Ngày đang lên.
Ánh sáng màu hồng nhuộm lên những món đồ chơi mà con hai tôi đã rải khắp phòng khách. Ngựa bập bênh, mảnh ghép hình, cây thần kỳ, những chồng sách, đoàn tàu nhỏ bằng gỗ…
Mới hơn 6 giờ sáng một chút, màn đêm đã nhường chỗ cho một bầu trời xanh thẫm màu cô ban và trong vắt. Ngõ Địa ngục, chim chóc bắt đầu cất tiếng hót, và trên ban công nhà tôi, mùi hương từ cây phong lữ thảo tỏa ngào ngạt. Khi đứng dậy để tắt đèn, tôi giẫm phải con rùa bằng nhựa làm nó bắt đầu ré lên một bài đồng dao, và tôi phải mất gần một phút mới khiến được nó câm miệng. May thay, Théo mà đã ngủ thì dù có bắn pháo hoa có lẽ cũng không kéo được bé khỏi những giấc mơ. Sau khi đã mở hé cửa phòng bé để có thể nghe thấy ngay khi bé dậy, tôi mở cửa sổ để rình chờ mặt trời xuất hiện và cứ đứng như thế, tì khuỷu tay vào thành cửa sổ, hy vọng tìm thấy chút an ủi trong ánh bình minh.
Anna, em ở đâu? Hay đúng hơn bây giờ anh phải gọi em là Claire…
Những gam màu lạnh đã sáng hơn, ngả dần sang sắc tím trước khi nóng lên thành một thứ ánh sáng vô thực, phủ lên những thanh gỗ sồi lát nền một bức voan màu cam. Nhưng niềm an ủi mà anh trông đợi đã không đến.
Anh đóng cửa sổ và lấy ra rất nhiều giấy trong khay đựng của máy in. Rồi đính chúng lên tấm bảng ghim bần mà anh thường dùng để sắp xếp tài liệu khi viết tiểu thuyết.
Anh đã dành cả đêm để tìm thông tin trên mạng Internet. Trên các trang báo mạng và các thư viện kỹ thuật số, anh đã đọc hàng trăm bài báo, tải về nhiều cuốn sách, in ra cả đống ảnh. Anh cũng đã xem tất cả các chương trình tin vặt có mục đưa tin về các vụ án (Giờ tội ác, Hãy đưa bị cáo vào, Nói về vụ án với Paula Zahn…)
Bây giờ thì anh đã hiểu tại sao em muốn che giấu quá khứ.
Nếu muốn có cơ hội tìm lại được em, anh phải hiểu rõ “hồ sơ vụ án” dày hàng trăm trang liên quan đến việc em mất tích, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn.
Lúc này, không có chuyện báo cảnh sát nữa. Anh cũng không còn quan tâm đến việc tìm hiểu xem em là một nạn nhân vô tội hay một tội phạm xảo quyệt. Những khái niệm đó không còn chỗ đứng nữa. Em chỉ là cô gái anh yêu và đang mang trong mình đứa con của chúng ta, và như thế, anh muốn vận hết khả năng của mình để giữ bí mật cho em, càng lâu càng tốt. Như em đã làm được trong gần mười năm nay.
Anh vớ lấy chiếc bình Thermos bên cạnh máy tính rồi dốc ra cốc, uống hết lít cà phê thứ ba trong một đêm. Rồi anh ngồi vào chiếc ghế bành Lounge kê đối diện với tấm bảng.
Anh nhìn lại hàng chục bức ảnh mà mình đã đính lên. Bức ảnh đần tiên, ở trên cùng bên trái, là bản sao của thông báo tìm người được phát đi vài giờ sau khi em mất tích :
Một trẻ vị thành niên mất tích đáng lo ngại.
Claire, 14 tuổi
Mất tích tại Libourne từ ngày 28 tháng Năm năm 2005 Cao 1m60; người lai, mắt xanh lục, tóc đen cắt ngắn, nói tiếng Anh.
Quần jean xanh lam, áo thun trắng, ba lô thể thao màu vàng.
Nếu bạn biết được bất cứ thông tin gì hãy liên hệ :
Cảnh sát Libourne
Sở cảnh sát Bordeaux.
Bức ảnh khiến anh bị đốn ngã hoàn toàn. Chính là em và cũng là một người khác. Em được cho là mới mười bốn tuổi, nhưng người ta dễ dàng đoán em mười sáu hoặc mười bảy. Anh nhận ra nước da màu hổ phách của em, khuôn mặt rạng rỡ, những đường nét cân đối của em. Nhưng những thứ còn lại thì hoàn toàn xa lạ : vẻ tự tin giả tạo, ánh mắt khiêu khích của một cô bé hơi hoang dã, mái tóc ngắn lượn sóng cắt theo kiểu đầu vuông, đôi môi có ánh xà cừ của một cô bé đang thích làm người lớn.
Em là ai Claire Carlyle?
Anh nhắm mắt lại. Anh đã quá cả ngưỡng kiệt sức, nhưng không có ý định nghỉ ngơi. Ngược lại là khác. Trong đầu mình, anh lướt lại cuốn phim về tất cả những gì anh vừa biết được trong những giờ qua. Cuốn phim về những gì giới thông tin đại chúng thời đó gọi là “vụ án Claire Carlyle”.