Trong suốt một tuần sau đó, tôi không hề đặt chân tới Aurora. Tôi thuê hẳn một phòng hạng siêu sang ở Regent’s, trung tâm Concord, tại đó, suốt ngày tôi chỉ cúi mặt hoặc vào cuộc điều tra, hoặc vào cuốn sách. Tôi chỉ nhận được tin tức của Harry thông qua Roth, anh ta báo cho tôi biết rằng ông đã tới ở tại phòng số 8 của nhà nghỉ Sea Side. Roth bảo Harry không còn muốn gặp lại tôi nữa vì tôi đã làm dơ bẩn tên Nola. Anh ta còn nói thêm:
– Xét cho cùng, tại sao anh lại đi kể với toàn giới báo chí rằng Nola là loại gái lăng loàn không tự tin vào bản thân?
Tôi định cố bảo vệ mình:
– Tôi không hề kể lể gì hết! Tôi mới viết có vài trang rồi đưa cho gã Roy Barnaski khốn kiếp vì ông ta muốn yên tâm thấy công việc của tôi có tiến triển. Ông ta cố ý sắp đặt cho tất cả các báo in tin dưới dạng là một vụ trộm.
– Nếu mà anh đã nói vậy thì…
– Nhân danh Chúa, không phải tôi cố tình nói vậy mà đó là sự thực!
– Dù sao đi nữa thì cũng hoan hô nghệ sĩ. Tôi không thể làm tốt hơn được.
– Anh muốn nói gì?
– Biến nạn nhân thành tội phạm, cách tốt nhất để bác bỏ lời kết tội.
– Harry được thả tự do trên cơ sở nghiên cứu nét chữ. Anh biết rõ điều đó hơn cả tôi.
– Ôi giời ơi, Marcus, như tôi đã nói với anh rồi, tòa án cũng chỉ là những con người cả thôi. Điều đầu tiên họ làm hàng sáng lúc uống cà phê, đó là đọc báo.
Roth là người nông dân xôi thịt nhưng không đến nỗi đáng ghét, cũng cố gắng an ủi tôi bằng cách giải thích rằng Harry rất rối loạn vì mất Goose Cove, nhưng rồi cảnh sát sẽ nhanh chóng tóm được hung thủ và Harry khi đó sẽ cảm thấy tốt hơn nhiều. Về vấn đề này, các điều tra viên hiện đang có hướng đi nghiêm túc: ngày hôm sau vụ hỏa hoạn, sau khi tìm kĩ xung quanh ngôi nhà, họ phát hiện trên bãi biển có bi đông đựng xăng giấu trong lùm cây, trên bi đông vẫn còn dấu vân tay. Nhưng không may là dấu vân tay này không trùng với bất kì dấu vân tay nào mà cảnh sát lưu giữ. Gahalowood cho rằng, nếu không có những yếu tố khác, rất khó mà nhầm lần được tội phạm. Theo Gahalowood, hẳn đây là một công dân gương mẫu nhất, trước kia chưa có tiền án tiến sự nên sẽ không bao giờ gây chú ý của mọi người. Tuy nhiên, ông ta cho rằng có thể thu hẹp đối tượng tình nghi là người trong vùng, ai đó ở Aurora, sau khi gây tội giữa ban ngày đã vội vàng thủ tiêu tang vật cồng kềnh vì sợ những người đi đạo ở đó phát hiện.
Tôi có sáu tuần để lật ngược diễn biến sự việc và biến cuốn sách của tôi thành tuyệt tác. Đã đến lúc phải chiến đấu, phải trở thành nhà văn như tôi mong muốn. Tôi dành buổi sáng để viết sách, còn buổi chiều tôi làm việc cùng Gahalowood. Anh ta đã biến căn phòng hạng siêu sang của tôi thành phòng làm việc phụ của mình, yêu cầu nhân viên phục vụ ở khách sạn chuyên chở những tập tài liệu chứa đầy bằng chứng, báo cáo, trích báo, ảnh và các lưu trữ khác.
Chúng tôi nghiên cứu lại từ đầu toàn bộ cuộc điều tra: chúng tôi đọc lại tất cả các báo cáo của cảnh sát, nghiên cứu tất cả lời khai của các nhân chứng thời kì đó. Chúng tôi vẽ bản đồ Aurora và những vùng lân cận, cùng tính toán các khoảng cách, từ nhà gia đình Kellergan tới Goose Cove, rồi từ Goose Cove tới đường Side Creek. Gahalowood đến tận nơi kiểm tra toàn bộ thời gian để di chuyển trên các quãng đường bằng xe hơi cũng như đi bộ, thậm chí anh ta còn kiểm tra lại cả thời gian can thiệp của cảnh sát địa phương tới các sự việc, thực sự là họ đã phản ứng rất nhanh.
– Khó mà chê trách được những gì Cảnh sát trưởng Pratt đã làm, tôi nói. Cuộc điều tra được tiến hành rất chuyên nghiệp. Còn về phần Harry, thì chúng ta biết rằng thông điệp trên tập bản thảo không phải do ông ấy viết. Thế thì tại sao Nola lại được chôn ở Goose Cove?
– Hẳn là để được yên, Gahalowood gợi ý. Anh có bảo với tôi, Harry kể cho tất cả mọi người rằng có lúc anh ta vắng mặt mấy ngày ở Aurora.
– Chính xác. Vậy theo anh, hung thủ biết Harry không có nhà?
– Có thể. Nhưng khi quay về, Harry lại không nhận ra có người đào hố ở gần nhà mình, công nhận điều này hơi lạ…
– Lúc đó ông ấy không được bình thường, tôi nói. Ông ấy lo lắng, suy sụp. Ông ấy chỉ ngồi đợi Nola. Thế thì cũng rất dễ hiểu khi ông ấy không nhận thấy vết đào bới, nhất là ở Goose Cove hễ trời chỉ hơi mưa là đất hoàn toàn biến thành bùn.
– Thế thì tôi cũng có thể đồng ý với anh. Vậy là, hung thủ biết chắc không ai đến làm phiền hắn ở đây. Nếu như người ta tìm ra bộ hài cốt, thì ai sẽ là người bị kết tội?
– Harry.
– Chuẩn rồi, nhà văn ạ.
– Thế thì tại sao lại có dòng chữ ấy? Tôi hỏi. Tại sao lại viết Vĩnh biệt Nola yêu quý?
– Câu hỏi này trị giá một triệu đô la, nhà văn ạ. Tức là, nếu tôi được phép nói, thì ý tôi là đây là câu hỏi dành cho anh đó.
Vấn đề chính chúng tôi gặp phải đó là các hướng nghiên cứu đang rất mông lung. Rất nhiều câu hỏi quan trọng vẫn tắc tị, Gahalowood ghi hết lên tờ giấy khổ lớn.
- Elijah Stern
Tại sao hắn trả tiền cho Nola để vẽ cô ấy? Động cơ nào giết chết Nola?
- Luther Caleb
Tại sao hắn vẽ Nola? Tại sao hắn lại lảng vảng ở Aurora? Động cơ nào giết Nola?
- David và Louisa Kellergan
Họ có đánh đập con gái mình quá đáng không? Tại sao họ giấu giếm ý định tự tử của Nola và vụ trốn nhà đi Martha’s Vineyard?
- Harry Quebert
Có phải là thủ phạm?
- Cảnh sát trưởng Gareth Pratt
Tại sao Nola lại quan hệ với ông ta? Động cơ: có bị Nola dọa tố cáo không?
- Tamara Quinn khẳng định tờ giấy lấy trộm ở nhà Harry bị mất cắp có đúng không? Ai đột nhập vào tiệm Clark’s?
- Ai là người viết những bức thư nặc danh cho Harry? Ai là người biết chuyện kể từ ba mươi ba năm nay mà không bao giờ hé răng?
- Ai là người đốt Goose Cove? Ai là người không muốn cuộc điều tra này kết thúc?
Buổi tối mà Gahalowood ghim tờ giấy trên tường trong căn phòng của tôi ở khách sạn, anh ta thở một cái rõ dài, đầy thất vọng.
– Chúng ta càng điều tra thì tôi càng thấy sự việc mờ mịt hơn, anh ta nói. Tôi nghĩ phải có một yếu tố trung tâm nối kết những con người và những sự kiện này với nhau. Đó chính là chìa khóa của cuộc điều tra! Nếu chúng ta tìm ra được mối liên hệ đó, chúng ta sẽ tìm ra thủ phạm.
Anh ta đổ gục xuống ghế bành. Lúc đó là 19 giờ, Gahalowood không còn chút năng lượng nào để suy nghĩ tiếp. Như những ngày trước đó, vào giờ này, tôi chuẩn bị ra ngoài để làm việc thường làm: tôi đấm bốc trở lại. Tôi tìm ra một phòng đấm bốc cách khách sạn 15 phút chạy xe và quyết định nghiêm túc quay trở lại võ đài. Chính nhân viên bảo vệ khách sạn giới thiệu nơi này cho tôi và anh ta cũng tập ở đó. Kể từ khi ở Regent’s, tối nào tôi cũng đến phòng tập này.
– Anh đi đâu mà ăn mặc như vậy? Gahalowood hỏi.
– Đấm bốc. Anh có muốn đi cùng không?
– Chắc chắn không.
Tôi nhét đồ vào túi xách và chào anh ta:
– Cứ ở đấy đến khi nào anh muốn, trung sĩ nhé. Khi về chỉ cần sập cửa lại là được.
– Ồ , đừng lo lắng gì cả, tôi chỉ ghé qua phòng làm việc thôi. Anh đi đấm bốc thật đấy à?
– Đúng.
Anh ta do dự một chút, rồi khi tôi đã đi qua cửa phòng, anh ta liền gọi:
– Đợi tôi một tí, nhà văn, thôi, tôi đi cùng với anh!
– Sao anh lại thay đổi ý kiến thế?
– Vì tôi muốn hạ gục anh. Tại sao anh lại thích đấm bốc hả nhà văn?
– Đó là cả một câu chuyện dài, trung sĩ ạ.
Thứ Năm ngày 17 tháng Bảy, chúng tôi đến gặp Neil Rodik, đại úy cảnh sát đã cùng chỉ đạo cuộc điều tra năm 1975. Hiện nay ông ấy đã tám mươi lăm tuổi, sống trên xe lăn, trong ngôi nhà dành cho người già bên bờ biển. Ông ấy vẫn còn nhớ những nghiên cứu thảm họa về Nola. Ông ấy nói đó là vụ án kéo dài cả đời ông ta.
– Đứa bé gái biến mất, thật không thể tưởng tượng nổi! Ông kêu lên. Một người phụ nữ thấy nó người đầy máu chạy ra khỏi rừng. Trong lúc gọi điện thoại cho cảnh sát, con bé vĩnh viễn biến mất. Theo tôi, điều ngạc nhiên nhất đó là tại sao cha Kellergan lại mở nhạc ầm ĩ đến như vậy. Điều này luôn giày vò tôi. Và rồi, hơn nữa, lúc nào tôi cũng tự hỏi tại sao làm cha mà lại không nhận ra con gái mình bị bắt cóc.
– Vậy thì thưa đại úy, đó là vụ bắt cóc sao? Gahalowood hỏi.
– Thật khó mà nói được thế. Không có bằng chứng gì cả. Không biết liệu có phải con bé ra ngoài đi dạo rồi bị kẻ rồ nào đó bắt lên xe tải và đưa đi? Ừ, hẳn là vậy.
– Liệu ông còn nhớ thời tiết của mấy ngày tìm kiếm trong rừng khi ấy không?
– Rất tệ, sương mù dày đặc. Tại sao anh lại hỏi tôi như vậy?
– Để biết chắc chắn Harry Quebert thực sự không thể phát hiện ra có người đào bới trong vườn của ông ta.
– Cũng không hẳn là vô lí. Khuôn viên nhà ông ta quá rộng. Nhà ông có vườn không hả trung sĩ?
– Có.
– Cỡ nào?
– Nhỏ thôi.
– Anh có nghĩ rằng nếu có ai đó tới nhà anh lúc anh đi vắng đào một cái hố nhỏ rồi sau đó anh không phát hiện ra?
– Quả thật là rất có thể.
Trên đường quay trở về Concord, Gahalowood hỏi ý kiến tôi về cuộc trò chuyện.
– Đối với tôi, tập bản thảo chứng minh rằng Nola không bị bắt ra khỏi nhà, tôi nói. Cô ấy đi với chủ định gặp Harry. Họ hẹn nhau ở chỗ nhà nghỉ, cô ấy bí mật bỏ nhà đi cùng thứ duy nhất có giá trị đáng kể. Cô ấy bị bắt chính trên đường đi.
Gahalowood mỉm cười.
– Tôi nghĩ tôi bắt đầu thích thú với ý tưởng này đấy, anh ta nói. Cô ta bỏ nhà, điều này lí giải tại sao không có ai biết hay nghe thấy gì. Cô ta đi đường 1 tới nhà nghỉ Sea Side. Chính lúc đó cô ta bị bắt. Hoặc có thể cô ta bị người quen tóm cổ trên đường. Chính thủ phạm đã viết Nola yêu quý. Hắn biết Nola. Hắn muốn chở cô ấy. Rồi thì hắn giở trò sàm sỡ. Có thể hắn tấp xe vào vệ đường, rồi thò tay dưới váy cô bé. Cô bé chống lại: hắn đánh Nola, bắt cô bé phải im. Nhưng hắn không khóa cửa xe, nên rốt cuộc Nola bỏ chạy. Cô bé muốn trốn trong rừng, và ai sống gần đường 1 và khu rừng Side Creek?
– Deborah Cooper.
– Chính xác! Kẻ tấn công để ô tô bên đường, đuổi theo Nola. Deberah Cooper nhìn thấy cả hai và gọi cảnh sát. Trong khi đó, kẻ tấn công tóm được Nola ở chỗ người ta tìm thấy máu và những lọn tóc; cô bé chống cự, bị hắn đánh cật lực. Có thể hắn đã cưỡng hiếp cô bé. Nhưng lúc đó cảnh sát đến: Travis Dawn và Cảnh sát trưởng Pratt bắt đầu lùng sục trong rừng và dần dần tiếp cận hắn. Vậy nên hắn kéo Nola vào tít sâu trong rừng, nhưng cô bé thoát được, chạy về nhà bà Deborah Cooper tìm cách trốn ở đó. Còn Dawn và Pratt thì tiếp tục lùng sục trong rừng. Cả hai đã đi quá xa để có thể nhận thức được mọi việc. Deborah Cooper mở cửa đón Nola vào phòng bếp và vội vàng đi vào phòng khách để gọi điện thoại cho cảnh sát. Khi bà quay trở lại phòng bếp, thì kẻ tấn công đã ở đó; hắn đột nhập vào nhà để bắt Nola. Hắn hạ bà Cooper bằng viên đạn xuyên tim và mang Nola đi. Hắn kéo cô bé tới tận ô tô, ném vào trong cốp xe. Có thể cô bé vẫn còn sống nhưng chắc đã bất tỉnh vì mất máu. Chính lúc đó hắn đụng phải xe ô tô của Phó cảnh sát trưởng. Cuộc rượt đuổi diễn ra. Sau khi cắt đuôi cảnh sát, hắn trốn ở Goose Cove. Hắn biết đó là nơi hiu quạnh, sẽ không có ai đến quấy rầy hắn. Các nhân viên cảnh sát lại truy lùng hắn ở đoạn trên, đoạn đường đi Montburry. Hắn để ô tô với Nola lại Goose Cove; có khi hắn còn đàng hoàng để xe vào gara. Sau đó hắn ra bãi biển và đi bộ về Aurora: hắn thạo đường, biết rõ đường rừng, hắn biết Harry đi vắng. Hắn biết hết. Hắn về nhà mà không làm bất kì ai chú ý; hắn tắm rửa, thay quần áo, rồi khi cảnh sát đến nhà gia đình Kellergan, nơi có người cha vừa báo con gái bị mất tích, thì hắn cũng hòa vào đám đông những người tò mò trên đại lộ Terrace Avenue. Đó chính là lí do tại sao ta không tìm ra kẻ giết người: bởi vì trong khi tất cả mọi người tìm kẻ sát nhân xung quanh Aurora, thì hắn lại trà trộn vào đám động hiếu kì, ngay chính giữa Aurora.
– Mẹ kiếp, tôi nói. Vậy thì hắn ở ngay đó à?
– Đúng vậy. Tôi tin rằng từ bấy đến giờ hắn vẫn ở đây. Giữa đêm, hắn chỉ việc quay trở về Goose Cove xuyên qua bãi biển. Tôi nghĩ lúc đó thì Nola đã chết. Vậy nên hắn chôn cô bé ngay đấy, cạnh bìa rừng, nơi không ai nhận thấy đất bị đào lên. Sau đó, hắn quay lại lấy ô tô và để gọn gàng trong gara riêng, từ đó, hắn không đi chiếc xe đó ra ngoài trong một thời gian dài để tránh mọi ngờ vực. Vụ án thật hoàn hảo.
– Vậy từ đó, chúng ta có thể suy ra được điều gì?
– Một người đàn ông cô độc. Một người nào đó hành động mà không làm cho bất kì ai đặt câu hỏi và không hỏi tại sao hắn không lái ô tô ra khỏi gara. Một người nào đó sở hữu chiếc ô tô hiệu Monte Carlo màu đen.
Tôi háo hức theo:
– Vậy chỉ cần xem ai là người sở hữu xe Chevrolet màu đen ở Aurora vào thời kì đó thì ta sẽ có được gã đàn ông của mình!
Gahalowood hạ nhiệt tôi ngay lập tức:
– Vào thời kì đó, Pratt cũng nghĩ vậy. Pratt đã nghĩ đến tất cả mọi điều. Trên báo cáo của ông ta có cả danh sách những người sở hữu xe ô tô hiệu Chevrolet màu đen ở Aurora và cả ở vùng lân cận. Ông ta đã đến gặp từng người và tất cả bọn họ đều có bằng chứng ngoại phạm chắc chắn. Tất cả, chỉ trừ một người: đó là Harry Quebert.
Lại là Harry. Chúng tôi lúc nào cũng vấp phải Harry. Mỗi một tiêu chí phụ mà chúng tôi xác định được để lật tẩy bộ mặt kẻ sát nhân đều dẫn tới Harry.
– Thế Luther Caleb thì sao? Tôi hỏi, le lói tia hi vọng. Hắn sở hữu loại ô tô nào?
Gahalowood lắc đầu:
Xe Mustang màu xanh.
Tôi thở dài.
– Theo anh, thưa trung sĩ, từ bây giờ chúng ta phải làm gì?
– Caleb còn có người em gái mà chúng ta chưa thẩm tra. Tôi nghĩ đã đến lúc phải tới thăm cô ta. Đó là hướng đi duy nhất mà chúng ta còn chưa thực sự khai thác.
Tối hôm đó, sau khi luyện đấm bốc xong, tôi lấy hết cam đảm đi tới nhà nghỉ Sea Side. Lúc đó khoảng 21 giờ rưỡi. Harry đang ngồi trên ghế tựa bằng nhựa, trước phòng số 8, tận hưởng không khi dịu dàng của buổi tối và uống sôđa. Nhìn thấy tôi nhưng ông không nói lời nào; lần đầu tiên, trước ông, tôi cảm thấy lúng túng.
– Em cần gặp thầy, thầy Harry. Để nói với thấy rằng em cảm thấy vô cùng tiếc về tất cả những chuyện đã xảy ra
Ông ra hiệu cho tôi ngồi xuống chiếc ghế tựa bên cạnh.
– Sôđa không? Ông hỏi.
– Dạ, vâng ạ.
– Có máy bán tự động ở cuối hành lang.
Tôi mỉm cười, chạy đi mua một lon Coca light. Khi quay trở lại, tôi nói với ông:
– Lần đầu tiên đến Goose Cove, thầy cũng nói như vậy với em. Lúc đó em đang năm thứ nhất đại học. Thầy pha nước chanh và hỏi em có muốn uống không. Em trả lời là có, thế là thầy bảo em tự đi mà lấy trong tủ lạnh.
– Thời kì ấy thật đẹp.
– Vâng.
– Điều gì đã thay đổi vậy, Marcus?
– Không có gì. Tất cả, nhưng lại không có gì. Chúng ta đã thay đổi tất cả, thế giới thay đổi. Trung tâm thương mại thế giới sụp đổ, nước Mỹ tham chiến…Nhưng thầy đối với em không thay đổi. Thầy vẫn là thầy của em. Thầy vẫn là Harry.
– Điều đã thay đổi là trận chiến giữa thầy và trò, Marcus ạ.
– Không, chúng ta không hề có đấu tranh.
– Thế mà có đấy. Tôi dạy cho anh viết sách, và hãy xem sách vở của anh đã làm gì tôi: chúng làm hại tôi.
– Em không bao giờ muốn làm hại thầy, thầy Harry. Em hứa với thầy sẽ tìm ra kẻ đốt Goose Cove.
– Nhưng điều đó có trả lại ba mươi năm kỉ niệm mà tôi vừa bị mất không? Toàn bộ đời tôi đã tan thành khói! Tại sao anh lại kể những điều kinh hoàng nhường vậy về Nola?
Tôi không trả lời. Chúng tôi ngồi im lặng hồi lâu. Mặc dù chỉ có ánh sáng yếu ớt từ bóng điện hành lang, nhưng thầy vẫn nhận thấy những vết thương trên nắm tay tôi vì tôi tập đấm bốc.
– Tay anh, ông nói. Anh lại quay trở lại tập đấm bốc à?
– Vâng.
– Anh đấm không đúng chỗ. Điều đó luôn luôn là điểm yếu của anh. Anh đấm tốt, nhưng cứ để đốt đầu của ngón cái quá cao nên nó bị va vào lúc đấm.
– Thầy trò mình đi đấm bốc nhé? Tôi đề nghị.
– Nếu anh muốn.
Chúng tôi ra bãi để xe. Không một bóng người. Chúng tôi cởi trần trùng trục. Thầy gầy đi rất nhiều. Thầy ngắm nhìn tôi:
– Người anh rất đẹp, Marcus ạ. Lo cưới vợ đi, trời ạ! Cưới vợ ngay đi!
– Em có cuộc điều tra phải hoàn thành cái đã.
– Quỷ tha ma bắt cuộc điều tra của anh đi!
Chúng tôi đứng đối diện nhau, đấm những cú thận trọng; một người đấm thì người kia phải giữ thế thủ vững chắc và tự vệ. Harry đấm một cú mạnh.
– Thầy không muốn biết ai là kẻ giết Nola à? Tôi hỏi.
Harry dừng lại ngay.
– Anh biết kẻ đó à?
– Không. Nhưng các hướng điều tra đang tiến triển rất tốt. Ngày mai trung sĩ Gahalowood và em sẽ đi gặp em gái của Luther Caleb ở Portland. Bọn em còn nhiều người phải thẩm tra ở Aurora.
Ông thở dài:
– Aurora… Kể từ khi ra khỏi tù, tôi chưa gặp lại bất kì ai. Hôm trước, tôi dừng lại đôi phút trước Goose Cove. Cảnh sát cứu hỏa nói tôi có thể vào, tôi vào lấy ít đồ dùng rồi đi bộ tới đây. Từ đó tôi chẳng đi đâu nữa cả. Roth lo thu xếp với bảo hiểm và tất cả những việc cần thiết khác. Tôi không thể tới Aurora được nữa. Tôi không muốn nhìn thẳng những người ở đó, bảo họ rằng tôi yêu Nola và tôi viết sách cho cô ấy. Thậm chí tôi còn không thể nhìn tôi một cách trực diện. Roth nói với tôi rằng cuốn sách của anh sẽ được gọi là Vụ án Harry Quebert.
– Đúng vậy. Cuốn sách của em kể rằng tác phẩm của thầy là một cuốn sách hay. Em rất thích Nguồn gốc cái xấu xa! Chính cuốn sách đó đã thúc đẩy em trở thành nhà văn!
– Đừng nói vậy, Marcus!
– Đó là sự thật! Đó là cuốn sách hay nhất em được đọc. Thầy là nhà văn thần tượng của em!
– Vì tình yêu của Chúa, xin anh đừng nói nữa!
– Em muốn viết sách để bảo vệ tác phẩm của thầy, thầy Harry ạ. Khi biết thầy viết cuốn sách đó cho Nola, mới đầu em rất choáng, thật đấy. Rồi em đọc lại. Nó rất tuyệt vời! Thầy nói hết trong đó! Nhất là đoạn cuối. Thầy kể lại nỗi buồn lúc nào cũng làm thầy đau khổ. Em không thể để cho mọi người làm bẩn cuốn sách đó, bởi vì chính cuốn sách đó dạy em nên người. Thầy biết đấy, cái thuở nước chanh, lúc em tới nhà thầy lần đầu: khi em mở tủ lạnh ra thấy nó trống trơn, thì em hiểu ra nỗi cô đơn của thầy. Ngày hôm đó, em đã hiểu: Nguồn gốc cái xấu xa là cuốn sách về nỗi cô đơn. Thầy đã viết nỗi cô đơn một cách ấn tượng nhất. Thầy là nhà văn vĩ đại!
– Đừng nói nữa, Marcus!
– Phần cuối cuốn sách mới hay chứ! Thầy không chấp nhận tất cả những điều liên quan tới Nola: Nola đã biến mất mãi mãi, thầy biết thế nhưng vẫn cứ chờ đợi, bất chấp tất cả… Bây giờ khi em đã thực sự hiểu được cuốn sách của thầy, câu hỏi duy nhất của em là liên quan tới tựa đề cuốn sách. Tại sao thấy đặt tên sầu khổ đến vậy cho cuốn sách hay như thế?
– Điều này rất phức tạp, Marcus.
– Nhưng em đến với thầy là để được hiểu biết…
– Điều đó quá phức tạp…
Chúng tôi nhìn thẳng nhau, đối đầu nhau, tư thế phòng thủ như hai tên lính xung trận. Rốt cuộc ông nói:
– Tôi không biết có nên tha lỗi cho anh không, Marcus ạ…
– Tha lỗi cho em? Nhưng em sẽ xây lại Goose Cove! Em sẽ trả hết! Với số tiền thu được từ cuốn sách, chúng ta sẽ xây lại toàn bộ ngôi nhà! Thầy không thể phá bỏ tình bạn của chúng ta như vậy!
Ông bắt đầu khóc.
– Anh không thể hiểu được, Marcus ạ. Không phải tại anh! Anh không có lỗi gì, ấy vậy mà tôi lại không thể tha thứ cho anh được.
– Nhưng tha thứ cho em về chuyện gì?
– Tôi không thể nói cho anh biết được. Anh sẽ không thể hiểu…
– Thế là thế nào, thầy Harry! Tại sao lại có trò đánh đố như vậy chứ? Chuyện gì xảy ra vậy, trời ơi!
Ông lấy mu bàn tay quật những giọt nước mắt lăn tràn trên khuôn mặt.
– Anh còn nhớ lời khuyên của tôi không? Ông hỏi. Khi anh còn là sinh viên của tôi, một hôm tôi nói với anh: đừng bao giờ viết một cuốn sách nếu anh không biết đoạn kết.
– Vâng, em còn nhớ chứ. Em sẽ mãi mãi ghi nhớ điều này.
– Đoạn kết cuốn sách của anh sẽ là thế nào?
– Sẽ là một cái kết đẹp.
– Nhưng rốt cuộc thì cô ấy chết!
– Không, cuốn sách đó sẽ không kết thúc bằng cái chết của nhân vật nữ chính. Sau đó còn những điều tốt đẹp sẽ xảy ra.
– Điều gì vậy?
– Người đàn ông từng chờ đợi cô ấy ba mươi năm sẽ bắt đầu sống lại từ đầu.
TRÍCH ĐOẠN TỪ: NGUỒN GỐC CÁI XẤU XA (trang cuối)
Khi anh hiểu ra rằng không có gì kéo dài mãi mãi và hi vọng chỉ là dối trá, thì anh bắt đầu viết cho nàng lần cuối cùng. Sau những bức thư tình, đã đến lúc phải viết thư buồn. Phải chấp nhận như vậy. Từ bây giờ, anh không làm gì ngoài chờ đợi nàng. Suốt đời anh sẽ chờ nàng. Nhưng anh cũng biết rằng nàng sẽ không bao giờ trở lại nữa. Anh biết sẽ không còn được gặp nàng nữa, không còn được nhìn thấy nàng nữa, không còn được nghe tiếng nàng nữa.
Khi anh hiểu ra rằng không có gì kéo dài mãi mãi, anh viết cho nàng lần cuối cùng.
Em yêu quý!
Đây là bức thư cuối cùng của anh. Đây là những lời cuối cùng của anh. Anh viết cho em để nói với em lời vĩnh biệt.
Kể từ ngày hôm nay, sẽ không còn “chúng ta” nữa. Những người yêu nhau rời xa nhau và không còn gặp lại, chuyện tình của họ cũng kết thúc.
Em yêu, anh sẽ rất nhớ em. Anh nhớ em vô cùng.
Đôi mắt anh đẫm lệ. Trong anh đang bốc cháy.
Chúng ta sẽ không còn gặp nhau nữa; anh nhớ em vô cùng.
Hi vọng em sẽ được hạnh phúc.
Anh tự nhủ rằng anh và em chỉ là giấc mơ, bây giờ đã đến lúc phải thức dậy. Suốt đời anh nhớ em.
Vĩnh biệt. Anh yêu em, sẽ không bao giờ yêu nữa.