Nhà tù dành cho tù nhân nam của bang New Hampshire nằm tại số 281 phố North State Street, về phía bắc thành phố Concord. Từ Aurora, chỉ cần ra khỏi đường chính 93 sau trung tâm thương mại Capitol, theo phố North Street qua nhà nghỉ Holiday Inn và đi thẳng tiếp thêm khoảng mười phút. Sau khi đi qua khu nghĩa trang Blosson Hill và một cái hồ nhỏ hình móng ngựa kế bên con sông, những hàng rào sắt và dây thép gai khiến không có ai có thể nhầm lẫn hay nghi ngờ gì về địa điểm này, tôi bèn đi thẳng tới, sau đó một chút, có biển đề chính thức nhà tù, phía sau là những tòa nhà cũ kĩ bằng gạch đỏ có tường dày bao xung quanh, tiếp đến là lối vào chính bằng cửa sắt. Ngay đối diện, phía bên kia đường, là cửa hàng buôn bán xe ô tô.
Roth đợi tôi ở bãi đỗ xe, hút một điều xì gà rẻ tiền, trông có vẻ điềm tĩnh. Anh ta vỗ vai chào tôi cứ như là giữa những người bạn thân thiết.
– Lần đầu tiên vào nhà tù à? ta hỏi tôi.
– Vâng.
– Hãy cố gắng điềm tĩnh.
– Ai nói với anh rằng tôi không điềm tĩnh?
Anh ta nhìn tốp nhà báo đúng đợi lấy tin và nói:
– Họ có mặt khắp nơi. Nhớ là không bao giờ trả lời khi họ nài nỉ nhé. Họ là lũ ăn xác thối, Goldman ạ. Họ sẽ tấn công cho đến tận khi anh phải nhả ra một vài thông tin ngon lành mới thôi. Anh phải tỏ ra vững chắc và giữ im lặng. Chỉ cần anh đề cập chút thông tin rồi không được diễn dịch lại chính xác thì nó sẽ có tác dụng phản lại chúng ta và sẽ làm cho chiến lược bảo vệ của tôi gặp khó khăn.
– Chiến lược bảo vệ của anh là gì?
Roth nhìn tôi với vẻ rất nghiêm túc.
– Phủ nhận toàn bộ.
– Phủ nhận toàn bộ? Tôi lặp lại.
– Toàn bộ. Cả mối quan hệ giữa hai người, cả việc bắt cóc, cả hai vụ giết người. Chúng ta sẽ bào chữa cho ông ấy hoàn toàn vô tội, tôi sẽ rửa tội cho Harry và tôi tính sẽ đòi bồi thường hàng triệu đô la từ phía nhà nước New Hampshire.
– Anh làm thế nào với tập bản thảo mà cảnh sát đã tìm thấy chôn cạnh xác chết? Thế còn những lời thú tội của Harry liên quan đến Nola thì sao?
– Bản thảo không chứng tỏ điều gì hết. Viết truyện không thể giết hại bất kì ai cả. Hơn nữa, Harry cũng đã nói và ông ấy có lí: trước khi biến mất, Nola đã mang theo bản thảo đi. Còn về tí chút quan hệ tình cảm của họ ư, ừ thì cứ cho là có say mê nhau đi. Nhưng điều đó không có gì độc ác cả. Chẳng có gì là phạm pháp. Rồi anh sẽ thấy, tòa sẽ không thể chứng minh được gì.
– Tôi đã nói chuyện với Travis Dawn, Cảnh sát trưởng ở Aurora, ông ta nói rằng hồi đó người ta đã từng nghi Harry là thủ phạm.
– Mẹ kiếp, nhảm nhí!
Roth dễ dàng trở nên thô tục khi không vừa ý.
– Rõ ràng lúc đó nghi phạm lái chiếc xe Chevrolet Monte Carlo màu đen. Travis bảo đó cũng chính là loại xe Harry sở hữu lúc ấy.
– Mẹ kiếp, quá vớ vẩn! Roth nói tiếp. Nhưng nắm được thông tin này rất có ích. Anh làm việc tốt đấy, Goldman ạ, đây chính là kiểu tin tôi cần biết. Hơn nữa, anh biết lũ người nhà quê sống ở Aurora, nhờ anh thỉnh thoảng hỏi han họ để nắm rõ khi được gọi ra làm nhân chứng trong quá trình xét xử thì họ sẽ dùng mớ lá cải nào nhé. Cố gắng tìm hiểu xem thằng nào nghiện rượu và hay đánh vợ: một nhân chứng nghiện rượu hoặc đánh vợ sẽ không được coi là nhân chứng đáng tin cậy.
– Ôi trời, mánh khóe này bẩn thỉu quá
– Chiến tranh là chiến tranh, anh Goldman ạ. Bush từng nói dối cả quốc gia khi tấn công Irac, nhưng việc đó là cần thiết: hãy nhìn xem, chúng ta đã đã đít Sadda, giải phóng cho người Irac, rồi sau đó cả thế giới khỏe khoắn hẳn lên.
– Phần lớn người Mỹ phản đối cuộc chiến tranh này. Đó là một thảm họa.
Ông ta có vẻ thất vọng:
– Ồ, không, tôi chắc chắn đấy… ông ta nói.
– Chắc chắn gì?
– Anh sẽ bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ à Goldman?
– Tất nhiên là tôi bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ rồi.
– Anh sẽ thấy, họ sẽ đánh một mức thuế cao chót vót cho những tay đại gia như anh ý. Lúc đó, có khóc lóc cũng quá muộn rồi. Để lãnh đạo được toàn bộ nước Mỹ, cần phải có bộ bìu. Mà bìu voi thì vừa to vừa dài hơn bìu lừa, thế thôi, nó là di truyền rồi.
– Ông thật là người có tinh thần cao độ đấy, Roth ạ. Dù sao đi chăng nữa thì Đảng Dân chủ đã thắng trong cuộc tranh cử tổng thống. Cuộc chiến tranh quá tuyệt hảo của ông cũng không thay đổi được thế cân bằng vì có quá nhiều người căm ghét nó.
Ông ta nở một nụ cười mỉa mai, gần như tỏ ý khó tin:
– Thôi, đừng có nói với tôi là anh tin như thế đấy nhé! Một phụ nữ và một tay Da Đen, hay hớm quá Goldman! Một phụ nữ và một tay Da Đen! Nào nào, anh là chàng trai thông minh, hãy nghiêm túc một chút: có ai lại hầu phụ nữ và người Da Đen đứng đầu nước bao giờ không? Hãy viết tiểu thuyết về chuyện đó. Một tiểu thuyết khoa học viễn tưởng quá đẹp. Cuốn sách tới sẽ viết về chuyện gì? Chuyện phụ nữ đồng tính của đảo Portorico hay là về thủ lĩnh da đỏ?
Theo yêu cầu của tôi, sau những nghi thức thông thường, Roth để cho tôi được gặp riêng Harry giây lát trong phòng đợi. Harry ngồi bên chiếc bàn nhựa, mặc trang phục tù nhân, vẻ mặt của kẻ thất trận. Lúc tôi bước vào phòng, khuôn mặt ông rạng rỡ hẳn lên. Ông đứng dậy, chúng tôi ôm nhau và tựa vào nhau hồi lâu, rồi mỗi người ngồi vào một ghế cạnh bàn, câm lặng. Rốt cuộc, ông nói với tôi:
– Tôi sợ, Marcus ạ.
– Chúng em sẽ kéo thầy ra khỏi vụ này, thầy Harry.
– Tôi có xem tivi, anh biết đấy. Tôi thấy hết mọi điều người ta đang bàn luận. Tôi thế là xong. Sự nghiệp cũng kết thúc. Cuộc đời của tôi vậy là chấm hết. Chuyện này đánh dấu điểm bắt đầu suy tàn trong đời tôi: tôi nghĩ mình đang rơi!
– Không bao giờ phải sợ, thầy Harry ạ.
Ông mỉm cười buồn bã.
– Cảm ơn anh đã đến đây.
– Đó là điều bạn bè với nhau phải làm. Em đến Goose Cove ở, nuôi bọn mòng biển.
– Anh biết đấy, nếu anh muốn về New York, thì tôi rất hiểu.
– Em chẳng đi đâu cả. Roth đúng là chú chim buồn cười nhưng có vẻ anh ta biết việc phải làm: Roth bảo thầy sẽ được minh oan. Em ở lại đây để giúp thầy. Em sẽ làm mọi việc để tìm ra sự thật và lấy lại danh dự cho thầy.
– Thế còn cuốn sách mới của anh thì sao? Nhà xuất bản của anh đợi nó cuối tháng này phải không?
Tôi cúi đầu:
– Không có cuốn sách nào cả. Em không còn ý tưởng gì nữa.
– Không còn ý tưởng nữa nghĩa là thế nào?
Tôi không trả lời và chuyển hướng câu chuyện, rút trang báo mà trước đó mấy tiếng, tôi đã xé mang đi từ tiệm Clark’s.
– Thầy Harry, tôi nói, em cần phải biết thêm. Em cần phải biết sự thật. Lúc nào em cũng nghĩ đến cú điện thoại thầy gọi em hôm trước. Lúc đó thầy bảo, thầy không biết đã làm gì Nola.
– Lúc đó tôi đang quá xúc động, Marcus ạ. Tôi vừa bị cảnh sát bắt và được quyền gọi một cuộc điện thoại trước khi vào phòng giam. Người duy nhất tôi muốn báo tin, đó là anh. Không phải là báo cho anh biết tôi bị bắt, mà báo cho anh biết Nola đã chết. Vì anh là người duy nhất biết chuyện Nola và tôi cần phải chia sẻ nỗi buồn của mình với ai đó. Trong suốt những năm qua, tôi vẫn cứ hi vọng cô ấy còn sống ở đâu đó. Nhưng cô ấy đã chết ngay từ đầu … Cô ấy đã chết và vì rất nhiều lí do khác nhau, tôi cảm thấy mình có lỗi. Có lỗi, có thể là vì không biết cách bảo vệ cô ấy. Nhưng không đời nào tôi lại giết cô ấy, tôi thề rằng mình hoàn toàn vô tội trước những cáo buộc của thiên hạ hiện nay.
– Em tin thầy. Thầy đã nói gì với cảnh sát rồi?
– Nói sự thật. Sự thật là tôi vô tội. Tại sao tôi lại gọi người tới trồng hoa vào đúng chỗ đó, phải không nào? Đó là việc hoàn toàn phi lí! Tôi cũng nói với họ rằng tôi không biết tại sao tập bản thảo lại nằm ngay đấy, nhưng họ phải biết là tôi viết cuốn tiểu thuyết đó về Nola, cho Nola trước khi cô ấy mất tích. Nola và tôi yêu nhau. Chúng tôi sống cùng nhau một mùa hè ngay trước khi cô ấy mất tích và nhờ đó tôi mới viết được cuốn sách mà tôi có quyền sở hữu. Lúc đó tôi có hai bản thảo: một bản gốc viết tay và một bản đánh máy. Nola rất quan tâm tới những gì tôi viết, thậm chí cô ấy còn giúp tôi viết lại cho sạch sẽ rõ ràng. Thế rồi một hôm, tôi không thấy bản đánh máy nữa. Lúc đó là cuối tháng Tám, trước khi Nola mất tích … Tôi cho rằng Nola đã cầm theo để đọc, đôi khi cô ấy vẫn làm vậy mà. Cô ấy đọc các trang bản thảo rồi thỉnh thoảng đưa ra lời khuyên. Cô ấy cầm đi mà không hỏi ý tôi…Nhưng lần này, tôi không thể hỏi được có phải cô ấy đã cầm một tập bản thảo hay không, vì sau đó, cô ấy mất tích. Tôi chỉ còn cầm bản viết tay. Đó chính là cuốn Nguồn gốc cái xấu xa, cuốn tiểu thuyết thành công mà mấy tháng sau anh đã biết.
– Vậy thực sự thầy viết cuốn đó cho Nola à?
– Đúng vậy, tôi nghe thấy trên vô tuyến người ta nói cuốn sách sắp bị cấm lưu hành.
– Nhưng chuyện gì đã xảy ra giữa thầy và Nola?
– Chuyện tình cảm, Marcus ạ. Tôi yêu cô ấy như điên. Tôi nghĩ tôi đã mất hết.
– Thế ngoài ra, cảnh sát có còn bằng chứng gì chống lại thấy nữa không?
– Tôi không biết.
– Thế còn cái hộp? Cái hộp đựng thư với ảnh? Em không thấy ở nhà thấy nữa.
Harry không có đủ thời gian để trả lời: của phòng mở ra, ông liền ra hiệu cho tôi im lặng. Roth bước vào, đi đến bên bàn, đứng cạnh chúng tôi. Khi anh ta ngồi xuống, Harry kín đáo lấy quyển sổ trước mặt tôi, viết vào đó những chữ gì mà tôi không đọc ngay được lúc đó.
Roth bắt đầu diễn giải dài dòng về quá trình diễn biến sự việc. Sau khoảng nửa tiếng độc thoại, anh ta hỏi Harry:
– Có chi tiết nào ông quên chưa kể cho tôi nghe về Nola không? Tôi phải biết mọi chuyện, điều đó rất quan trọng.
Yên lặng một lúc, rồi Harry nhìn chăm chăm chúng tôi hồi lâu và nói:
– Đúng là có một điều anh cần phải biết. Đó là vào ngày 30 tháng Tám năm 1975. Tối hôm đó, cái tối định mệnh hôm Nola biến mất, nhẽ ra cô ấy phải đến gặp tôi.
— Gặp ông? Roth hỏi lại.
– Cảnh sát hỏi tôi đã làm gì vào tối ngày 30 tháng Tám năm 1975, tôi trả lời lúc đó tôi không có mặt trong thành phố. Nhưng tôi đã nói dối. Đó là điều duy nhất tôi nói dối. Đêm đó, tôi ở gần Aurora, trong phòng nhà nghỉ trên đường 1, theo hướng đi Vermont. Nhà nghỉ Sea Side. Hiện tại nhà nghỉ này vẫn còn ở đó. Tôi ở phòng số 8, ngồi trên giường chờ đợi, người thơm phức mùi nước hoa như một thiếu niên, trên tay là bó cẩm tú cầu xanh lơ, đó là loại hoa mà Nola rất thích. Chúng tôi hẹn gặp nhau lúc 19 giờ, nhưng tôi đợi mãi mà cô ấy không tới. Lúc 21 giờ, nghĩa là đã trễ hẹn hai tiếng, mà Nola là người không bao giờ trễ hẹn, không bao giờ, tôi đặt những bông cẩm tú cầu vào bồn rửa rồi bật đài nghe cho khuây khỏa. Đêm đó là một đêm nặng nề, trời nổi giông bão, vô cùng nóng nực, tôi thấy ngột ngạt trong bộ com lê. Tôi rút mảnh giấy trong túi ra, đọc đi đọc lại hàng chục lần, có lẽ đến cả trăm lần. Mảnh giấy Nola viết cho tôi mấy hôm trước đó, những con chữ xinh xắn ngập tràn yêu thương mà tôi sẽ không bao giờ có thể quên, bảo tôi rằng:
Xin anh đừng lo lắng Harry, đừng lo lắng vì em, em sẽ tự tìm cách để gặp anh ở đấy. Hãy đợi em ở phòng số 8, em rất thích con số này, nó là số em thích nhất. Hãy đợi em trong phòng lúc 19 giờ. Sau đó chúng ta sẽ ra đi cùng nhau, sẽ bên nhau mãi mãi. Yêu anh thật nhiều, người yêu dấu của em.
Nola.
“Tôi nhớ lúc đó trên đài người ta thông báo bây giờ là 22 giờ. 22 giờ mà Nola vẫn chưa đến. Thế rồi tôi ngủ thiếp đi, mặc nguyên cả quần áo nằm trên giường. Khi tôi mở mắt ra thì trời đã sáng. Đài vẫn tiếp tục nói, đó là bản tin thời sự 7 giờ sáng:…tổng báo động trên toàn bộ thành phố Aurora sau vụ một thiếu nữ mười lăm tuổi, tên là Nola Kellergan, mất tích tối hôm qua, vào khoảng 19 giờ. Cảnh sát tìm tất cả những người có thể cung cấp thông tin […] Vào lúc biến mất, Nola Kellergan mặc váy đỏ […]. Tôi hoảng sợ, đứng bật dậy. Tôi vội vàng vứt bó hoa rồi quay trở lại thành phố Aurora, quần áo xộc xệch, tóc tai bù xù. Tôi đã thanh toán tiền phòng từ hôm trước.
“Chưa bao giờ tôi thấy ở Aurora có nhiều cảnh sát đến vậy. Xe cảnh sát đến từ mọi miền. Trên đường 1, có thanh chắn lớn chắn ngang để kiểm tra tất cả xe ô tô ra vào thành phố. Tôi gặp Cảnh sát trưởng Gareth Pratt, súng lăm lăm trong tay:
– Thưa đội trưởng, tôi vừa nghe trên đài, tôi nói.
– Thật là rác rưởi, bẩn thỉu, ông ta đáp.
– Chuyện gì xảy ra vậy?
– Không ai biết gì cả: Nola Kellergan đã biến mất khỏi nhà. Người ta thấy cô bé ở đường Side Creek tối hôm qua rồi từ đó không còn dấu vết gì nữa. Toàn vùng đã bị chặn chốt, cả cánh rừng đã được bới tung lên để tìm kiếm, nhưng vẫn chưa thấy Nola.
“Trên đài, người ta miêu tả tóm tắt về cô ấy như thế này: thiếu nữ, da trắng, cao 1m69, nặng 50kg, tóc vàng dài, mắt xanh, mặc váy đỏ, đeo dây chuyền vàng khắc tên Nola. Váy đỏ, váy đỏ, váy đỏ. Đó là chiếc váy cô ấy thích nhất. Cô ấy mặc chiếc váy đó là vì tôi. Vậy đấy. Đêm 30 tháng Tám năm 1975, tôi đã làm những việc như vậy đấy!
Roth và tôi sững sờ.
– Hai người phải chạy trốn với nhau à? Tôi hỏi. Đúng vào cái ngày cô ấy biến mất, thầy và cô ấy phải chạy trốn với nhau à?
– Đúng vậy.
– Chính vì vậy mà khi gọi điện thoại cho em hôm trước, thầy bảo là do lỗi của thầy phải không? Hai người hẹn nhau nhưng cô ấy không đến và bị mất tích trên đường đến chỗ hẹn …
Ông gật đầu buồn bã:
– Tôi nghĩ rằng, nếu không có cuộc hẹn đó, có thể cô ấy còn sống…
Khi chúng tôi bước ra khỏi phòng, Roth bảo tôi âm mưu chạy trốn của Harry và Nola là thảm họa cần phải giấu nhẹm đi bằng mọi giá. Nếu thẩm phán mà biết được thì Harry hết đời. Chúng tôi chia tay nhau ở bãi đỗ xe. Đợi đến khi ngồi hẳn vào trong xe riêng, tôi mới mở cuốn sổ ra đọc những chữ thầy Harry vừa viết ban nãy:
Marcus-trên bàn thầy, có chiếc bình gốm. Dưới đáy bình, có một chìa khóa. Đó là chìa khóa ô tủ đựng đồ tập của thầy, ô tủ số 201 ở trung tâm thể dục Montburry. Tất cả trong đó. Hãy đốt hết đi. Thầy đang gặp nguy hiểm.
Montburry là thành phố láng giềng của Aurora, nằm sâu hơn chục dặm về phía đất liền. Buổi chiều cùng ngày, sau khi qua Goose Cove để ghé về nhà tìm chìa khóa lẫn giữa đống ghim giấy trong chiếc bình gốm, tôi đi luôn Montburry. Tại đây chỉ có đúng duy nhất một phòng tập, nằm trong tòa nhà hiện đại hoàn toàn bằng kính trên trục đường chính.
Khu tủ để đồ không bóng người, tôi thấy ngăn tủ số 201, tra chìa khóa vào thì vừa khít. Bên trong, có một bộ quần áo kéo khóa, một hộp đường nhỏ, một đôi găng đấm bốc và chiếc hộp gỗ trứ danh mà tôi phát hiện trước đó mấy tháng trong phòng làm việc tại nhà Harry. Mọi thứ trong đó còn nguyên: những tấm ảnh, những bài báo và tin nhắn chính tay Nola viết. Tôi còn thấy một tập giấy ghim lại với nhau đã ngả vàng. Trang bìa hoàn toàn trắng, không có tựa đề. Tôi xem lướt qua những trang tiếp theo: những trang viết tay mà chỉ cần đọc những dòng đầu tiên, tôi cũng thừa hiểu đây là bản thảo của Nguồn gốc cái xấu xa. Tập bản thảo nằm ngủ yên giữa tủ quần áo của trung tâm thể dục thẩm mĩ này chính là tập bản thảo tôi đã ra sức tìm kiếm trước đó mấy tháng. Tôi ngồi xuống ghế dài giở xem các trang giấy, run người vì thán phục: những hàng chữ viết hoàn hảo, không hề tẩy xóa. Tôi say sưa tới mức không nhận thấy một số người đang bước vào thay quần áo.
Tôi không tài nào rời mắt khỏi những trang viết. Tuyệt tác mà tôi hằng ao ước viết được là đây, Harry đã làm được điều đó. Ông ngồi trong một tiệm ăn mà viết nên tuyệt tác với các câu chữ tinh túy khiến toàn nước Mỹ phải cảm động và cất giấu bên trong đó một cách vô cùng cẩn trọng và tài tình câu chuyện tình của mình với Nola Kellergan.
Khi về tới Goose Cove, tôi làm theo lời Harry một cách thận trọng. Tôi đốt lửa trong lò ở phòng khách rồi ném toàn bộ mọi thứ đựng trong chiếc hộp gỗ vào đó: bức thư, những chiếc ảnh, những bài báo được cắt ra từ tạp chí và cuối cùng là tập bản thảo viết tay. Thầy đang gặp nguy hiểm, Harry đã viết cho tôi như vậy. Nhưng không biết ông muốn nói đến nguy hiểm nào? Ngọn lửa bùng lên dữ dội: bức thư của Nola chỉ còn là đóng tro tàn, các bức ảnh cũng trở thành tro rồi hoàn toàn biến mất dưới tác động của hơi nóng. Tập bản thảo chất đống hóa thành ngọn lửa lớn màu cam, rồi những trang giấy tách rời nhau nhanh chóng thành tro tàn. Ngồi trước ống khói, tôi chứng kiến câu chuyện tình của Harry và Nola đang dần biến mất.
Thứ Ba ngày 3 tháng Sáu năm 1975
Hôm đó thời tiết rất xấu. Buổi chiều dần tàn trên bãi biển vắng tanh. Kể từ khi anh tới Aurora, chưa bao giờ bầu trời đen tối và hung dữ đến vậy. Đại dương gầm thét sùi bọt thịnh nộ: chắc trời sắp mưa to. Chính thời tiết xấu khiến anh có hứng ra khỏi nhà: anh bước đi trên con đường gỗ nối liền giữa sân nhà với bãi biển rồi ngồi xuống bãi cát. Quyển sổ đặt trên đầu gối, chiếc bút lăn trên trang giấy: cơn bão sắp đến gợi cho anh cảm hứng, anh đang hình thành ý tưởng cho một cuốn tiểu thuyết lớn. Trong những tuần gần đây, anh có rất nhiều ý tưởng hay cho cuốn tiểu tuyết mới, nhưng chúng vẫn còn rất lộn xộn: bắt đầu không dở nhưng anh lại kết thúc thật dở.
Từ trên cao, những giọt mưa đầu tiên rơi xuống. Mới đầu là từng giọt một, rồi bỗng dưng ào ào như trút. Anh muốn chạy đi tìm nơi trú ẩn nhưng đúng lúc đó anh thấy nàng đi tới với đôi chân trần, tay cầm xăng đan, bên bờ đại dương, nàng vừa nhảy nhót dưới mưa vừa đùa nghịch với những con sóng. Anh đứng như trời trồng ngạc nhiên và say sưa chiêm ngưỡng: nàng chạy dọc theo nét vẽ của những con sóng để lại trên cát, vừa thận trọng không để cho ướt tà váy. Một giây xao nhãng, nước dâng lên đến tận mắt cá, nàng ngạc nhiên phá lên cười.
Nàng tiến sâu thêm về phía đại dương xám, quay tròn mấy vòng rồi tiếp tục chạy ra phía đại dương mênh mông. Cứ như thể cả thế giới thuộc về nàng. Chiếc bờm tóc màu vàng đính hoa cài giữa suối tóc vàng đang bị gió thổi tung ngăn không cho những lọn tóc đập vào khuôn mặt nàng. Bây giờ trời đã mưa như trút nước. Khi phát hiện anh đứng cách khoảng chục mét, nàng sững người lại. Cảm thấy ngại ngùng vì có người nhìn, nàng kêu lên:
– Xin lỗi… em không biết có ông ở đây.
Anh thấy trái tim đập rộn ràng.
– Đừng, không cần phải xin lỗi, anh trả lời. Cứ tiếp tục đi, cứ tiếp tục đi. Đây là lần đầu tiên tôi thấy một người yêu mưa đến vậy.
Khuôn mặt nàng rạng rỡ.
– Ông cũng thích mưa à? Nàng hỏi vẻ say mê.
– Thích gì cơ?
– Mưa.
– Không… Tôi… thực ra tôi rất ghét.
Nàng nở nụ cười thiên thần.
– Làm sao lại có thể ghét mưa được nhỉ? Em chưa bao giờ thấy điều gì đẹp như thế! Hãy nhìn này! Nhìn này.
Anh ngẩng đầu lên: mưa đọng thành giọt trên mặt. Hàng triệu những đường mưa dài đang vạch ra trên không, anh quay một vòng. Nàng cũng làm như vậy. Họ cười, người ướt sủng. Cuối cùng họ đi trú mưa dưới lan can phía tiền sảnh của ngôi nhà. Anh rút một bao thuốc lá từ trong túi ra, cơn mưa chưa kịp làm ướt toàn bộ. Anh châm một điếu.
– Em có thể xin một điếu được không? Cô gái hỏi.
Anh chìa cho nàng bao thuốc lá, nàng rút một điếu. Anh đã hoàn toàn bị chinh phục.
– Có phải ông là nhà văn không? nàng hỏi.
– Vâng.
– Ông đến từ New York à?
– Vâng.
– Em muốn hỏi ông một câu: Tại sao ông lại bỏ New York để đến sống ở nơi xa xôi hẻo lánh này?
Anh cười:
– Tôi muốn thay đổi không khí.
– Em tha thiết mong muốn được đi thăm New York! Nàng nói. Em sẽ đi bộ hàng giờ liền, em sẽ xem tất cả các buổi diễn ở Broadway. Có thể em sẽ trở thành một ngôi sao. Một ngôi sao ở New York…
– Tôi xin lỗi, Harry ngắt lời, nhưng chúng ta có quen nhau không nhỉ?
Nàng lại cười, vẫn là nụ cười tuyệt diệu ấy.
– Không, nhưng ai mà chả biết ông cơ chứ. Ông là nhà văn. Chào mừng ông tới Aurora. Em tên là Nola. Nola Kellergan.
– Tôi tên là Harry Quebert.
– Em biết rồi. Ai cũng biết ông hết. Em đã nói với ông rồi mà.
Anh giơ tay ra định bắt tay chào, nhưng nàng lại tựa lên cánh tay anh, nhón chân kiểng lên hôn vào má anh.
– Em phải đi đây. Ông không được nói là em hút thuốc nhé!
– Không, tôi hứa.
– Tạm biệt nhà văn. Hi vọng chúng ta sẽ gặp lại nhau.
Nói rồi cô gái biến mất sau làn mưa dày đặc.
Anh hoàn toàn bị khuấy động. Nàng là ai? Tim đập rộn ràng, xốn xang, anh cứ đứng bất động như vậy dưới mái hiên, đến tận khi bóng đêm tràn xuống. Anh không còn cảm thấy trời mưa, cũng không cảm thấy trời tối. Anh băn khoăn tự hỏi không biết nàng bao nhiêu tuổi. Nàng còn quá trẻ, anh biết điều đó. Nhưng anh đã hoàn toàn bị chinh phục mất rồi. Tâm hồn anh đã bị nàng thắp lửa.