23
Những người biết rõ Nola“Thế còn các nhân vật? Thầy lấy cảm hứng từ ai để xây dựng nên các nhân vật của mình?
– Từ tất cả mọi người. Từ một người bạn, người giúp việc, nhân viên ngân hàng. Nhưng lưu ý rằng: không phải chính những người này tạo cảm hứng cho anh, mà là các hành động của họ. Cách phản ứng của họ làm anh nghĩ đến những hành động mà các nhân vật trong tiểu thuyết của anh có thể làm. Nhà văn nào nói rằng không lấy cảm hứng từ ai cả là nói dối, nhưng họ có lí khi làm thế: như vậy họ tránh được khối điều phiền toái.
– Nghĩa là thế nào?
– Ưu thế của các nhà văn, Marcus ạ, đó là anh có thể giải quyết vấn đề với những người khác thông qua phương tiện trung gian là cuốn tiểu thuyết của anh. Nguyên tắc duy nhất là không được nêu đích danh. Không bao giờ nêu tên riêng: điều đó sẽ dẫn đến kiện tụng và những việc đau đầu. Theo danh sách, chúng ta đến số thứ tự bao nhiêu rồi?
– 23.
—Vậy thì chương thứ 23, Marcus: hãy chỉ viết những điều tưởng tượng. Những điều khác chỉ mang lại cho anh phiền toái.”
Chủ nhật ngày 22 tháng Sáu năm 2008, lần đầu tiên tôi gặp ông giám mục David Kellergan. Hôm đó là một ngày hè xám xịt, đúng theo kiểu thời tiết chỉ có thể xảy ra dưới bầu trời New England. Vào mùa này ở đây, sương mù bốc lên từ đại dương dày đến nỗi còn bám chắc trên những ngọn cây và các mái nhà. Ngôi nhà của gia đình Kellergan nằm ở số 245 Terrace Avenue, ở giữa một khu dân cư đẹp đẽ. Hình như ngôi nhà này không thay đổi gì kể từ khi họ tới sống ở Aurora. Vẫn những bức tường cũ màu, vẫn những bụi cây xung quanh nhà. Những khóm hồng vừa trồng đã trở thành những bụi cây lớn, còn cây sơri trước nhà đã thay thế cho một loại cây cùng họ bị chết từ mười năm trước.
Lúc đến nơi, tôi nghe thấy tiếng nhạc ầm ĩ chói tai dội ra từ ngôi nhà. Tôi bấm chuông nhiều lần nhưng không hề có tiếng trả lời. Mãi lâu sau mới có người đi qua đường kêu lên: “Nếu như anh tìm cha Kellergan thì bấm chuông là vô ích. Ông ấy đang ở trong nhà xe”. Tôi quay sang đập của nhà xe, đúng là âm nhạc ầm ĩ thoát ra từ đó. Sau khi ngoan cố đập cửa hồi lâu, rốt cuộc cửa cũng mở, trước mặt tôi là một ông già nhỏ thó, dáng vẻ yếu ớt, tóc và da xám ngoét, mặc quần áo bảo hộ lao động và đeo kính bảo vệ mắt. Đó chính là David Kellergan, tám mươi lăm tuổi.
– Có việc gì thế? Với vẻ dễ mến, ông ta hét lên vì nhạc được mở với âm lượng không thể chịu nổi.
Tôi buộc phải khom tay lên thành vòm loa để nói sao cho ông có thể nghe được.
– Tôi tên là Marcus Goldman. Ông không biết tôi nhưng tôi đang điều tra về cái chết của Nola.
– Anh là cảnh sát à?
– Không, tôi là nhà văn. Ông có thể tắt nhạc hay vặn bé âm lượng xuống một chút được không?
– Không được. Tôi không tắt nhạc được. Nhưng chúng ta có thể ra ngoài phòng khách nếu anh muốn.
Ông mời tôi đi qua nhà xe vào phòng khách: căn phòng đã hoàn toàn bị biến thành xưởng sửa chữa, giữa phòng chễm trệ một chiếc Harley-Davidson. Trong góc phòng, bộ chơi nhạc đĩa cũ kĩ nối liền với dàn máy làm toàn bộ âm thanh của bản nhạc jazz nổi lên mạnh mẽ.
Tôi chuẩn bị tinh thần cho một cuộc gặp không được đón tiếp tử tế. Tôi nghĩ, sau khi bị cánh nhà báo quấy rầy, hẳn cha Kellergan rất cần được yên tĩnh; nhưng trái lại, ông tỏ ra rất dễ mến. Dù đã từng đến Aurora nhiều lần, nhưng tôi chưa bao giờ gặp ông lần nào. Rõ ràng ông hoàn toàn không biết mối quan hệ giữa tôi với Harry và tôi cũng lưu ý không nói ra chuyện này. Ông pha hai cốc trà lạnh, rồi chúng tôi cùng ngồi vào bàn trong phòng khách. Ông vẫn đeo nguyên đôi kính bảo vệ mắt, cứ như thể phải sẵn sàng quay trở lại với chiếc mô tô ngay. Trong khi đó, thứ âm nhạc chói tai vọng đến không ngừng. Tôi cố gắng tưởng tượng người đàn ông này ba mươi ba năm về trước, khi còn là mục sư năng động của nhà thờ St James.
– Điều gì khiến anh đến đây hả anh Goldman? Ông chăm chú nhìn xoáy vào tôi hỏi vẻ tò mò. Vì một cuốn sách à?
– Tôi cũng không rõ nữa, cha ạ, chủ đích chính của tôi là tìm hiểu xem điều gì xảy ra với Nola.
– Đừng gọi tôi là cha, tôi không còn là mục sư nữa rồi.
– Tôi rất lấy làm tiếc vì chuyện xảy ra với con gái ông.
Ông mỉm cười, nụ cười nồng ấm đáng ngạc nhiên.
– Cảm ơn anh. Anh là người đầu tiên nói lời chia buồn với tôi, anh Goldman ạ. Từ hai tuần nay, cả thành phố này nói về con gái tôi: tất cả mọi người đều nóng lòng đợi báo mới ra để biết các thông tin mới nhất, nhưng không có ai tới tận đây xem tôi sống chết thế nào. Ngoại trừ cánh nhà báo, thì những người duy nhất bấm chuông cửa nhà tôi là mấy người hàng xóm đến phàn nàn về tiếng ồn. Người cha đang có tang con mình, cũng có quyền được nghe chút nhạc chứ, đúng không nào?
– Hoàn toàn đúng ạ.
– Thế anh đang viết một cuốn truyện à?
– Tôi cũng không biết có khả năng viết hay không nữa. Viết được sách hay thật là khó. Người xuất bản sách muốn tôi viết một cuốn về vụ này. Ông ta nói rằng việc này sẽ giúp tôi thăng tiến sự nghiệp. Ông có phản đối ý tưởng viết sách về Nola không?
Ông nhún vai.
– Không, nếu điều đó có thể giúp các bậc cha mẹ cẩn trọng hơn. Anh biết đấy, vào ngày con gái tôi mất tích, nó đang ở trong phòng riêng. Còn tôi thì đang trong nhà xe, cũng mở nhạc như thế này. Tôi không nghe thấy gì hết. Khi tôi vào thăm xem nó thế nào, thì nó không còn trong phòng nữa. Cửa phòng nó mở toang. Cứ như thể nó bốc hơi mất vậy. Tôi không biết cách trông giữ con gái mình. Hãy viết một cuốn sách cho các bậc cha mẹ, anh Goldman ạ. Cha mẹ phải vô cùng cẩn trọng trong việc chăm sóc con cái.
– Hôm đó, ông làm gì trong nhà xe?
– Tôi cũng sửa chính chiếc xe máy này. Chiếc Harley mà anh thấy đó.
– Một cỗ máy đẹp thật đấy.
– Cảm ơn anh. Hồi đó tôi nhặt nó về từ xưởng sửa chữa ô tô ở Montburry. Ông chủ ở đó bảo không còn có thể nhặt nhạnh được gì từ cái đống máy hỏng ấy nên nhượng lại cho tôi với giá bèo bọt là 5 đô tượng trưng. Khi con gái tôi mất tích thì tôi đang chăm sóc cái xe khốn kiếp này, đó chính là việc mà tôi làm lúc đó.
– Ông sống ở đây một mình à?
– Đúng vậy. Vợ tôi mất lâu rồi…
Ông đứng dậy, rồi mang tới cho tôi xem một cuốn album. Ông chỉ cho tôi Nola hồi còn bé, và vợ của ông, bà Louisa. Họ có vẻ rất hạnh phúc. Tôi ngạc nhiên vì ông già dễ dàng chia sẻ tâm sự, mặc dù xét cho cùng, ông không quen biết gì tôi. Tôi nghĩ chắc thực ra ông chỉ muốn làm sống dậy chút ít hình ảnh đứa con gái bất hạnh của mình. Ông kể cho tôi nghe khi họ đến Aurora vào mùa thu năm 1969 từ Jackson, Alabama, nơi đó mặc dù đội ngũ các con chiến đang phát triển vô cùng mạnh mẽ, nhưng ông vẫn quyết tâm từ bỏ để tới Aurora vì tiếng gọi nơi xa xôi còn mạnh mẽ hơn: cộng đồng ở Aurora đang cần mục sư mới, và ông đã được chọn. Lí do chính của việc ông chuyển nhà đến bang New Hampshire là mong muốn có được nơi chốn yên tĩnh để nuôi dạy Nola. Vào thời kì đó, nội bộ đất nước đang sôi sục, nào là bất đồng chính trị, nạn phân biệt chủng tộc và cuộc chiến ở Việt Nam. Các sự kiện xảy ra năm 1967 những cuộc bạo động phân biệt chủng tộc ở Saint-Quentin và sự bùng nổ các khu người da đen ở Newark và Détroit khiến họ phải tìm nơi nào đó bình ổn hơn, tránh xa tất cả các biến động này. Vậy là, khi chiếc ô tô nhỏ bị quá tải bởi trọng lượng của cả núi đồ đạc chậm chạp tiến tới gần bờ ao phủ đầy hoa súng của Montburry, trước khi lao xuống dốc hướng Aurora, từ xa vị mục sư Kellergan đã thấy đây là thành phố nhỏ xinh xắn yên tĩnh và tuyệt đẹp, ông thầm tự khen mình đã lựa chọn sáng suốt. Làm thế nào có thể tưởng tượng, đây chính là nơi mà sáu năm sau, đứa con gái duy nhất của ông mất tích?
– Tôi đã qua nhà thờ cũ nơi ông làm mục sư trước kia, tôi nói. Bây giờ nó thành cửa hàng McDonald’s.
– Toàn bộ thế giới này đang dần dần biến thành một cửa hàng McDonald’s, anh Goldman ạ.
– Thế còn nhà thờ thì sao, điều gì đã xảy ra vậy?
– Trong nhiều năm, nhà thờ phát triển rất thịnh vượng. Sau đó xảy ra việc con gái tôi là Nola biến mất và tất cả đã thay đổi. Nói cho chính xác thì có một thứ thay đổi, đó là, tôi không còn tin ở Chúa nữa. Nếu Chúa thực sự tồn tại, thì trẻ con không thể bị mất tích như vậy. Tôi bắt đầu làm nhiều chuyện linh tinh, nhưng không ai dám đuổi tôi. Dần dần, cả cộng đồng bắt đầu phân tán. Cách đây mười lăm năm, nhà thờ Aurora sáp nhập với nhà thờ Montburry vì lí do tài chính. Họ đã bán cả khu đất lẫn nhà thờ Aurora. Bây giờ, con chiên đi lễ Chủ nhật tại Montburry. Sau khi Nola mất tích, tôi không còn đủ sức đảm đương hết công việc, 6 năm sau thì tôi chính thức từ chức. Nhà thờ vẫn trả cho tôi một khoản trợ cấp. Thế rồi họ bán lại căn nhà này cho tôi với giá chỉ bằng giá một cái bánh mì.
Sau đó, David Kellergan còn miêu tả cho tôi những năm tháng sung sướng vô lo của cuộc đời ông ở Aurora. Theo ông, đó là những ngày tháng đẹp nhất trong đời. Ông còn nhớ vào những buổi tối mùa hè, khi ông cho phép Nola thức đọc sách dưới hiên nhà; ông từng ao ước mùa hè sẽ không bao giờ kết thúc. Ông còn kể cho tôi nghe, con gái ông đã có ý thức dành dụm tiền kiếm được từ việc làm thêm tại tiệm Clark’s vào thứ Bảy hàng tuần; có nói rằng với số tiền dành dụm đó, cô sẽ đi California để trở thành diễn viên. Chính ông cũng rất hãnh diện khi mỗi lần tới tiệm Clark’s đều được nghe khách hàng và bà chủ quán Quinn hết lời ngợi khen con gái. Trong suốt một thời gian dài sau khi con gái ông mất tích, ông còn phân vân không biết có phải là con bé đã đi California rồi không.
– Tại sao lại đi? Tôi hỏi. Ý ông muốn nói là cô ấy đã bỏ nhà…
– Bỏ nhà á? Tại sao con tôi lại muốn bỏ nhà mà đi? - Ông tỏ ra phật lòng
– Thế còn Harry Quebert, ông có biết ông ấy không?
– Không nhiều. Hơi biết chút thôi. Tôi cũng có gặp ông ta vài lần.
– Hơi biết một chút? tôi ngạc nhiên. Thế mà ông với ông ấy sống cùng thành phố từ 30 năm nay.
– Tôi không biết tất cả mọi người, anh Goldman ạ. Hơn nữa, anh biết đấy, tôi sống rất khép kín. Liệu tất cả chuyện này có phải là sự thật không? Harry Quebert và Nola? Có phải ông ta viết sách về con bé? Cuốn sách ấy có nghĩa là thế nào hả anh Goldman?
– Thú thật với ông rằng Nola yêu Harry và đó là tình cảm có đi có lại. Cuốn sách ấy kể về mối tình không thể giữa hai con người không có lối thoát thuộc cùng một tầng lớp xã hội.
– Tôi biết! Ông kêu lên. Tôi biết! Nhưng chuyện là thế nào , Quebert đã thay thế chữ đồi trụy bằng tầng lớp xã hội để tự tạo ra phẩm giá cho mình, rồi ông ta bán được hàng triệu bản? Cuốn sách kể những chuyện tục tĩu với con gái tôi, với Nola bé bỏng của tôi, rồi cả nước Mỹ đọc và trầm trồ ca ngợi trong suốt 30 năm qua!
Mục sư Kellergan không còn giữ được bình tĩnh nữa, lời cuối ông thốt lên với giọng đầy bạo lực mà tôi không ngờ một người đàn ông có vẻ ngoài yếu đuối nhường vậy có thể nói được. Ông im bặt giây lát, quay tròn trong căn phòng tựa như thể đang muốn thoát ra khỏi cơn tức giận. Nhạc vẫn gầm lên chói lói liên tục từ phía sau. Tôi nói với ông:
– Harry Quebert không giết Nola.
– Làm sao anh chắc như thế được?
– Không ai dám chắc điều gì, thưa ông. Chính vì vậy đôi khi sự tồn tại của chúng ta quá phức tạp.
Ông bĩu môi.
– Anh muốn biết điều gì, anh Goldman? Nếu đến đây tức là anh có điều muốn hỏi tôi phải không?
– Tôi đang cố gắng tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra. Buổi tối mà con gái ông biến mất, ông không nghe thấy tiếng động gì sao?
– Không gì cả.
– Vài người hàng xóm khẳng định rằng vào thời điểm đó họ đã nghe thấy nhiều tiếng kêu.
– Nhiều tiếng kêu? Không có tiếng kêu nào cả. Không bao giờ có tiếng kêu trong ngôi nhà này. Mà hơn nữa, tại sao lại có những tiếng kêu cơ chứ? Ngày hôm đó, tôi đang bận việc trong nhà xe. Suốt cả buổi chiều. Đến đúng lúc 19 giờ, tôi bắt đầu chuẩn bị bữa tối. Tôi vào phòng riêng của con bé để nhờ nó giúp tôi một chút, nhưng nó không còn ở đây nữa. Mới đầu, tôi nghĩ rằng chắc nó ra ngoài đi dạo vài vòng, mặc dù nó không có thói quen đấy. Tôi đợi một lúc, rồi khi bắt đầu thấy lo lắng tôi đi ra ngoài tìm nó quanh khu. Đi chưa được một trăm mét trên vỉa hè thì tôi gặp ngay cả toán người: mấy người hàng xóm kháo nhau, có người nom thấy một phụ nữ trẻ người dính đầy máu ở Side Creek. Từ khắp mọi nẻo đường, từng đoàn xe cảnh sát đỗ về, chặn hết mọi lối ra vào thành phố. Tôi vội chạy vào nhà gần đó nhất gọi điện thoại tới đồn cảnh sát để báo có thể đó là Nola… Phòng riêng của nó nằm dưới tầng trệt, anh Goldman ạ. Suốt 30 năm nay, tôi chỉ băn khoăn một điều, không biết tình hình con gái tôi như thế nào. Có thời kì dài tôi cứ nghĩ, nếu như còn có những đứa con khác, thì tôi sẽ cho chúng ngủ trong nhà kho. Nhưng tôi không có đứa nào khác.
– Thế ông có nhận thấy con gái mình có những hành động kì lạ nào vào mùa hè xảy ra vụ mất tích không?
– Không. Mà tôi cũng không biết nữa. Tôi không nghĩ vậy…câu hỏi mà tôi cũng thường đặt ra nhưng không thể trả lời.
Tuy nhiên, ông vẫn còn nhớ mùa hè năm đó , khi kì nghỉ hè vừa mới bắt đầu thì Nola, con gái ông thỉnh thoảng có vẻ rất thiểu não. Ông cứ nghĩ ở cái tuổi thiếu nữ dở trẻ con dở người lớn thì như vậy là bình thường. Sau đó tôi ngỏ lời xin được vào thăm phòng riêng của Nola; ông dẫn tôi vào xem như thể người hướng dẫn tham quan bảo tàng: “Xin đừng chạm tay vào bất cứ vật gì”. Kể từ khi con gái ông mất tích, ông vẫn giữ căn phòng không hề thay đổi. Tất cả mọi thứ vẫn ở đó: chiếc giường, chiếc giá chất đầy búp bê, giá sách nhỏ, ngăn bàn lẫn lộn hàng trăm thứ nào bút bi, bút chì, thước kẻ sắt và những trang giấy đã ngả vàng. Đó là giấy viết thư, cùng một loại giấy dùng để viết tin nhắn cho Harry.
– Con bé tìm thấy loại giấy nhắn tin này trong quầy bán giấy ở Montburry, người cha giải thích khi thấy tôi có vẻ quan tâm đặc biệt đến lốc giấy nhắn tin. Nó rất thích loại giấy này. Lúc nào nó cũng mang theo người, nó dùng để ghi chép và nhắn tin. Giấy này cũng chính là nó. Lúc nào nó cũng có mấy tập để dành.
Ở một góc phòng, vẫn còn thấy cả chiếc máy tính nhỏ Remington
– Chiếc máy tính này của con gái ông à? Tôi hỏi.
– Của tôi đấy. Nhưng nó cũng dùng. Mùa hè đó nó sử dụng liên tục nó nói có nhiều tài liệu cần đánh máy. Thậm chí nhiều lúc nó còn mang ra khỏi nhà. Tôi thường muốn chở nó đi, nhưng nó không bao giờ thích như vậy. Nó đi bộ, đeo máy vào vai.
– Vậy là căn phòng này vẫn y nguyên như lúc con gái ông mất tích?
– Mọi thứ tuyệt đối y nguyên như cũ. Đây chính là hiện trạng căn phòng trống rỗng mà tôi thấy lúc tôi vào tìm nó. Cửa sổ mở toang, một cơn gió nhẹ lay động những chiếc riđô.
– Ông có nghĩ ai đó đã vào phòng này tối hôm đó, dùng vũ lực cưỡng bức cô ấy và đưa đi?
– Tôi không biết nói với anh thế nào. Tôi chẳng nghe thấy gì hết. Nhưng như anh có thể thấy đó, không hề có dấu vết của vũ lực hay chống cự.
– Cảnh sát tìm thấy cô ấy có một chiếc túi. Bên trong túi có in khắc chữ Nola.
– Vâng. Họ còn yêu cầu tôi nhận diện nó. Đó chính là món quà tôi tặng nó vào dịp sinh nhất nó mười lăm tuổi. Một hôm khi hai bố con tôi đi cùng nhau, nó đã thấy chiếc túi này ở Montburry. Tôi vẫn còn nhớ của hàng đó ở trên phố chính. Ngày hôm sau, tôi đã quay trở lại để mua cho nó. Tôi còn đến hiệu làm yên ngựa nhờ khắc tên nó ở phía trong.
Tôi cố gắng đưa ra giả thuyết:
– Vậy, nếu đúng là túi của cô ấy, nghĩa là cô ấy mang nó theo. Mà nếu cô ấy mang nó theo, thì có nghĩa là cô ấy định đi đâu đó, đúng không ạ? Ông Kellergan, tôi nghĩ thật khó tin, nhưng ông có nghĩ có thể Nola muốn bỏ nhà đi không?
– Tôi không biết nữa, anh Goldman ạ. Cảnh sát cũng hỏi tôi như vậy cách đây 30 năm, rồi mới hỏi lại lần nữa cách đây mấy ngày. Nhưng ở đây chẳng thiếu cái gì. Quần áo , tiền bạc, chẳng thiếu thứ gì. Nhìn này, túi tiền tiết kiệm của nó còn ở đó, trên giá sách, vẫn còn đầy. (Ông cầm hộp bánh quy trên ngăn cao nhất lên). Nhìn này, có tận 120 đô la! 120 đô la. Tại sao con bé để lại đây nếu nó định bỏ nhà? Cảnh sát nói trong túi của nó có quyển sách đáng nguyền rủa đó.
– Có thật không vậy?
– Đúng vậy.
Những câu hỏi tiếp tục nhảy múa trong đầu tôi: tại sao Nola lại bỏ nhà đi mà không mang theo quần áo, cũng không mang theo tiền bạc? Tại sao cô ấy lại chỉ mang có mỗi bản thảo cuốn sách?
Trong nhà xe, chiếc đĩa hát quay đến bài cuối cùng. Người cha vội vã quay trở lại đặt nó về từ đâu. Tôi không muốn làm phiền ông quá lâu; tôi chào ông đi về, khi đi ra tôi còn chụp ảnh chiếc Harley-Davidson.
Về tới Goose Cove, tôi đi ra bãi biển đấm bốc. Tôi vô cùng kinh ngạc khi thấy trung sĩ Gahalowood từ trong ngôi nhà tiến ra phía tôi. Vì đang đeo tai nghe cho nên tôi chỉ nhận ra khi anh ta đập tay lên vai tôi.
– Anh khỏe thật đấy, trung sĩ vừa nói vừa ngắm cơ thể tôi trần trùng trục, rồi anh ta chùi bàn tay đã dính mồ hôi của tôi lên quần mình.
– Tôi chỉ cố gắng duy trì bản thân mình thôi.
Tôi rút tai nghe khỏi túi, tắt máy.
– Đầu đọc mini à? Anh ta nói giọng khó chịu. Anh có biết Apple đã làm một cuộc cách mạng cho cả thế giới, từ bây giờ có thể lưu trữ âm nhạc gần như vô giới hạn trên một ổ đĩa cứng di động mà người ta gọi là iPod không?
– Tôi không nghe nhạc, thưa trung sĩ.
– Thế anh nghe cái gì khi tập thể thao vậy?
– Không có gì quan trọng. Mà thôi, anh nói cho tôi biết lí do tại sao tôi lại có vinh hạnh được anh tới thăm còn hơn. Lại còn vào ngày Chủ nhật nữa chứ!
– Tôi nhận được một cú điện thoại của Cảnh sát trưởng Dawn: ông ta kể cho tôi nghe vụ hỏa hoạn xảy ra tối thứ Sáu vừa rồi. Ông ấy tỏ ra lo lắng, mà tôi cũng phải thừa nhận điều đó là đúng: tôi không muốn vụ việc lại xoay chiều như thế.
– Có phải ý anh muốn nói ông ấy đang lo lắng cho an toàn của tôi không?
– Không hề. Chỉ đơn giản tôi muốn ngăn cản mọi chuyện trở nên tồi tệ hơn. Chúng ta đều biết các vụ tội phạm liên quan đến trẻ con lúc nào cũng tạo ra vô khối bất ổn trong lòng dân. Tôi đảm bảo với anh rằng mỗi khi trên vô tuyến nhắc đến vụ bé gái bị chết, thì chắc chắn hàng loạt người cha của các gia đình trí thức sẽ nói rằng họ sẵn sàng cắt ngay hai hòn dái của Quebert.
– Nhưng ở đây, chính tôi là người bị tấn công cơ mà.
– Chính vì thế mà tôi đến đây. Tại sao anh không nói với tôi là anh đã nhận được tin nhắn nặc danh?
– Bởi vì chính anh đã tống cổ tôi ra khỏi phòng làm việc của anh.
– Điều này không sai.
– Tôi mời anh uống cốc bia nhé, trung sĩ?
Gahalowood hơi do dự rối chấp thuận. Chúng tôi đi ngược về nhà. Tôi lấy ra hai chai bia, rồi ngồi trên thềm nhà cùng uống. Tôi kể lại tối hôm qua khi trở về từ bãi biển Grand, tôi gặp hỏa hoạn như thế nào.
– Không thể nào tả được, tôi nói. Hắn đeo mặt nạ. Chỉ là cái bóng đen. Rồi lại lần nữa vẫn tin nhắn đó: Hãy trở về nhà, Goldman. Đó là lần thứ ba.
– Cảnh sát trưởng Dawn cũng kể cho tôi rồi. Có ai biết anh cũng tiến hành điều tra?
– Ai cũng biết. Ý tôi muốn nói là suốt ngày tôi cứ đi tra hỏi tất cả những người tôi gặp. Hắn có thể là bất kì ai. Anh nghĩ thế nào? Có ai đó không muốn tôi đào sâu hơn vào chuyện này à?
– Có ai đó không muốn anh khám phá ra sự thật về Nola. Thế cuộc điều tra của anh tiến triển đến đâu rồi?
– Cuộc điều tra của tôi á? Từ bây giờ anh cũng quan tâm tới điều tra của tôi à?
– Có thể. Cứ nói là, kể từ khi người ta dùng biện pháp đe dọa muốn làm cho anh im miệng, thì dân chúng càng ngày càng tin anh hơn.
– Tôi đã nói chuyện với cha Kellergan. Một người đàn ông dũng cảm. Ông ta đã cho tôi xem phòng của Nola.
– Tôi nghĩ chắc anh cũng đã xem rồi …
– Đúng vậy.
– Vậy nếu đó là vụ bỏ nhà đi, thì anh có thể giải thích thế nào về việc cô ta không mang theo thứ gì? Không quần áo, không tiền bạc, chẳng mang theo gì hết.
– Tại vì đây không phải là vụ bỏ nhà, Gahalowood trả lời.
– Thế thì, nếu đó là một vụ bắt cóc, tại sao lại không có dấu vết của sự kháng cự? Tại sao cô ấy lại mang theo cái túi đựng bản thảo?
– Chỉ cần cô gái quen biết tên giết người là có thế lí giải việc không có kháng cự. Có thể họ có quan hệ với nhau. Hắn ta xuất hiện dưới cửa sổ, như thỉnh thoảng hắn vẫn làm vậy. Có thế hắn vẫn hay làm thế, hắn thuyết phục cô bé đi theo hắn. Có thể chỉ ra ngoài đi dạo mấy bước..
– Có phải ông đang ám chỉ Harry không? ,…
– Đúng.
– Thế nghĩa là sao? Cô gái cầm theo bản thảo rồi nhảy qua cửa sổ ra ngoài à?
– Ai bảo anh là cô ấy cầm bản thảo theo? Ai nói với anh là cô ấy đã từng có trong tay tập bản thảo ấy? Đó là cách giải thích của Quebert, đó là cách nói của ông ta để giải thích tại sao có tập bản thảo cạnh xác chết của Nola.
Tôi do dự trong vòng một giây định kể ra điều tôi biết liên quan đến Harry và Nola, rằng họ hẹn gặp nhau ở nhà nghỉ Sea Side rồi bỏ trốn. Nhưng vào lúc này, tôi vẫn chưa muốn nói ra để không làm hại Harry. Tôi chỉ hỏi Gahalowood:
– Vậy thì giả thuyết của ông là gì?
– Quebert giết chết Nola và chôn xác cùng với tập bản thảo. Có thể là vì hối hận. Đó là cuốn sách viết về chuyện tình của họ, và mối tình ấy đã giết chết Nola.
– Điều gì khiến anh nói như vậy?
– Có một dòng chữ viết tay trên bản thảo.
– Dòng chữ viết tay? Dòng chữ viết tay thế nào?
– Tôi không thể nói cho anh biết được. Đây là tin mật.
– Trời đất, thôi đi, đừng bày trò nữa trung sĩ! Hoặc là anh đã nói quá nhiều với tôi hoặc là anh nói vẫn không đủ: anh không thể lợi dụng núp đằng sau cái bí mật của cuộc điều tra để tránh phiền toái.
Trung sĩ thở dài, nhân nhượng.
– Viết rằng: Vĩnh biệt, Nola yêu quý.
Tôi lặng im không thốt ra được nửa lời. Nola yêu quý. Không phải đó chính là những chữ mà Nola đòi Harry phải nói khi họ ở Rockland đó sao? Tôi cố gắng lấy lại bình tĩnh.
– Thế các anh định làm gì với dòng chữ này? Tôi hỏi.
– Chúng tôi sẽ cho chuyên gia phân tích nét chữ. Hi vọng có thể rút ra được gì thêm.
Tôi hoàn toàn mất phương hướng trước phát giác này. Nola yêu quý. Đó chính xác là những chữ mà chính Harry đã nói, những chữ mà tôi đã ghi âm.
Suốt cả buổi tôi tôi đắm chìm trong suy nghĩ, chẳng biết còn có thể làm gì. Đúng lúc chuông điểm 21 giờ, tôi nhận được cuộc điện thoại của mẹ tôi. Hiển nhiên là tivi đã đưa tin về vụ hỏa hoạn. Mẹ tôi nói:
– Nhân danh Chúa, Markie, con định chết vì tên tội phạm quỷ quyệt này sao?
– Bình tĩnh đi mẹ, bình tĩnh nào.
– Ở đây người ta chỉ nói đến con thôi, mà không phải bằng những thuật ngữ hay ho gì cho cam. Không biết con có hiểu ý mẹ không. Ở khu nhà mình, người ta bắt đầu xì xào…Họ thắc mắc tại sao con lại ngoan cố ở bên Harry.
– Không có Harry, con không bao giờ trở thành nhà văn lớn Goldman, mẹ ạ.
– Con có lí: không có gã này, con đã trở thành nhà văn rất rất lớn. Kể từ khi bắt đầu kết giao với ông ta ở trường đại học, con đã thay đổi. Con là Siêu Nhân, Markie ạ.
– Mẹ… Chả bao giờ có Siêu Nhân cả.
– Không bao giờ có Siêu Nhân ư? Không bao giờ có Siêu Nhân á? (Bà gọi bố tôi). Nelson, anh đến đây! Markie bảo con nó chưa bao giờ là Siêu Nhân này. (Tôi nghe thấy bố tôi lẩm bẩm gì đó nghe không rõ ở phía sau). Đấy, con nghe thấy chưa, bố con cũng bảo, lúc ở trường trung học, con đã từng là Siêu Nhân. Hôm qua, mẹ gặp thầy hiệu trưởng cũ của con hỏi cấp ba. Ông ấy nói với mẹ, ông ấy vẫn giữ kỉ niệm tuyệt vời về con… Mẹ thấy ông ấy suýt bật khóc, vì ông ấy vô cùng cảm động. Thế còn con thì sao? Tại sao con lại chạy theo ông thầy giáo già thay vì chạy đi tìm vợ? 30 tuổi rồi mà con vẫn chưa cưới vợ! Con muốn cho bố mẹ chết mà không được nhìn thấy con cưới vợ hả?
– Mẹ mới có 52 tuổi thôi, mẹ ơi. Chúng ta vẫn còn nhiều thời gian mà.
– Đừng có triết lí linh tinh nữa! Lại là những thứ học được từ ông thầy Quebert kinh khủng đấy hả. Tại sao không lo tìm về đây cho bố mẹ một phụ nữ trẻ đẹp hả?
– Gần đây con chả gặp được ai cả, mẹ à… Rồi lại còn cả cuốn sách, các buổi thuyết trình, rồi lại lo cuốn sách tới.
– Lại lí do lí trấu rồi! Thế cuốn sách tới của con thế nào? Con sẽ viết về cái gì đây? Về truyện tình dục đồi trụy hả? Mẹ không còn nhận ra con nữa đấy… Markie yêu của mẹ, mẹ phải hỏi con cái này: con phải lòng Harry à? Con có quan hệ đồng tính với ông ta à?
– Không, tuyệt đối không!
Tôi nghe mẹ tôi nói với bố tôi: “Nó nói là không. Thế có nghĩa là có”. Rồi mẹ tôi đổi giọng thì thầm hỏi tôi:
– Con có bị bệnh không con? Mẹ của con vẫn yêu con ngay cả khi con mắc bệnh.
– Cái gì cơ ạ? Bệnh gì cơ ạ?
– Bệnh đàn ông dị ứng phụ nữ.
– Mẹ hỏi là con có bị đồng tính không đấy à? Không. Mà ngay cả khi điều này là sự thật, thì cũng không có gì xấu cả. Nhưng mà con yêu giới nữ, mẹ ạ.
– Giới nữ? Thế nghĩa là sao? Giới nữ? Con phải biết hài lòng với việc chỉ yêu một người phụ nữ duy nhất thôi rồi kết hôn với người đó. Có phải con luôn bị tình dục ám ảnh không hả Markie? Con có muốn hẹn gặp bác sĩ tâm lí để chữa bệnh không?
Rốt cuộc tôi dập máy, vô cùng thất vọng. Tôi cảm thấy cực kỳ cô độc. Tôi vào phòng làm việc của Harry và ngồi đó, bật máy ghi âm lên nghe lại giọng của thầy. Tôi cần có một yếu tố mới, một bằng chứng cụ thể để đổi hướng cuộc điều tra, một cái gì đó có thể soi sáng đôi chút bảng xếp hình đang làm tôi mụ mị cả đầu óc. Bảng xếp hình mà tôi đang gắng giải quyết cho đến tận bây giờ, chỉ nhờ mỗi vào Harry, tập bản thảo viết tay và bộ hài cốt của một đứa bé gái. Càng nghĩ, tôi càng rơi vào trạng thái kì lạ đã từ lâu rồi tôi không biết đến: tôi muốn viết. Viết những điều tôi đang sống, đang trải qua và cảm nhận. Các ý tưởng mau chóng đến trong đầu tôi. Hơn cả một mong muốn, tôi cảm nhận rõ một nhu cầu được viết. Tình trạng này không xảy đến với tôi đã năm rưỡi nay. Như mỏm núi lửa bỏng bất ngờ thức dậy và sẵn sàng nổ tung. Tôi vội vàng lấy máy tính xách tay; sau giây lát do dự không biết phải bắt đầu câu chuyện thế nào, tôi bắt đầu gõ những dòng đầu tiên và sau này nó dần dần trở thành cuốn sách tiếp theo của tôi:
Mùa xuân năm 2008, tức là gần một năm sau khi tôi trở thành ngôi sao mới nổi của nền văn học nước Mỹ, đã xảy ra một sự kiện mà tôi quyết chôn chặt trong trí nhớ: tôi phát hiện ra thầy giáo đại học của tôi, Harry Quebert, 67 tuổi, một trong những nhà văn được tôn trọng nhất đất nước, trước đây khi ở độ tuổi 34, từng có quan hệ với một bé gái 15 tuổi. Câu chuyện này kéo dài suốt mùa hè năm 1975.