽ quay trở lại. Hắn đang thực hiện nhiệm vụ của mình, cô hy vọng Liv đã xóa hết mọi dấu vết. Nếu may mắn, cô ấy có thể ẩn mình trước Robert mãi mãi, bởi vì cô ấy không thể quay lại một cuộc sống thiếu vắng tự do, một cuộc sống mà từng giây phút trong ngày của cô ấy đều bị theo dõi chặt chẽ bởi một gã đàn ông đủ điên khùng để bày mưu tính kế giữ rịt cô bên hắn. Hắn cũng là loại người rất có khả năng bạo lực, mặc dù theo cô biết thì cho đến giờ hắn chưa từng động một ngón tay vào Olivia. Chưa thôi.
Trong khi đó, có vài việc Sophie sẽ phải làm, một trong số đó là đáp lại một số người vì những gì họ đã làm. Cô đã nghĩ ra kế hoạch trả tiền với giấy tờ giả mang tên Lynn Meadows, gửi đi bằng tiền mặt. Nhưng việc làm video thì khác. Việc đó cần biên tập và đăng tải từ xa.
Sophie không nghĩ ra được lý do gì khiến cô bị chú ý hoặc nhận diện, nhưng cô cảm nhận được sự lo lắng lúc đi dọc theo một ngõ hẹp ở khu Northern mới cải tạo của Manchester, thỉnh thoảng lại lén nhìn qua vai. Chẳng hiểu thế nào mà lối ngõ này dường như bị bỏ qua trong đợt cải tạo tại địa phương, nó thiếu hẳn không khí vui tươi lẫn sức sáng tạo của không gian xung quanh. Cô không hề tưởng tượng, nhưng có cảm giác như thể những gương mặt xanh xao đang núp phía sau ô cửa sổ tối om, theo dõi và thắc mắc xem cô đang làm gì ở đây. Trời chỉ vừa sẩm tối, có cảm giác đây không phải là chỗ hay ho để ở lại - đặc biệt là khi cô hoàn toàn không thể chiến đấu. Cô đang rất đau chân, có vẻ là mục tiêu dễ dàng cho bất kỳ kẻ nào tìm kiếm một con mồi.
Cô tiến lại một cánh cửa nâu thẫm, lớp sơn cũ kỹ đã bong tróc. Có một ổ chuông trên tường. Không có tên. Cô nhấn nút và chờ đợi.
Sau khoảng ba mươi giây kéo dài, cô nghe tiếng o o và lạch xạch khi cửa mở. Cô không thấy được đề nghị xưng danh, nhưng cô biết mình đang bị theo dõi. Stuart sẽ không bao giờ để ai vào trừ phi anh ta biết chắc họ an toàn.
Cô lê bước lên hai nhịp cầu thang bê tông tối om, cái chân đau tạo ra những cơn đau dường như chạy lên đến tận đầu theo từng bước chân cô. Thằng khốn Robert Brookes. Công việc chết tiệt. Khi lên đến đỉnh, cô dừng lại để thở. Không phải việc leo thang khiến cô thấy kiệt sức mà chính là cơn đau. Mồ hôi nhỏ thành giọt trên trán cô, nhưng cô móc lấy một tờ giấy thấm trong túi, tặc lưỡi có phần hơi bực bội vì sự yếu đuối của mình, và lau mặt cho khô.
Khi đã hồi lại sức, cô mở một cánh cửa nữa, đụng ngay phải không gian tối tăm trong phòng thu của Stuart. Mặc dù cầu thang đã tối, nhưng nơi này khiến sự tối tăm đạt đến một cấp độ khác, thứ ánh sáng duy nhất đến từ chiếc màn hình đã bị che khuất một phần bởi đầu của Stuart. Anh ta không quay lại.
“Có tiền chưa?” Anh ta hỏi, trong khi vẫn xoay cần điều khiển trên thiết bị biên tập của mình.
“Thế tôi đến đây làm gì?” Cô đáp lại với giọng điệu bặm trợn chẳng kém.
Lúc tiến sâu hơn vào phòng, cô có thể nhìn rõ gương mặt Stuart được chiếu sáng nhờ màn hình đang nhấp nháy. Đôi mắt to, nổi bật của anh ta dường như sắp lồi ra khỏi đầu, nhưng chúng là thứ duy nhất to ở anh ta. Anh ta hốc hác như một cành củi, hình thù đầu anh ta chẳng khác gì một tam giác ngược - to phía trên đỉnh để chứa được đôi mắt, rồi hẹp lại về phía chiếc cằm nhọn với khuôn miệng mím chặt. Mớ tóc bết lại xòa xuống vầng trán rộng, được vén ra sau tai như con gái. Trong lúc xoay cần điều khiển bằng một tay, anh ta dùng tay kia nặn một cái trứng cá ung.
Stuart là tay cừ nhất, Sophie tin tưởng rằng anh ta sẽchẳng bao giờ nói một lời với bất kỳ ai về những gì mình nhờ anh ta làm. Cuộc sống của anh ta ngoài nhà tù đều phụ thuộc vào chuyện này bởi vì cô biết nhiều về anh ta hơn anh ta biết về cô. Cô có thể buộc anh ta làm không công, nhưng rất có khả năng anh ta sẽ phá hỏng mọi việc, dường như trả tiền cho anh ta cũng đáng.
Cô dựa vào tường, trút bớt sức nặng khỏi cái chân đau khi nhìn anh ta trình diễn màn ảo thuật của mình. Anh ta hoàn toàn không phải loại đàn ông dễ mến, nhưng cô bị hấp dẫn bởi tay nghề của anh ta. Anh ta có thể chọn chính xác những gì cần thiết để biên tập thành một thứ hoàn hảo, làm nhanh đến mức khiến cô phải nín thở.
“Anh làm giỏi lắm, Stu. Hết chê.”
“Đương nhiên.” Anh ta trả lời, không hề rời mắt khỏi màn hình.
“Anh nghĩ mất bao lâu cảnh sát sẽ chú ý đến?”
“Tất cả tùy thuộc vào việc họ có tay nào cừ khôi để xử lý hay không. Một số tay cũng gớm lắm, nhưng một số thì hoàn toàn vô dụng chẳng nhìn thấy được những thứ vốn rành rành ra đấy dù có thúc vào đít.”
“Chậc, tôi đoán chúng ta sẽ phải đợi xem sao.” Sophie đáp lời. Nhưng phải có tác dụng.
“Tôi phải nói rằng có người thật sự là tay khôn ngoan đấy.” Stuart nói.
“Thế thì sao?”
“Chà, có rất nhiều thứ tinh vi trong các cảnh quay. Cái bình thủy tiên thật sự là một trong số đấy. Nó không nằm ở trung tâm màn hình - chẳng có gì rõ ràng cả - nhưng vẫn có thể thấy được nó. Một tay cừ chịu tập trung sẽ nhận ra ngay thôi. Và ngày hôm sau bình hoa biến mất, đến hôm sau nữa lại thấy xuất hiện đúng vị trí ấy. Rồi còn quần áo nữa - có rất nhiều thứ tôi mong rằng ngay cả một thư ký trường quay có kinh nghiệm cũng phải nhầm, nói gì đến người nào đó chưa bao giờ làm những chuyện như thế này.”
“Có lẽ từng mua Kịch bản phim cho người đàn hay gì đó.” Sophie nói xẵng, đẩy người rời khỏi bức tường.
Stuart xoay người nhìn cô. “Có cả thứ đó à?” Anh ta hỏi, với vẻ ngạc nhiên.
“Tôi biết đâu. Bịa đấy, anh dốt thật.” Sophie càu nhàu. “Mà này, anh chàng thiên tài, tiền của anh đây. Tất cả đấy, thêm một chút tiền thưởng vì anh thật sự làm rất tốt.”
Sophie đặt một phong bì lên bàn, gạt một hộp bìa cứng trông như thể đang có ít nhất một chiếc pizza hỏng bên trong. Cô cẩn thận không di chuyển bất kỳ cốc cà phê uống dở nào. Cô từng làm thế một lần và Stuart đã gào lên với cô. Nếu cô đánh đổ bất kỳ thứ gì lên các thiết bị quý giá của anh ta, chắc chắn cô sẽ chết ngay lập tức.
“Cô trả tiền Mack chưa?” Stuart hỏi, không hề ngoái đầu lại. “Bởi vì khi chuyển các địa chỉ liên hệ của mình, tôi muốn kiểm tra xem chúng có được xử lý ổn thỏa không.”
“Dĩ nhiên là xong rồi.” Sophie nhìn khuôn mặt như người ngoài hành tinh rất kỳ lạ của Stuart với những hình ảnh nhảy nhót trên màn hình tạo thành vệt sáng trên đó. “Có thật anh ta tên Mack không?” Sophie hỏi. “Hay đó chỉ là biệt danh của anh ta - anh biết đấy, Mack Trùm Hacker?”
“Đừng bao giờ hỏi. Cũng đừng để tâm nhiều, nhưng anh ta đúng là một tay phù thủy bá cháy đấy. Mò vào rồi mò ra lịch sử FaceTime của thằng cha đó mà không để lại dấu vết nào. Xuất sắc chết đi được.” Anh ta lầm bầm. “Nhớ đóng cửa cho kỹ nhé.”
Stuart chẳng hề liếc mắt về phía cô, biết rằng câu này chính là lời chào tiễn chân mình, cô gắng hết sức cho hành trình trở xuống mấy đợt cầu thang chết tiệt kia.