Quãng đường càng ngắn lại, cảm giác sốt ruột càng tăng.
Cuối cùng thì vào cuối buổi sáng, Brady cũng đến được Kingston. Đường cao tốc hoàn toàn thông suốt, vậy nhưng chính những con đường bao quanh thành phố nhỏ này mới là nơi cho thấy tuyết đã rơi nhiều thế nào trong mấy ngày qua. Xe dọn tuyết đã ủi từng lớp tuyết trắng sang hai bên vệ đường thành những đống to. Cây cối trong khu rừng bao quanh Kingston chìa cành lá điểm trắng của mình phía trên đầu các phương tiện; và chỉ cần một cơn gió nhẹ thổi qua là kính chắn gió của xe sẽ phủ đầy lớp bột mịn.
Brady ngoặt vào lối rẽ đầu tiên trên đường và cho xe leo lên một quả đồi. Hàng cây thông thế chỗ cho thích và sồi, lớp lá kim của chúng bị sương băng phủ đầy. Con đường này chỉ được dùng để đi đến khu nhà nghỉ nên không phải tuyến đường được ưu tiên dọn tuyết, chiếc X5 của Brady khó nhọc leo dốc vì bị trượt bánh. Anh cố gắng đi theo những vết bánh xe có từ trước và cũng phải đổ mồ hôi lạnh mới lên được tới khoảnh đất bằng phẳng trước khu nhà nghỉ.
Chiếc xe bán tải của bà gác cổng đỗ trước căn nhà gỗ của bà ta.
Ban ngày, nơi đây trông còn hoang vu và dễ sợ hơn cả buổi tối. Những căn nhà nghỉ, cheo leo bên sườn đồi, nhô cao trên khu vực này, hoàn toàn biệt lập và khuất hẳn tầm nhìn. Brady phát hiện ra ba con hươu đang lảng vảng xung quanh những khu nhà vắng vẻ. Đây đúng là địa điểm lý tưởng cho Bộ tộc. Như bà già gác cổng đã nói với anh, vào mùa lạnh bà ta không có khách, vậy nên lũ ma cà rồng có thể tự cho phép mình làm mọi thứ đồi bại ở đây mà không bị làm phiền.
Chỉ có bà già gác cổng là có thể gây phiền phức.
Brady đã không hề để ý đến bà ta, chỉ vì bà ta có vẻ thật thà.
Vậy nhưng trong cuộc nói chuyện của Gunroe với Triponelli, hắn đã sợ rằng kẻ lạ mặt trong nhà hắn có thể chính là người đã đến lùng sục tại khu nhà nghỉ trước đó.
Làm sao chúng biết được rằng Brady đã lần ra địa điểm quay phim? Không ai có thể biết được. Lần này thì anh chắc chắn: Đêm đó, không có ai theo dõi anh, với thời tiết xấu như thế, không ai có thể lái xe lên đồi mà không bật đèn pha trong khi anh lại không phát hiện ra gì cả.
Chỉ còn một khả năng: Bà già gác cổng đã khai ra anh. Bà ta biết nhóm Bộ tộc. Quan hệ giữa họ phải hơn hẳn mối quan hệ giữa khách hàng và người bán. Bà ta đã giở thủ đoạn.
Brady dừng xe để thanh chắn đằng trước cách cửa ngôi nhà khoảng gần một mét rồi nhanh chóng vào trong, trước khi bà ta kịp nhấc điện thoại.
Vừa đi sang phía bên hành lang dẫn đến quầy lễ tân, anh vừa hét lên: “Bà Leunox?”
Anh vẫn nhớ cái tên mà bà ta tự xưng. Một cái tên giả ư?
Và tại sao hôm đó bà ta lại kể về Bộ tộc với anh chứ?
Để nhanh chóng thoát khỏi mình mà không khiến mình nghi ngờ gì. Để được yên thân. Bà ta không muốn bị phiền phức. Hơn nữa bà ta chỉ nói với mình những điều mình đã biết.
Người phụ nữ mảnh khảnh tóc bạc xuất hiện bên cánh cửa.
“Xin chào, tôi có thể giúp gì cho…” Bà ta ngưng bặt lúc nhận ra Brady và phải cố gắng mới nở được một nụ cười. “Ồ, là anh đấy ư? Tôi có thể giúp gì cho anh?”
“Đừng đóng kịch nữa, vô ích thôi, tôi biết là bà đã đùa bỡn tôi. Bà có biết Bộ tộc.”
“Sao cơ? Anh hiểu nhầm tôi rồi.”
Brady đấm mạnh xuống quầy lễ tân.
“Sự thật?” Anh hét lên.
Lennox lần dọc theo tường tìm cách tiến gần đến chiếc điện thoại.
“Tôi sẽ gọi cảnh sát,” bà ta nói.
Brady lao về phía chiếc máy, giật ra khỏi đường dây rồi đập xuống nền gạch vuông khiến nó vụn.
“Đừng dối trá nữa! Nói tôi nghe những điều tôi muốn biết và tôi sẽ để bà yên. Chúng là ai? Chúng đang ở đâu?”
“Tôi… Tôi không biết gì hết…” bà gác cổng hoảng sợ, lắp bắp.
“Một trong số bọn chúng là con trai bà à? Là kiểu quan hệ như vậy phải không?”
“Không phải!” Bà ta nổi đóa. “Đó là lũ súc sinh!”
“Cuối cùng thì chúng ta cũng có cùng ý kiến. Vậy cho tôi biết bà quan hệ thế nào với chúng! Chúng có bắt bà tham gia vào những bộ phim của chúng không?”
Brady nói nhanh như khẩu tiểu liên đang nhả đạn, những câu nói của anh tuôn ra nhắm thẳng vào mục tiêu với cả sức mạnh và sự giận dữ.
“Không! Chúng… Chúng… Tôi đã rất sợ hãi! Chúng đến vào một buổi tối, và lúc đó chỉ có mình tôi ở đây, đối diện với một nhóm toàn những kẻ lưu manh. Chúng trả tiền thuê căn nhà nghỉ trên cao và chúng thề rằng nếu tôi làm phiền chúng, hay nếu tôi bép xép với cảnh sát, chúng sẽ hãm hiếp tôi với những lưỡi dao lam! Loại đầu óc bệnh hoạn nào mới có thể nghĩ được mấy điều khủng khiếp vậy chứ? Tôi đã rất sợ, chỉ có vậy!” Bà ta vừa kể vừa khóc. “Sợ đến mức không dám nói với ngài cảnh sát trưởng, ông ta có thể làm được gì chứ?”
Brady hạ giọng, muốn chắc chắn về mọi chuyện:
“Đừng nói dối nữa, bà Lennox.”
“Tôi thề với anh đó là sự thật!” Bà ta phát bực. “Chúng đã trả gấp đôi, bằng tiền mặt, để cho tôi một phần và để tôi ngậm miệng lại. Tất cả những gì tôi nói đều là sự thật, các cô gái, những người đàn ông lớn tuổi hơn.”
“Tên to béo có hình xăm và một tên mặt chuột đúng không?” Brady nhớ lại, trong đầu nghĩ đến Triponelli và Gunroe.
“Đúng vậy. Chúng đã khiến tôi sợ hãi tột độ. Lần trước, vào tháng Mười một, gã mặt chuột đã đến đây gặp tôi và bảo tôi phải gọi cho hắn nếu ai đó đến hỏi về bọn chúng. Hắn nói nếu có ai đến, hắn sẽ biết và như vậy cũng sẽ biết được là tôi đã không gọi. Và Bộ tộc sẽ bắt tôi phải trả giá. Tôi đã rất sợ, anh phải hiểu cho tôi. Buổi tối hôm anh qua đây, tôi đã khóc lóc tới ba tiếng đồng hồ bên cái điện thoại trước khi gọi cho hắn!”
“Thế còn chúng, nhóm Bộ tộc, chúng sống ở đâu?”
“Tôi không biết!”
“Đừng nói dối nữa,” chàng nhà báo thì thầm trong lúc nhìn thẳng vào mắt người phụ nữ.
“Tôi thề đấy!”
“Đám bệnh hoạn đó đã hãm hiếp rất nhiều phụ nữ, và giết những phụ nữ khác. Nếu bà nói cho tôi biết chúng đang ở đâu, thì tôi thề rằng bà sẽ không bao giờ phải nghe nói đến chúng nữa.”
Bà gác cổng sụt sịt và lau mũi bằng ống tay áo xắn lên, má đẫm nước mắt.
“Hãy giúp tôi,” Brady năn nỉ, “rồi sau đó bà có thể quên chúng đi.”
Người phụ nữ hít một hơi trước khi lên tiếng:
“Có một hôm, tôi đã nghe chúng nói với tên mặt chuột là chúng sống dưới mặt đất, tại Manhattan, trong một đường hầm.”
“Chúng có nói chính xác là ở đâu không?”
“Tôi nhớ là chúng có nói đến một đường hầm bí mật của Roosevelt. Tôi biết là nghe có vẻ lạ nhưng chúng đã nói như vậy đấy!”
“Một lối đi riêng cho Roosevelt ư? Ông tổng thống ư?”
“Tôi không biết nữa, đó là tất cả những gì tôi nghe được.”
Brady gật đầu và ngẫm nghĩ. Anh nhìn người phụ nữ đang hốt hoảng trước mặt. Bà ta đã phản bội anh một lần, bà ta có thể làm thế lần nữa.
Brady lùi lại để bước ra.
“Tôi sẽ giải quyết vấn đề,” anh khẳng định. “Nhưng cứ báo cho chúng là tôi đã đến đi, và tôi thề là tôi sẽ trở lại, vào một tối nào đó, với một cây gậy bóng chày, và những gì còn sót lại ở bà mà người ta tìm thấy sẽ là thứ ngay cả bọn gấu trong khu rừng này cũng không muốn ăn đâu!”
Brady đi ra, đôi chân run rẩy. Kinh hoàng vì chính những lời nói của mình. Và trên hết là bởi anh không thể chắc chắn rằng đó là một lời nói dối để đe dọa hay là suy nghĩ thật của anh.
Chiếc BMW 4x4 chạy quanh Kingston. Brady đang do dự. Anh cần dùng Internet nhưng lại không dám dừng xe. Anh vừa đe dọa một phụ nữ.
Nhưng mình vẫn chưa chạm đến bà ta! Hơn nữa mình cần bà ta nói sự thật!
Tuy nhiên điều đó đã vượt xa những gì anh có thể chấp nhận. Liệu có phải việc tiếp xúc với Kermit đã đẩy anh đến bước đường này không?
Không cần phải tự vấn nữa! Chính câu chuyện điên rồ này ngay từ đầu đã khiến mình phát khùng! Mình muốn lột da những thằng đó!
Khi nhìn thấy tấm bảng chỉ dẫn ra đường cao tốc, Brady nhấn mạnh chân ga và quyết định chạy trốn.
Anh chạy xe hai giờ về phía New York, và ngay khi vào được đến Babylone, anh bắt đầu tìm kiếm nơi có thể truy cập Internet. Anh tìm thấy một quán cà phê Intemet tại Bronx và mua thẻ một giờ lên mạng.
Anh sử dụng Google để tìm kiếm cùng lúc các từ Roosevelt, hầm và New York.
Các trang kết quả hiện lên, có đến hàng trăm.
Anh đọc được rằng dưới thời tổng thống Roosevelt, một lối đi bí mật đã được xây dựng giữa khách sạn nơi ông nghỉ lại trong những ngày ở Quả táo lớn, và nhà ga Grand Central. Tổng thống luôn muốn giấu giếm tình trạng bệnh tật của mình, ông không muốn người ta nhìn thấy mình trên xe đẩy. Một lối đi đã được xây thông với đường hầm gần ke nơi tổng thống lên toa tàu riêng của mình để sau đó ông có thể xuất hiện và chào đám đông công chúng.
Dù đã xem hết trang web này đến trang web khác nhưng Brady vẫn không tìm thấy bất cứ chỉ dẫn nào có thể giúp xác định vị trí đường hầm. Rất nhiều dân cư mạng cũng đã thử tìm kiếm nhưng không thành công. Sự tồn tại của đường hầm này chủ yếu được khẳng định qua những câu chuyện lịch sử, tuy nhiên việc khám phá ra nó vẫn còn là một điều bí ẩn.
Brady có một ý tưởng. Anh đã học được một số mẹo của Kermit để tìm ra Oz. Bây giờ, anh có thể tự tìm một mình. Tại đó, có thể anh sẽ tìm được lời chỉ dẫn tới lối đi nổi tiếng này.
Nhưng như vậy thì thà rằng mình về nhà luôn còn hơn để tiết kiệm thời gian. Họ sẽ chẳng bao giờ giúp mình đâu. Hơn nữa, liệu họ thực sự biết hết về các đường hầm không? Nếu như ngay cả những người đam mê lịch sử cũng không thể tìm thấy nó, thì làm sao một đám ăn mày lại có thể chứ?
Chỉ còn một giải pháp.
Thư viện thành phố ở Manhattan. Brady biết rất rõ nơi này, anh thường xuyên đến đó để chuẩn bị cho phóng sự của mình, một mỏ kiến thức, người ta gần như có thể tìm được tất cả mọi thứ ở đây. Ở đó, người ta cho phép tra cứu bản vẽ thiết kế và nhật ký quá trình thi công các công trình xây dựng.
Brady lấy xe và chạy tới Đại lộ số năm, ở đoạn phố 42. Anh mua một chiếc sandwich trên đường đi rồi trèo lên các bậc thang tiến về phía mặt tiền theo trường phái Tân nghệ thuật của tòa nhà nằm ở đầu phố.
Anh bước trên những lối đi đầy ấn tượng của tòa nhà với vẻ thoải mái của một người đã quen làm việc ở đây. Sau khi tra cứu trên máy tính, anh đưa danh sách các tư liệu được lưu giữ dưới tầng hầm cho một thủ thư.
Danh sách mà anh yêu cầu quá nhiều để người ta có thể chuyển đến cho anh bằng hệ thống ống khí nén cổ điển, vì vậy khoảng nửa giờ sau, cậu thủ thư trẻ tuổi đã mang đống tài liệu đến cho anh bằng xe đẩy. Brady ngồi xuống một chiếc bàn, bật đèn đọc sách lên và bắt đầu nghiên cứu các trang tư liệu cùng bản vẽ được chất đống xung quanh. Bầu không khí học tập im ắng xung quanh giúp anh tập trung cao độ. Tiếng giấy sột soạt, những tiếng thì thầm, tiếng bước chân hay tiếng những cuốn sách được rút ra hoặc để vào giá đều được căn phòng quá đỗi rộng lớn có trần nhà được phủ những bức họa y như thật, khuếch đại. Brady đọc hết cuốn này đến cuốn khác, mở những cuộn bản vẽ kỹ thuật ra xem trước khi trở lại với một tài liệu khác.
Anh biết được rằng nhà ga Grand Central có hai tầng ngầm dành cho đường tàu, cộng thêm bốn tầng phía dưới dành cho việc bảo trì và các khu kỹ thuật. Trong một cuốn sách khác về những đường hầm ở New York, cả Pamela Jones và Jennifer Toth đều miêu tả sự tồn tại của bảy hầm ngầm. Tiếp đó, trong cuốn Grand Central: Cateway to a Million Lives, các tác giả đã khẳng định rằng một phòng quản lý việc phân bổ năng lượng được đặt ở tầng thứ tám dưới lòng đất. Một lúc sau anh đọc được lời chứng của một người vô gia cư trước đây đã từng sống bốn năm dưới cái địa ngục này, anh ta khẳng định rằng mê cung dưới nhà ga khổng lồ ở trung tâm thành phố rộng và sâu hơn tất cả những gì mọi người có thể tưởng tượng.
Vào cuối những năm 1980, đầu những năm 1990, người ta thống kê được hơn bảy trăm người vô gia cư sống dưới chân nhà ga và vào ban ngày, họ quanh quẩn bên trong ga để xin ăn hoặc lục mọi cái thùng rác. Mệt mỏi vì bị đội quân đông đảo này làm phiền, nhà ga đã ra lệnh tiến hành một cuộc thu dọn lớn và đuổi tất cả ra ngoài đồng thời cẩn thận bít kín hết các lối ra vào hầm ngầm. Nhưng ngay cả khi ấy, cũng chẳng ai dám đưa ra con số chính xác về các hầm ngầm nằm phía dưới những đường tàu.
Cơ quan chức năng có liên quan luôn từ chối đưa ra mọi lời bình luận. Ít lâu sau đó, người ta chỉ biết được rằng có một sảnh lớn, được ghi vào các danh mục dưới cái tên bí ẩn là M42, nằm rất sâu dưới mặt đất và chứa các máy biến thế, máy phát điện cùng các loại pin điện dự phòng khác. Một địa điểm được giữ bí mật từ Thế chiến hai bởi gián điệp Đức đã hy vọng định vị được nó để phá hủy nhằm mục đích khiến cho giao thông đi lại của bộ phận lớn quân đội Mỹ trở nên tê liệt. Cho đến nay, vị trí chính xác của tầng M42 vẫn là một bí mật được cất giữ cẩn thận.
Brady chưa bao giờ nghe nói đến nó.
Cuối cùng, anh cũng đọc được một thông tin về đường hầm đã được tổng thống Roosevelt sử dụng. Ke 61. Ngoài việc nó chạy từ khách sạn WaldorfAstoria đến nhà ga, không có bất cứ một thông tin cụ thể nào khác.
Brady xem lại các bản vẽ và kiểm chứng những nghi ngờ của mình.
Không có ke nào mang số 61. Anh không tìm thấy bất cứ dấu vết nào.
Cũng có thể anh đã bỏ qua một trang nào đó, một chi tiết có thể lý giải cho điều bí ẩn này? Anh bắt đầu đọc lại.
Đến giữa buổi chiều, anh đẩy tất cả đống tài liệu trước mặt sang một bên với vẻ vô cùng ức chế.
Anh đã hy vọng gì chứ? Nếu như mọi việc đơn giản đến thế, thì đường hầm Roosevelt chẳng còn là bí mật với bất cứ ai nữa.
Anh chỉ còn một cách.
Cách mà anh đã gạt bỏ ngay từ đầu. Nhưng lại là cách hợp lý nhất.
Ít chắc chắn nhất và cũng nguy hiểm nhất!
Brady với lấy điện thoại di động và gửi một tin nhắn cho vợ để báo anh vẫn còn nhiều việc và sẽ về muộn. Anh hứa với cô là sẽ ở với cô cả ngày mai để bù lại.
Sau đó anh đứng dậy và ra khỏi thư viện.
Anh có hẹn với một thế giới khác.
Với ký ức về những đường hầm của New York.